Sáng ngày 31 tháng Chạp, Gabriel tỉnh giấc vì một bài hát nào đó. Nhịp điệu ê a, rồi đột nhiên nhấn lệch, một sự chuyển giọng khó tin về nguyên âm, vài âm gió bị lướt vội, nhưng tiếng của bãi biển dưới bước chân trần, một cảm giác pha trộn giữa mặt trời với nỗi buồn nhớ mặt trời.
– Đây là tiếng Brésil. - Gabriel thầm bảo
Và anh nhảy ra khỏi giường. Ông đại sứ nói oang oang. Coma vai? Chúc mừng lễ Giáng sinh. Chuyến đi của anh thế nào? Và các mối tình của anh? Có tin gì từ Rio?
Gabriel khẩn trương mặc vội áo quần, có tiếng gõ cửa phòng anh. Anh chàng bạch tạng cất tiếng bảo:
- Ngài Reinaldo Aristides đang đợi anh.
Gabriel thắt xong cravat và ngắm soi kỹ vào chiếc gương nhỏ, chẳng rõ mình đã nghiêm chính đúng mức chưa? Nhưng anh không hề có chuẩn mực nào để so sánh. Một nhà thức chứng trông như thế nào nhỉ? Lẽ ra trước đây mình đã phải quan tâm đến chuyện này. Thôi mặc xác. Và thế là anh chạy bộ xuống thang.
Căn phòng phủ nhung màu đỏ sẫm gần như lẩn dưới lớp tranh vẽ. Vô vàn tranh vẽ cảnh nhiệt đới. Gabriel ngắm kỹ những cây to tướng, những ngôi nhà thờ rườm rà với cột và thiên thần nhỏ, những khu chợ chen chúc đầy người da đen, những người đẹp với nước da quá bột bắt gặp vào buổi dạo lúc chiều tà, trong khi đó phía xa xa, hai chiếc thuyền buồm quay về cảng...
– Nước Brésil kính chào, - một giọng rất êm dịu từ trong bóng tối dội ra (Ông đại diện Reinaldo Aristides Lima không thích ánh sáng).
Gabriel bước lên, miệng không chủ định lắp bắp thốt lên những từ anh cho là đúng nghi thức, xin kính chào, thưa ngài, xin cho phép tôi, tôi có ý muốn nói nước Pháp, xin kính chào, thưa ngài... Một khuôn mặt như mõm cá lớn mệt mỏi, ngời sáng do nụ cười rất đon đả lộ rõ dần. Kỳ lạ, chính mái tóc đen, quá đen làm bật sáng chứng hói của ông ta. Mấy ngón tay ông mũm mĩm đang mân mê một thanh đoản kiếm nhỏ sáng loáng. Ông ta nói tiếng Pháp hoàn hảo, thứ tiếng Pháp được phủ vải kỹ chỉ mang ra dùng vào những dịp cầu hôn, những buổi đón tiếp ở Học viện.
- Ông Orsenna, niềm tin triết học của ông hẳn rất vững chắc nên ông đã nhận lời đương đầu với những khắc nghiệt của khí hậu đó để đem lại cho chúng tôi lời hay ý đẹp. Một thái độ dũng cảm nhường ấy khiến tôi phải thẳng thắn: tôi đứng về phía kia. Tôi thú thật với ông rằng, sau khi Dom Pedro II thất thủ, tôi vẫn chờ đợi, hy vọng hoàng đế sẽ quay về. Do bản chất phù du, tôi tin những người Cộng hòa. Nhưng trật tự mới cứ ì ra, trách nhiệm công việc buộc tôi phải học hỏi những cách thức cách tân, có thể rất tốt, nhìn nhận thế giới. Mong ông nhận cho lòng biết ơn của tôi.
Ông ta đứng dậy, chìa tay cho tôi:
- Chúng ta có thể bắt đầu học buổi đầu tiên, sau một giờ nữa. Ông thấy có tiện không?
Và khi tiễn Gabriel, ông ta dừng lại trước một tủ kính.
- Đây là bộ sưu tập của tôi, ông có quan tâm đến dao rọc giấy không, ông Orsenna?
