Thực lòng Gabriel còn muốn giữ chân người kể chuyện – ngoại giao này thêm một thời gian nữa. Sự thành công trước đám đông trong các buổi nói chuyện của anh cứ dồn dập không dứt và một số nữ hay lui tới, đặc biệt Amaranta, cô con gái vị đại sứ Đôminicanaa, một con quỷ cái mười sáu tuổi, khi ngồi cứ cố uốn éo ngay cả cặp mông, hoặc bà Shandy, một nhà tiểu thuyết người Êcốt. Ba mươi người dự thính mở rộng nữa có mái tóc vàng hoe, toàn bộ họ đã để lộ qua điệu bộ và vẻ mặt tỏ cho anh thấy rõ ràng rằng việc tôn thờ Auguste Comte có thể được lễ tay đôi trong một căn phòng khép cửa then cài.
Phải nói rằng tỷ suất thực chứng hạ rất thấp trong các buổi nói chuyện của anh. Mặc dù ông tham tán thứ hai theo phái Cộng hòa là Victor đã khiển trách (quả thật, Gabriel, anh có cả bộ đồ ăn mứt lê, thế mà anh lại say mê cái thứ thục quỳ nhạt nhẽo), nhưng anh chỉ toàn nói về tình yêu, mỗi buổi nói chuyện anh đưa ra độc mỗi châm ngôn nặng nề (“ưu thế chủ yếu của Vĩ nhân là ở chỗ bản thân các cơ quan của ông ta là sinh vật cá thể và tập thể”, “lương tri ấy, được Descartes và Bacon ca ngợi thật công bằng như vậy, ngày nay phải ở trong tình trạng trong sáng và có hiệu lực hơn trong các tầng lớp thấp kém, căn cứ vào thiếu sót thích hợp ấy của nền văn hóa kinh viện làm họ ít có khả năng đạt tới những thói quen khó xác định”…) châm ngôn nặng nề được anh bọc đường, một câu chuyện dài lê thê về lễ cưới, hoặc bọc lưu huỳnh, phần đầu, ồ! chỉ là phần đầu của sự cởi bỏ áo quần.
Và chính tại căn phòng tử tù màu trắng của anh, nằm dài trên chiếc giường quá êm, anh đã giành những giờ phút trong ngày để chuẩn bị cho các buổi tham luận vào buổi chiều, bằng cách đọc Những mối quan hệ nguy hiểm và Cuộc đời của Marianne, Moll Flanders, Clarissa hoặc truyện về một thiếu phụ trẻ…Chốc chốc, anh rời sách, bước vài bước, đi đến bên cửa sổ đưa mắt nhìn ra ngoài trời, và rồi lại quay về nằm trên giường, miệng buông một tiếng thở dài: quả thật, mấy phụ nữ này kể cũng đáng gờm đấy! Liệu mình thực sự có thiên hướng một cuộc tình lớn không? Nhưng chỉ thoảng qua, anh lại bừng tỉnh, anh lại lao vào đọc, lại những muốn đánh điện cho bà Knight, tới bất kỳ nơi nào hiện bà đang có mặt: tôi đã dạn dày chấm Gabriel đã dạn dày chấm khi quay về bà sẽ thấy anh ta thay đổi hẳn chấm sẵn sàng đương đầu với các cô chị em trên đời.
Hỡi ôi! Nữ hoàng Victoria mất vào ngày thứ Ba 22 tháng Giêng, tại dinh thự của nữ hoàng ở Osborne, đảo Cowes. Và sự kiện mang tính chất toàn cầu này lam đảo lộn tất. Kể cả việc tập sự của Gabriel.
Ông đại biểu đã cho triệu tập toàn bộ các nhân viên trong đại sứ quán.
- Thưa các quý bà và quý ông, các bạn thân mến. Tuy nữ hoàng quá cố đã tỏ ra chẳng tán thành chút nào đất nước Brésil thân yêu của chúng ta, nhưng hôm nay đã đến lúc cần lượng thứ và tôi có ý định ta tổ chức tang lễ long trọng…
Mắt ông đại diện sầm tối khi phát biểu những lời vừa rồi. Sự quyến luyến này làm bùng lên cơn phẫn nộ của ông Victor, vị tham tán thứ hai theo phái Cộng hòa, ông ta ghé sát vào Gabriel, nắm chặt cánh tay anh tưởng chừng như muốn bẻ gãy:
- Anh có biết cây có nhựa cao su, cây cao su, là cây đem lại của cải lớn cho vùng Amazone không?