Chắc bị ảnh hưởng bởi bầu không khí ngoại giao của nơi đây, Gabriel đáp rằng một độc giả như anh thì không có thái độ thờ ơ được.
Do đó ông đại diện đã ôm hôn tôi vào lòng. Mãi sau này Gabriel đã hiểu rõ ý nghĩa của cái ôm hôn đó. Ở châu Mỹ-Latin, đấy chỉ là một biểu hiện lịch sự đơn thuần. Nhưng vào cái ngày 31 tháng Chạp năm 1900, anh cứ tưởng rằng đấy là sự trìu mến.
Phải hiểu rõ tâm trạng của anh. Bị tước bỏ mất gia đình Knight, anh hoàn toàn cảm thấy cô đơn giữa London, thiếu thốn mọi sự nhiệt tình. Thái độ của anh đối với Reinaldo Aristides Lima đại loại là một sự tỏ tình với Brésil, với các nhà ngoại giao bị lưu đày, với nhung đỏ. Ông đại sứ thầm nhủ rằng nhà cộng hòa trẻ, rất trẻ này quả là khá dễ thương.
Tình bạn của họ bắt đầu từ buổi sáng đó, từ buổi nhầm lẫn đó. Một tình bạn mà mấy ngày sau Gabriel đã có bằng chứng, khi được mời đến đúng vào rạng sáng buổi lễ, như mọi ngày thứ Hai, một thợ cắt tóc tới cắt mái tóc đen, chẳng bao giờ đen hẳn của một người sáu chục tuổi – có khi còn hơn thế nữa! - Ông Reinaldo (tôi mời anh tới chỗ tôi, anh Gabriel). Một tình bạn duy trì được đúng 3 tháng 9 ngày, tới ngày xảy ra cái chết bi thảm, mà hỡi ôi, dầu sao tôi cũng nên kể lại.
Tòa đại sứ đại loại là một nhà trọ gia đình. Và cũng như trong nhà trọ mang tính chất gia đình, nó bao trùm đồng thời tình cảm lưu đày, màu sắc những đồ gỗ thuê mượn hoặc mua lại của mấy vị mới rút đã nhượng, mùi nhà bếp tường ám hơi nước xốt. Tật sính những điều đơm đặt, niềm say mê cuộc sống bên ngoài, một sự mong đợi thư từ với vẻ hơi thiếu kín đáo, vài ước mơ thăng chức tan vào sự nhẫn nhục chung, cảm giác sống với tập đăng quảng cáo, giữa những con người kỳ dị (một cô gái say mê thể thao đã quá lứa, một gã độc thân chai dạn, một bà dâm đãng vợ một vị tham tán, nhân viên mật mã thu thập tư liệu để viết cuốn tiểu thuyết sắp tới...) và nhất là, hai câu hỏi: đây có thực sự là một gia đình không? Đây có đúng là một cuộc sống thực không?
Trong ngôi nhà trọ ở phố Curzon này, khu trú tại London, phần còn lại là Brésil, thiếu vắng người chủ gia đình. Ông Rio muốn bộc lộ nỗi bất hòa của ông với nữa hoàng Victoria về vụ việc này hoặc vụ việc kia của thế giới? Hoặc giả đạo lý nhiệt đới mách bảo bà hoãn lại việc bổ nhiệm tế nhị này để sau sẽ xét? Dẫu sao ông đại sứ nước Cộng hòa Brésil tại Anh quốc vẫn chưa có mặt ở đây. Đứng đầu nhà trọ mang tính chất gia đình chỉ là một vị đại biện. Ông Reinaldo Aristides Lima rất nhút nhát và biết rất nhiều ngoại ngữ, để khỏi phải ngồi vào chiếc bàn làm việc nặng nề bằng gụ dành cho ông ta, ông ta thầm nhủ, người đại diện toàn quyền duy nhất, nên đã ngồi làm việc tại chiếc bàn đồ thờ nhỏ xíu chất đống các hồ sơ kê lọt vào giữa cửa số và chiếc tủ kính.
- Nếu cuối cùng ông là đại sứ thì sao? – Sau này Gabriel hỏi khi hai người đã quen thân nhau.
- Lúc đó tôi sẽ chuyển chỗ. Nhưng rất ít có khả năng. Đấy là hai số phận khác nhau. Tin tôi, anh Gabriel, tôi chẳng phàn nàn gì. Mỗi người có một độ cao. Và tôi đã hơn bao giờ hết, vươn gần sát đỉnh cao.
Quả đúng vậy, bàn đồ thờ của ông ta mấp mé chiếc bàn bỏ trống.
- Đây là nơi trao tặng huân chương – anh chàng bạch tạng thầm thì bảo Gabriel khi dẫn anh tới phòng khách danh dự.
Cả sứ quán đang đợi, ngồi theo cấp bậc, từ Reinaldo Aristides đến chị nấu ăn Maria, bỏ ngang qua tham tán thứ nhất Gabeira húng hắng ho trong chiếc khăn mùi soa lụa, tham tán thứ hai Victor Neves, một con người rất dữ dội, tùy viên làm theo hợp đồng. Xavier Guimaraes, bác làm vườn kiêm quản gia Eduard, người chẳng liên quan gì tới đất nước Brésil, mọi người ngồi ngay ngắn trên những chiếc ghế thếp vàng dành cho các buổi nghi lễ.
- Ông Orsenna, chúng tôi xin nghe ông, ông mấp mé chức đại sứ Lima nói và giơ tay khuơ theo động tác của một nhạc trưởng.
Gabriel hắng giọng và nhận thấy không một thính giả nào của anh được báo là phải ghi chép, nên anh liền tuôn luôn:
- Isidore, Auguste, Marie, Francois-Xavier Comte, sinh ngày 13 tháng Giêng năm 1798 tại Montpellier, trong một gia đình theo đạo thiên chúa và phái quân chủ (ông đại biện gật đầu). Vào năm 1814, được Daniel Encontre, giáo sư toán học siêu việt và chủ nhiệm khoa thần học đạo Tin Lành ở Montauban chuẩn bị nên ông đã đậu Trường đại học bách khoa. Trường này bị coi là theo phái Cộng hòa và Bonaparte (tốt lắm, ông đại diện nói). Auguste Comte do đó đã dự định xây dựng một trường bách khoa mới tại Hợp Chủng Quốc Mỹ, vì, trong tư tưởng của ông, những người dân chủ cần toán học (nhưng chúng ta có cần nền dân chủ không? Ông đại diện khẽ thì thầm). Song ý tưởng đó không thành. May thay cho lịch sử triết học. Vì nhờ vậy Auguste Comte bắt đầu xây dựng hệ thống của ông. Ông bác bỏ mọi sự tuyệt đối, tổng hợp của Montesqieu, d’ Almbert va Rousseau, thuyết thực chứng...
Do thận trọng về mặt khoa học, Gabriel quyết định nhanh chóng lảng xa những giai thoại tiểu sử mà chỉ giữ những nét tư tưởng thuần túy. Sau mười lăm phút ngồi nghe, vị tham tán thứ nhất nổi con ho dữ dội nên đã rời khỏi phòng khác. Một lát sau Maria lẩn mất không phải là không có lý do, vào một buổi sáng ngày 31 tháng Chạp, một chị nấu ăn có tất cả mọi quyền hành. Số cử tọa còn lại ngồi ngủ, kín đáo, trang nghiêm, như những nhà ngoại giao đã biết cách xử thế với chuyện đó. Duy nhất có tùy viên thứ hai Victor và vị đại biện vẫn dán mắt vào nhà hùng biện.
Đúng mười một giờ, ông đại biện giơ tay lên. Gabriel dừng lại giữa câu:
- Sự phân biệt nêu ở trên đủ để giải thích tại sao đến lúc gần như cả thế giới đều tin rằng cần phải bắt nguồn từ cái chung và ngược lại ngày nay người ta cần phải bắt nguồn…
- Tôi cảm ơn ông, vị đại biện nói, chúng tôi cảm ơn ông. Ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục. Cùng một địa điểm, cùng một giờ. Nhưng tôi không rõ tất cả những điều này có liên quan gì tới đất nước của chúng tôi, nước Brésil.