- Có, - Gabriel đáp.
- Anh có biết cây cao su của chúng tôi chỉ phát triển trong điều kiện hoang dã, mọi thí nghiệm gây trồng đều bị thất bại, anh biết chứ? Không à? Đấy là tâm hồn của Brésil, anh Gabriel, nó không chịu bị thuần dưỡng. Thế mà nữ hoàng Victoria đã ra lệnh lấy cắp các hạt cây cao su của chúng tôi, anh nghe rõ chứ, anh Gabriel, lấy cắp, nữ hoàng Victoria là một mụ kẻ cắp bợm nhất trong tất cả lịch sử các vụ trộm cắp, và tên găngxtơ được trao nhiệm vụ thấp hèn ấy là Wickham, Wickham, anh hãy nhớ tên của gã găngxtơ đó. Gã đã lấy cắp của Brésil 70.000 hạt. Và nhờ London các hạt nọ đã lấy chót lọt. Và chúng được đem trưng bày ở vườn bách thảo tại Kew. Và ông đại diện của chúng tôi đã cảm ơn nữ hoàng vì đã mời ông ta đến thăm cuộc trưng bày ấy. Anh nghe rõ chứ, anh Gabriel, ông ta đã CẢ-M Ơ-N nữ hoàng. Sau đó các hạt được chuyển đến Singapour và Ceylan là những khu vực nhiệt đới nhưng chịu khuất phục, không như Brésil đâu, anh Gabriel, và những hạt cây cao su của chúng tôi hiện đang nảy mầm mọc tại đấy, anh Gabriel, như cây lúa ấy, như cà chua, đậu Hà Lan, đáng hổ thẹn thay cho họ, nhưng anh Gabriel này, nếu tôi có thể mạo muội tự cho phép được phát biểu thì nước Cộng hòa chúng tôi đang ở trong tình trạng rắm rối, nó làm cái quái gì ở Amazone nếu các cây châu Á cạnh tranh nó? Một nước cộng hòa trẻ tuổi biết làm gì với một khu rừng rộng mênh mông chẳng có cây cối hữu ích cho một việc gì đó?
Gabriel ngây người phát hiện đồng thời cùng một lúc những khía cạnh nhỏ mọn của các nữ hoàng và sự phát triển của khoa chính trị địa lý. Bắt cóc các khu rừng, di chuyển hệ thực vật từ đầu hành tinh này sang đầu kia cứ như thể người ta bứng cây thược dược ở trong vườn… Quả thật các đế quốc coi trời bằng vung.
Tắm rửa, kỳ cọ xà phòng, cạo râu, xoa phấn bột tan, ăn uống chắc dạ (xoài), mấy lát thịt lợn muối, đậu đỏ) ăn mặc xong xuôi, bộ đồ màu đen của đêm tối đã bị màu xám của ánh sáng ban ngày đẩy lùi và chuẩn bị đi găng tay đã được xỏ, áo khoác choàng trên đôi xương vai, vào lúc tám giờ mười lăm, tám giờ mười sáu, mặc dù buổi viếng đến mười một giờ mới bắt đầu, ta đi thôi, ông đại biện bảo.
- Ông nghĩ rằng đã tới giờ rồi à? – Victor hỏi.
- Rồi ông sẽ biết một cuộc đàm thoại thực sự, thoạt đầu phải được hòa nhập vào không khí của thời gian. Hơn nữa, trên đường đi có biết bao chuyện có thể xảy ra, không ai, ngay dù đó là một người theo phái Cộng hòa, được phép bắt một ông vua phải ngóng trông đợi.
Chúng tôi lênh đênh trôi giạt giữa London như đang bơi giữa Đại Tây Dương, lúc đó thì giạt sang phía trái về hướng Aldwych và Waterloo, lúc thì sang phải, néo căng buồm theo hướng Hampstead và Công viên Regena nhưng chẳng bao giờ, chẳng bao giờ theo đúng chiều gió, chẳng bao giờ lao thẳng về phía trước, chẳng bao giờ tạt về phía cảng – Điện Buckingham, nơi vua Edward VII đang đợi. Ông đại biện đã quên khuấy mất chúng tôi, ông lái con tàu theo các màu sắc của đất nước ông, xanh lơ và vàng, biển cả và mặt trời, lông vũ và vàng kim, êm dịu và giàu sang, ông bị lắc lư và ngả nghiêng trên chiếc xe ngựa bốn bánh do bốn con ngựa trắng kéo, đỏm dáng vì lai giống, trật tự và tiến bộ. Chốc chốc, đến ngã tư, xà ích quay người lại, dạ bây giờ ta đi đâu ạ?
- Mấy giờ rồi?
- Chín rưỡi ạ.
- Nếu vậy ta đi tiếp đi. Nhà vua phải nhận rõ rằng ta yêu quý London như Người. Chính qua những sự tế nhị ấy mà người ta nhận biết các nhà ngoại giao đích thực. Chính nhờ vậy, chứ không phải bằng sách nào khác, mà người ta có thể thắt chặt những mối quan hệ bạn bè với nước Anh. Mà này, tôi sẽ chẳng sửng sốt ngạc nhiên nếu nhà vua trao đổi với tôi những câu hỏi tin cậy. Nhà vua đã gặp tôi tại buổi lễ tang, nhà vua đã đánh giá cao cách xử sự tế nhị của tôi là không gây chuyện bực mình cho mẫu hậu già nua của nhà vua với các chuyện hạt giống cây cao su đó, nhà vua biết rõ tôi khâm phục nước Anh ra sao, tôi chẳng có tham vọng gì ở đây, tôi chẳng thuộc đảng phái nào, do đó các lời khuyên của tôi sẽ hữu ích cho chính sách đối nội của nhà vua. Nhà vua sẽ bảo tôi: qua ngài đến ta, ngài đại sư thân mến (nhà vua sẽ gọi tôi là ngài đại sứ, quyền hành cao như nhà vua, nhà vua không phân biệt rõ thang cấp bậc ngoại giao của chúng ta), nào, ngài đại sứ thân mến, ngài cung cấp cho ta những tin tức trong vương quốc của ta đi, ta ít khi ra ngoài… Tôi sẽ tâu với nhà vua: Tâu Đức vua, thần dân của Đức vua sống yên ổn, nhưng ăn mặc hơi buồn, phải đội mũ rơm đáy bằng thay vì mũ hình quả dưa…
Buổi sáng đó ông đại biện đã mơ như vậy đấy, mơ là được kết bạn với nhà vua Anh quốc và với thế giới. Ông lênh đênh giữa trời mưa bụi của nước Anh, tay phải đặt trên đỉnh chiếc mũ hai mũi đen của ông, chiếc mũ mà ông thường cất giơ lên để đáp lại những tiếng hoan hô của khách bộ hành, những tiếng hoan hô theo kiểu Anh, lễ độ, ơ kìa, một vị tướng, vào một buổi sớm sủa thế này. Còn tay kia thọc trong áo gilê, ve vuốt lớp giấy vêlanh mịn ghi lại ký ức rất ngắn ông đã tự mình nghiền ngẫm thảo đêm qua và nó được mở đầu, những câu đầu là, để xem nào, à! phải rồi “nhựa cao su, tâu Đức vua, hẳn Đức vua cũng đã rõ, đó là mẫu của Brésil…”
- Ta đã biết rõ,- nhà vua sẽ bảo,- ta đã có những biện pháp, thế giới khá rộng lớn để không phải giẫm đạp nó, đúng không nào?