Sau buổi lên lớp thảm họa này, ta cần phải hình dung rõ căn phòng trắng đáng buồn của Gabriel, những cuốn sách khó tiêu đáng buồn của Auguste Comte xếp trên chiếc giường khung đồng, những trang giấy chuẩn bị bài đáng buồn nằm ngổn ngang trên chiếc bàn lung lay tuy đã tìm mọi cách chêm chêm, chiếc cửa số cánh sập đáng buồn, Saint-Sylveste năm 1900 buồn chán đáng buồn.
Có tiếng gõ cửa.
Không đợi Gabriel mở cửa, tham tán thứ hai Victor bước vào. Miệng nhoẻn cười, cặp kính tròn, nước da tái nhợt, tóc đen nháy như than, đường ngôi chải thẳng tấp ở giữa mái tóc. Ông ta chạy bổ tới bên nhà hùng biện và nắm tay anh:
- Tôi cảm ơn ông, tôi cảm ơn ông. Đấy chính là những tư tưởng nước Brésil mới đang cần.
Victor nắm chặt tay phải, đấm đấm vào không trung: đây là những quan điểm có thể từ đó xây dựng một nước cộng hòa. Gabriel thở dài:
- Tôi rất xúc động. Nhưng tôi đã thấy kết quả rồi đấy: thất bại hoàn toàn.
- Ông mong đợi ở điều gì khác? Giới hạn ngoại giao nước tôi đã bị những năm tháng sống dưới thời đế quốc làm cho bại hoại.
Gabriel lại ngồi xuống giường và lắc đầu:
- Không phải chuyện đó, tôi đã làm cho họ chán ngấy. Họ ngáp, mọi người hoặc hầu như tất cả mọi người đều ngáp, số còn lại ngủ thiếp . Kết quả mới thật là đẹp.
- Chính vì vậy mà tôi muốn… Một lời khuyên… Ông cho phép chứ? Đế quốc đã tạo nên những thói xấu, lòng khát khao những câu chuyện, những chuyện vui, những giai thoại, những tinh thần của hoàng đế, những cơn sốt của nữ hoàng, những nỗi buồn phiền của Đại bàng con… Ông rõ ý tôi chứ? Vào lúc thuận lợi, nước Brésil có các cuốn tiểu thuyết. Do đó mong ông thiên về lời kể chuyện.
- Ông nghĩ vậy?
- Tôi tin chắc như vậy. Nhưng tôi không bị thất vọng. Dần dần nước Brésil sẽ nhận ra rằng chỉ có những tư tưởng mới đẹp. Chúng ta sẽ tách ra khỏi cái vỏ bọc mơ mộng. Chế độ cộng hòa là một thể chế không có lịch sử. Chỉ gồm những con người tự do và những cuộc tranh luận ý tưởng. Đấy không phải là ý của ông sao?
Thành thực mà nói, Gabriel chưa bận tâm suy nghĩ nhiều lắm tới nền Cộng hòa. Để thành thật hơn nữa, chắc hẳn anh thích có một nền cộng hòa khá bí hiểm, một nền cộng hòa có không ít ảnh hưởng. Nhưng nhiệt tình của ông bí thư đã làm cho anh thấy phấn chấn.
Người ta có cảm giác, theo lời ông ta, nước Brésil là một nước mới, vừa lọt khỏi lòng mẹ như nước Mỹ ở thế kỷ trước, và người ta muốn làm gì thì làm
- Như vậy là, Auguste Comte đã có dự kiến về Trường Đại học bách khoa ở Mỹ?
Và thế là Gabriel phải kể về chi tiết mơ ước lớn ấy của năm 1816. Nghe xong mỗi câu, Vicor lại gật đầu. Đúng, phải xây dựng Trường Đại học bách khoa ở Brésil. Phải, những môn toán là bước đầu luyện tốt cho nền dân chủ…
Sau đó hai người bạn siết chặt tay nhau. Victor quay về với những công việc ngoại giao của ông ta.