Reinaldo Aristides Lima nghĩ tới mẹ mình, bà quả phụ già Dona Betanha, sinh tại Ilheus: đáng tiếc là mẹ mình không có đây, không được thấy ông từ Điện Buckingham bước ra giữa ánh quang vinh, ông, vị cứu tinh của các khu rừng Amazone, người bảo vệ vĩ đại của cao su. Mưa đã tạnh, ông sẽ mời bà lên chiếc xe bốn ngựa kéo của ông, bất chấp nghi lễ, thật đáng tiếc là mẹ mình lại ở quá xa như vậy. Chủ nhật nào ông cũng viết thư cho mẹ, những bức thư văn vẻ hơn của Stendhal (một nhà ngoại giao quèn thủ cựu) và Chateaubriand (một nhà ngoại giao tồi tệ và một kẻ chuẩn bị kỹ cho cuộc chiến)… Mười rưỡi đã điểm, vậy mà ông còn thơ thẩn ở chân cầu Tower, say sưa do chất men từ các điều mơ ước bốc ngấm: Chặng đường đến cung điện phải quất ngựa phi nước đại.
Ngoài phòng đợi, có hai bạn đồng sự ngoại giao, người Italia và người Thụy Sĩ, đang đợi được hẹn trước riêng từng người: mười hai giờ mười lăm và mười hai giờ ba mươi. Reinaldo Aristide Lima thấy lòng mình trĩu buồn. Ông cứ những tưởng rằng vua Eduard, do ngờ ngợ thấy một tình bạn đang nảy sinh, nên mời ông dự buổi khai vị buổi ăn trưa, có khi cả bữa chiều nữa: những lần đầu, phải dành cho tình bạn có nhiều thời gian, chất mùn thời gian cần thiết để nó bám rễ. Hai cuộc hẹn gặp mặt Italia-Thụy Sĩ này chỉ là một sự nhầm lẫn, lễ tân sẽ nhanh chóng được sửa đổi lại, xin thành thật xin lỗi các quý ngài đại sứ, xin các quý ngài lui lại cho tới tuần sau, Đức vua đang bận tiếp một người bạn Brésil. Và lại, nếu tính đến các dữ kiện khách quan, hiển nhiên thì nước Brésil rộng lớn hơn nước Italia hai chục lần, người đại diện của Brésil sẽ được lưu lại bên nhà vua với thời gian dài gấp hai chục lần, như vậy mình sẽ rời khỏi Điện Buckingham vào lúc năm giờ chiều, ông đại sứ nghĩ thầm. Thôi được, ít ra cũng vào lúc bốn giờ… Hy vọng rằng tay xà ích của mình sẽ đợi.
Và trong khi Reinaldo Aristides lẩm bẩm như vậy, một quan chức lễ tân ra mời ông đi theo ông ta, ông ta mở rộng hai cánh cửa, vua Eduard đang ngự tại đó. Nhà vua ra hiệu mời ông (rất nhiệt tình, nhà ngoại giao nghĩ). Mời ta đấy, nào thì vào.
- Tâu Đức vua, nhựa cao su là máu của Brésil…
- Ông cậu Pedro của ngài khỏe không?- Nhà vua ngắt lời.
Mười một giờ mười lăm đã điểm. Viên quan chức lễ tân bước vào. Cuộc trao đổi đã kết thúc. Một cuộc tiếp xúc hữu ích.- Reinaldo Aristides nhắc lại khi kể cho chúng tôi nghe về cuộc hội kiến. Đức vua và tôi, chúng tôi đã tìm cách hiểu rõ nhau hơn. Đúng, tôi rất lạc quan về những diễn biến tiếp theo… Ông bảo xà ích để ông xuống một khu vườn kề ngay trên đường đi, vườn St-James (đưa xe về trước đi, tôi sẽ đi bộ về sau, qua cuộc trao đổi vừa rồi, tôi thấy cần phải rút ra một số kết luận, đề ra một số quyết định…). Vịt lấn chiếm các bãi cỏ như mọi ngày. Chẳng mấy chốc, ông đại biện bị bao vây, những con hung hăng nhất, những con ú vai giống vịt Island, màu đen và màu trắng, và một con thuộc giống vịt trời ngực đen, đầu hung hung đỏ mổ ống quần ông. Một cô bé đeo kính gọng vuông hỏi ông có phải là lãnh tụ không. Ông đại biện đành phải tháo lui qua phố Haymarket và phố Regent.