Và Gabriel đã có một ý nghĩ khờ dại, vào lúc ba giờ chiều, ý nghĩ lố bịch và tự phụ là đương đầu với các tinh tú mà, rõ ràng rằng, ngày hôm đó đem lại vận hạn cho anh. Nói một cách khác, anh đi tới phố Sloane, số nhà 21, địa chỉ mà Ann đã khinh khỉnh rỉ tai anh trước khi hòa vào đám đông. Phố Sloane là một phố lớn đẹp chạy ngược dòng sông Tamise về phía công viên Hyde và số 21 là một ngôi nhà màu kem có cột lớn ở mỗi bên cổng ra vào. Căn cứ vào biển con trên các chuông gọi cửa, gia đình huyện diệu sống ở lầu ba. Bà mẹ trẻ. Élisabeth, ra mở cửa cho anh.
Bà ta rất nhanh miệng thốt lên :
- A! Anh đấy à, anh Gabriel? Tiếc quá! Các cháu đi hết cả rồi. Sáng mai chúng tôi phải có mặt tại Anvers. Do lễ nhạc về Mozart mà chồng tôi hằng mong đợi. Tôi ra nhà ga với bố con chúng bây giờ. Tôi khóa cửa đây. Tạm biệt anh Gabriel. Anh nhớ quay lại nhé! À mà này, nếu có thể anh xách hột tôi cái túi này xuống nhà, anh để nó giữ giùm tôi dưới chân của cầu thang. Anh hứa với tôi là sẽ quay lại chứ anh Gabriel
- Dạ, khi nào?
- Tôi không rõ nữa, thật khó trả lời anh. Với ông Markus, chẳng cần biết trả lời thế nào. Có thể sau đấy một tháng. Anh cứ ngó các cửa số. Từ ngoài phố thấy chúng rất rõ. Nếu có gì động đậy, anh cứ lên. Thế nào, anh hứa nhé? Thôi, tạm biệt anh, anh Gabriel?
Khi bà Élisabeth đóng cửa, Gabriel bước xuống, bước xuống, không ngừng bước xuống. Anh cứ bước xuống mãi cho tới khi nghe thấy nổi lên phía sau mình một giọng nói:
- Anh vẫn còn ở đấy, đấy chứ?
Bà Élisabeth nhìn anh chòng chọc. Và nhà thực chứng của chúng ta có vẻ thất vọng đến nổi bà Élisabeth phải thốt kêu lên:
- Thôi được rồi, anh Gabriel tội nghiệp, anh tiễn tôi ra nhà ga. Như vậy, anh nghĩ rằng sẽ dễ chịu hả?
Trên xe ngựa, bà ta cứ nhắc đi nhắc lại: anh Gabriel tội nghiệp và cầm tay anh:
- Vì anh say mê hai cô con gái của tôi nên tôi phải giải thích anh rõ : đứa thứ nhất lúc nào cũng sợ sệt, còn đứa thứ hai thì chẳng bao giờ. Chẳng dễ dàng gì đâu, anh Gabriel tội nghiệp, tôi chẳng muốn khuyên bảo anh nhưng đành vậy, sự vắng mặt này là tốt cho anh, anh hãy lợi dụng dịp này để tập dạn dày đời chút. Chẳng dễ dàng gì đâu, ô! không đâu, anh Gabriel tội nghiệp. Cũng may là chúng còn rất trẻ. Đúng, anh còn thời gian để dạn dày trước khi gặp lại chúng. Anh hứa chứ?
Xe rẻ trái, ngoặt sang phố Pimlico, Bà Élisabeth ngồi nhích lại. Gabriel cảm thấy chân, hông, tay bà áp sát người anh. Bà ta quay sang phía anh. Bà ta ôm anh vào lòng. Bà ta nhìn thẳng vào mắt anh, đôi mắt mà anh cảm thấy hổ thẹn, đôi mắt của một chú học trò rầu rỉ, đôi mắt anh rất muốn đem đổi ngay lấy đôi mắt của kẻ quyến rũ, như kim loại và cười cợt, nhưng ở Pimlico, chẳng ai đem mắt đi đổi.
- Anh Gabriel, trước khi tất cả những chuyện sắp diễn ra được bắt đầu, tôi muốn hỏi anh, với anh, người đàn bà là thế nào?