Ông đại biện giữ đến cùng, đến tận lúc chết một cách bi thảm, khuôn mặt của những con người chắc chắn, trong lòng ngời rạng trước Niềm Hy vọng. Ngay cả vào một tháng sau đó, sau cuộc viếng thăm ông bộ trưởng Bộ ngoại giao, đến muộn 121 phút (Ồ! Cái Viện này! ở nước các ngài, các ngài không có Nghị viện, đúng không ạ?), ông bộ trưởng dành cho Reinaldo Aristides có chút ít thời gian.
- Có chuyện gì vậy, ông đại sứ thân mến?
- Thưa ông bộ trưởng, nhựa cao su là máu của Brésil. Thế mà bọn buôn lậu, bằng sự chính xác một cách khoa học tôi buộc lòng phải chỉ đích danh đó là những người Anh, trong thời gian gần đây đang lấy cách những hạt giống cây cao su…
- Xin cảm ơn sự thẳng thắn của ông, ông đại sứ thân mến, tôi sẽ trao đổi vấn đề này với người đồng nghiệp của tôi phụ trách thuế quan và một lần nữa xin cảm ơn cách nói chuyện chân thật này. Tôi muốn được chứng kiến niềm tin lẫn nhau nảy nở giữa hai nước lớn chúng ta… Một lần nữa xin cảm ơn ông và chúc ông một ngày tốt lành.
Ánh nắng ngoài trời nhợt nhạt. Mặt trời rè rặt rọi những tia nắng nhợt yếu. Lần này ông đại biên quay về theo hướng Tây. Một khu rừng bị tàn phá thì sẽ ra sao? ông đại biện tự hỏi. Nghĩ tới vùng Amazone, ông thầm nhủ rằng vua Eduard VII đã giải quyết đúng, quả thật Công viên Hyde có cây cối mọc thưa thớt.
Ông đại biện bị tuyệt vọng? Ông chẳng hề bị tuyệt vọng. Các nhà ngoại giao giống hệt các nhà tiểu thuyết, họ miệt mài, miệt mài, bám riết các giấc mơ. Để chặn đứng chứng xuất huyết của Brésil, ông đại biện lầm rầm hát, ông đại biện xoa tay, ông đại biện đã có một giải pháp. Ông đứng bật dậy. Mắt ông rực sáng. Những vết đốm trên tay ông, những mảng đỏ trên má đã biến sạch, đột ngột bị sức hồi xuân này liếm hết.
- Gabriel, anh bạn trẻ người Pháp thân mến, chúng ta sẽ lao vào một cuộc thương lượng! Tôi hài lòng về anh. Anh sẽ biết in vivo thế nào là ngoại giao. Tất cả đều phụ thuộc vào bản khởi thảo. Anh có biết rằng từ ngữ đúng dùng đúng lúc có thể tránh thoát được một cuộc chiến tranh không? Anh có biết rằng những dấu phẩy thích đáng làm những lục địa xích lại gần nhau không? Tin tôi, tôi chẳng có ý gì phản đối các nhà văn, nhưng những văn bản của riêng chúng tôi dẫu sao cũng hữu ích hơn.
“Do sự phát triển các phương tiện giao thông đang gây hiểm họa cho những nét thực vật độc đáo của các quốc gia, do giới thực vật là, đối với loài người, chỗ ẩn náu êm dịu cuối cùng giữa đại dương các cuộc chiến, do chỗ, nếu không có những khung cảnh các mùa thi sẽ chẳng có niềm tin vững chắc vào cuộc sống…”
Tòa đại sứ bắt tay vào soạn thảo lại các văn bản.
- Tốt lắm, với tất cả những cái do thế này, do thế kia, ta đề xuất gì đây?
- Khoan nào, khoan khoan nào, ý tưởng chín muồi dần, các Bộ ngoại giao cần phải có thời gian.
Chính vì vậy, vào một đêm khuya khắt (vì chỉ những lúc rất mệt mỏi mới làm nảy sinh những ý tưởng lớn trong óc các nhà ngoại giao. Maria Clementina sắc thuốc bằng các rễ cây mà những bà góa ở sertão uống vào các đêm trăng tròn để thức tỉnh nỗi khát khao của những đức ông chồng đã quá cố), chính vì vậy, ông đại biện đi đi lại lại quanh chỗ chúng tôi, những biên tập viên, miệng chậm rãi đưa ra bản dự thảo Hội nghị quốc tế về sự hài hòa thực vật thế giới. Cả tòa đại sứ dội lên tiếng hoan hô. Ngay cả nhân vật bạch tạng cũng vỗ tay. Maria đem tới rượu sâm banh và caipirinhas.