Gabriel nghe rất rõ tiếng bánh xa gỗ lăn trên mặt đường, sau đó tiếng bà Élisabeth, tôi hỏi anh đấy, người đàn bà là thế nào? Xe dừng lại. Quanh họ, mấy phu khuân vác gào lên tàu nào? Các bác có biết đường số mấy không ? Họ đã tới nơi. Bà ta bảo, ôm hôn tôi đi, anh Gabriel.
Nhưng chính bà ta lướt môi trên miệng anh.
Gabriel đứng một mình giữa Đường Cung điện Buckingham, thoáng mùi nước hoa của bà Élisabeth, có mùi nước hoa Oriza, thế mà lại là người cung cấp cho triều đình Nga, như người ta đã quảng cáo trên khắp các tường nhà ở Levallois, đúng, cho triều đình Nga và nhiều triều đình nước ngoài, có thể ngay cả cho triều đình Anh.
Hôm sau, Gabriel đã thay đổi căn bản phương pháp sư phạm. Cử tọa đã rút lui bớt: chỉ còn ông đại biện, ông tham tán thứ hai, người theo phái Cộng hòa, và ông tùy viên làm theo hợp đồng. Nhưng những người vắng mặt đều có lý do: hôm nay là mùng 1 tháng Giêng…
- Theo Auguste Comte, - Gariel bắt đầu,- việc xây dựng tư duy là không thể tách rời với sự nở hoa của tình cảm…
Ba thính giả, sắp chìm đắm như hôm trước trong nổi ưu sầu ngoại giao, vươn thẳng người trên ghế thếp vàng và dỏng tai.
- Auguste gặp Caroline trong các phòng trưng bày ở Palais-Royal…
Và Gabriel đã giải thích, không phải là không chi tiết, cái nghề cổ xưa nhất thế giới được tiến hành trong những cái gọi là phòng trưng bày ấy và những phòng cho thuê có sẵn đồ đạc ở quanh đấy là nghề gì. Ông đại biện cau mày khó chịu. Nhà hùng biện đã trả lời trước khi có ý kiến phản đối và dẫn ví dụ về Christ. Người cũng tỏ ra khoan dung với Marie-Madeleine và thế là đôi mày liền hết cau. Còn ông tùy viên làm theo hợp đồng, những đêm ở London đã cho ông thấy rằng sự khác nhau của những mối tình trả tiền, muốn nói sao thì nói, là vô tận. Ông ta nhấp nhổm chỉ những giơ tay hỏi các chỉ dẫn chính xác về Palais-Royal, địa chỉ đích xác, giờ giấc, giá cả… Tóm lại, Gabriel đã níu giữ được cử tọa.
Anh kể chuyện bà Massin, diễn viên hài kịch, đã ngã giá trinh tiết của cô con gái bà ta là Caroline với một luật sư, ông Cerelet, ra sao. Cô gái bị kẻ bẻ hoa nhanh chốóng ruồng bỏ, đã trở thành một gái điếm thế nào. Cô đã vật nài một vị khách, Auguste Comte dạy đại số cho cô ta như thế nào. Tình cảm quyến luyến giữa hai bên nảy sinh ra sao.
Hỡi ôi, quá khứ của cô Caroline đè nặng lên quan hệ của họ…
Dần dà, phòng tiếp khách của đại sứ đầy người kéo tới. Chẳng rõ do đâu bị báo động, đám cử tọa cứ giẫm chân sốt ruột. Trong số họ có mấy người Anh. Nhưng tuyệt đại đa số là người Mỹ-Latin. Chẳng còn chiếc ghế thếp vàng nào bỏ trống. Những người đến sau phải đứng nghe. Làm ra vẽ như vô tình, chị đầu bếp Maria đã rời bỏ bếp núc. Chị ta lạch bạch, háo hức muốn biết phần tiếp theo.
Lúc đó Gabriel nhìn thẳng vào ánh mắt Victor, tham tán thứ hai theo phái Cộng hòa: đã tới lúc đưa nhỏ giọt vài lời dạy thực chứng vào câu chuyện của anh. Đã đến lúc Auguste Comte nghĩ tới hôn lễ. Ông viết thư về nhà xin phép hai cụ thân sinh. Hai cụ từ chối. Vì lý do mà ta đã phỏng đoán? Phẩm cách xấu của người vợ chưa cưới? Hoàn toàn không phải như vậy. Hai cụ đã được biết Auguste và Caroline đã chung sống dưới một mái nhà trước khi tổ chức lễ cưới (Chà! Chà! đám cử tọa rộ lên. Suỵt. Maria bảo).