Khi nghĩ tới những người bạn ở cùng lớp dự bị đại học sư phạm với mình, Gabriel thầm nhủ, chắc vào giờ này các cu cậu đang lao vào miệt mài ôn tập, trong khi đó mình, không hề tỏ ra khiêm tốn giả tạo, mình đang bận rộn với những công việc mang tầm cỡ thế giới…
Mùa xuân đã tới, kéo theo cả mùa giao du ăn chơi của giới thượng lưu. Ông đại biện tất bật tăng số lượng các bữa ăn tối, buổi cốc tay, những lễ khánh thành.
- Tôi xới đất lên, anh Gabriel, tôi chuẩn bị đất, tôi tải nó. Khi được sự thỏa thận của Rio, hấp! tôi gieo hạt và anh sẽ thấy vụ mùa ra sao.
Qua suốt các cuộc tiếp xúc ấy, ông đại biện gọi sự cám dỗ, ông rò rỉ những mẩu tin.
- Thật không thể không ngạc nhiên là Rio lại bỏ lỡ mùa xuân mà chẳng tung ra một đề xuất quan trong…
- Hoàn toàn với tư cách cá nhân, tôi rất vui mừng thông báo cho anh biết rằng trong thời gian này các vị cầm quyền của tôi đã bắt đầu nhúc nhích.
Và vị đại sứ đồng nghiệp của một nước phương Tây hoặc chàng dân sự trẻ tuổi phục dịch Bộ Ngoại giao Anh gật gù:
- Châu Âu già cỗi rất mong đợi sức sống quan trọng của Brésil…
Và chúng tôi quay về phố Curjon với tâm trạng vui vẻ.
- Đất mùn tốt lắm! Chà! Mong rằng vụ gieo hạt không quá chậm trễ!
Sáng nay chàng tùy viên lễ tân và cô thư ký riêng cũng đi phân phát các giấy mời, những tấm bìa brixtôn, những tấm thiếp bẻ gập góc, vạch chương trình trong ngày, thời gian của mỗi nơi dừng chân. Và cuộc việt dã bắt đầu, từ các phòng khách tới các tòa lâu đài, từ Kensington tới Belgravia, từ các nụ cười đến những chiếc hôn tay. Đôi lúc, để kéo gỡ lại một sự chậm trễ, tôi đã lờ bỏ qua một chặng đường.
- Anh Gabriel, anh làm ăn ra sao thế?- Ông đại biện kêu to.- Thế theo anh ta phải gieo trồng các ý tưởng bằng cách nào, chúng ta phải cày xới tất cả mọi cánh đồng.
Và thế là, vào một buổi chiều tháng Sáu đẹp trời, người ta thấy chiếc xe bốn ngựa của tòa đại sứ. Trật tự và Tiến bộ do bốn ngựa trắng kéo lăn bánh về phía Richmond. Anh xà ích luồn tấm thiếp mời qua hàng rào chấn song sắt của vườn bách thảo ở Kew.
Joseph Hooker,
Director of the Royal Botanic Gardens
And John Collins
Curator of the Pharmaceutical Society’s Museum have
the pleasure and the honour to invite
His Excellency Ambassador of Brazil, to the exhibition
of Ceylan new production.
Trong nhà kính, người ta đã bắt đầu đọc các bài diễn văn. Trên bục cao, một nhà xác đang phát biểu. Nhà Xác đỏ mặt, có các túm lông trên má, mặc áo vét đen, quần Eton màu xám và tay cầm mấy tờ giấy ghi lời phát biểu, Ladies and Gentlement … Từ ngoài cửa, người ta chỉ nghe thấy những tiếng ro ro nổi ngắt mấy nhấn cao giọng, Ladies and Gentlement… Đế quốc tự hào… không gây chán ghét ở Saint Bible… Noé chỉ nghĩ tới hệ động vật…
Đột nhiên, những tiếng vỗ tay dội vang và người ta quay về phía chúng tôi, người ta kéo chúng tôi về phía diễn đàn, tại đây Nhà Xác… chà! chà! đám đông kêu lên, tại đây Nhà Xác ôm hôn chúng tôi, thay mặt Đức vua, tôi xin được qua các vị kính chào hệ thực vật vô cùng phong phú của vùng nhiệt đới… Nước Brésil muôn năm!
Và Nhà Xác vỗ tay. Bốn người hầu bưng ra một chiếc khay đặt một khối hình cầu rất lớn màu nhạt.
- Cao su đấy, anh bạn Gabriel, - ông đại biện bóp mạnh vai tôi và khẽ bảo, - cao su của chúng tôi đấy.
Nhà Xác yêu cầu mọi người giữ trật tự.
- Thưa Ngài, thưa các quý bà và các quý ông, đây là lứa cao su đầu tiên ở châu Á, tôi vui mừng được thông báo các quý vị rằng đồn điền của chúng ta tại Ceylan và Singapour đã hoàn toàn thành công. Bây giờ, một sự việc hiển nhiên cho thấy là các cây cao su ưa thích phương Đông. Như vậy, các vườn bách thảo của chúng ta muôn năm và nước Brésil muôn năm. Brésil đã ân cần trao cho chúng ta hạt giống và tỏ ra rất fairplay trong vụ này. Đế quốc muôn năm! Nước Anh muôn năm! Đức vua muôn năm!
Và, trước khi tiếng vỗ tay lắng dịu, thánh ca God save nổi lên dưới nhà kính, dội vang và tắt dần giữa các hàng cây trải rộng mênh mông. Không thấy ông đại biện đâu nữa. Gabriel lao ngay ra ngoài. Những người gác chỉ mách cho anh. Quý Ngài đã đi ngang qua đây. Quý Ngài đi về hướng Tây. Quý Ngài đi theo lối Hawthorn. Tôi cho rằng quý Ngài đã leo lên chùa. Gabriel vùng chạy, mắt ngước nhìn lên cao. Trên đỉnh tháp Trung Hoa, một bóng người trèo bước qua thành ban công.
Đường rơi của ông đại biện rất thuần khiết, một quỹ đạo hoàn hảo, gió đã đẩy ông tách xa chùa. Ông không bị đập người vào những lầu dưới, ông bị giạt về phía các cây lớn. Tôi hối hận suốt một thời gian dài, lẽ ra chúng tôi nên căng chăn, trải rơm, làm yếu bớt, làm dịu giảm sự va chạm, ông lơ lửng ở trên không chứ chưa rơi xuống đất, ông kéo dài thời gian. Ông đi ngược trở lại những quãng đường của mình. Trên cao chót vót, Niềm Quang vinh, ông trôi nổi giữa ánh mặt trời, màu lục và vàng óng, được lịch sử phong là kỵ sĩ, người chủ của công trình Hội nghị quốc tế về sự hài hòa thực vật thế giới, và rồi tiếp đến, thấp hơn nữa, mỗi lúc một thấp dần theo sức nặng đè trên người, đấy là những hình ảnh cay đắng hơn, cuộc đời ngoại giao vô nghĩa, những bước trung gian mỏng mảnh, những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, những bức tranh sinh động của ông Reinaldo Aristides Lima say đắm vào tuổi năm mươi, ham chơi trò chó săn đuổi thỏ, muốn trở thành đứa con trai sống nơi đất khách quê người quá thương yêu con người, người ta đoán ông đang mỉm cười hoặc cau mày tùy thuộc các lớp ký ức lúc này vụt lướt qua mỗi lúc một nhanh như con tàu tốc hành lướt qua các nhà ga cuộc đời của chính bản thân ông. Cái chết đã ập đến với ông vào lúc ông còn trẻ, đúng, nó là tuổi trẻ của ông, một cảm giác tươi trẻ tàn nhẫn, một hương vị thoáng qua của đất ấm trên khuôn mặt bẹp dúm (cũng may là cây cối vừa được tưới nước, trời quá nóng). Ông nằm giữa đám cây thạch thảo se khô. Đám đông người Anh liền nghĩ ngay: chà, một ông thất tình.