Nhà triết học mở cuộc thập tự chinh thực chứng. Quân lực ở trước mặt đã rõ: một bên đầu óc thiển cận, tuổi tác đã luống, một bên thời buổi hiện đại và tình yêu. Thưa quý ông và quý bà, giai đoạn quá độ thật rất khó sống: tư tưởng mới chưa đủ sức thắng hoàn toàn tính ích kỷ, những tín ngưỡng tôn giáo.
Một phụ nữ đứng dậy, để phản đối. Gabriel chỉ kịp thoáng thấy chiếc khăn trùm dài của chị ta. Những người ngồi bên phải kéo chị ta ngồi xuống. Ngồi dãy đầu hàng ghế thếp vàng, Victor gật gù. Ông ta vặn môi, mấp máy không thành lời, hệt như ta nói với kẻ điếc, những lời: tốt lắm, tốt lắm. Tốt lắm, Gabriel, tốt lắm…
Hoảng sợ trước ý nghĩ rằng một ngày nào đó tên tuổi mình sẽ xuất hiện trên một cuốn sách của anh con trai Auguste được dẫn như một trường hợp điển hình trốn tránh tiến bộ của nhân loại, hai cụ thân sinh Comte đành phải chấp thuận.
Những người làm chứng của nhà triết học là các nhà toán học. Nhưng còn Caroline, nàng đã chọn ai?
Nêu câu hỏi xong, nhà diễn thuyết liền rời khỏi phòng khách.
Tôi không rõ Gabriel đã phát triển một chút hay không những tư tưởng thực chứng. Nhưng những chuyện kể đăng tải của anh đã lôi cuốn suốt nhiều tuần lễ đám quần chúng trung thành. Sứ quán Brésil khước từ không tiếp ai để được nghe tiếp từng chương hồi một. Thật đáng tiếc, nhà diễn thuyết thầm nghĩ khi đưa mắt liếc nhìn những khuôn mặt đàn ông và đàn bà căng thẳng chú ý, rất tiếc là gia đình Knight đã rời khỏi London ! Họ sẽ hiểu rằng trên đời này chẳng phải chỉ có mỗi âm nhạc. Hỡi ôi! Các rèm cửa ở phố Slome vẫn im lìm…
Chàng Orsenna trẻ tuổi của chúng ta đã từ bỏ sự thật. Say sưa với thắng lợi, do bị nỗi khát vọng muốn được kể chuyện lôi cuốn. Gabriel lao vào những câu chuyện chẳng liên quan gì tới Auguste Comte. Trong một lần dẫn chuyện, anh cố tự bào chữa. Chẳng hạn, anh tuyên bố Ba người lính ngự lâm, thực ra là một câu chuyện bịa mang tính triết học, Aramis không đại diện cho thời đại thần học đó sao, thưa ông đại biện, thưa các quý ông, quý bà, Athos- thời đại siêu hình, Portos- thời đại thực chứng và d’Artagnan – nhà triết học chuyển từ thời đại này sang thời đại kia đó sao?
Cử tọa gật đầu: tốt lắm, đừng mất thời gian nữa, chuyện gì đã xảy ra với các ông ngự lâm ấy?
Và nhân vật của chúng ta say sưa kể về bà Bonacieu, chuỗi hạt kim cương của hoàng hậu, tất cả các cuộc phiêu lưu của một người tròn trĩnh rất mực anh hùng.
- Hết rồi à?- Cử tọa thở dài khi Gabriel ngừng lời,- Trên vai bà Winter đã săm hình gì, ông làm ơn nói cho chúng tôi biết đi, kẻo đem nay ngủ không yên? Dẫu sao, thuyết thực chứng muôn năm! Lại còn ông Aramis làm tôi rất có cảm tình…
Một số buổi tối, như hôm nay, trong ngôi nhà ở Cannes-la-Bocca, thường là sau khi uống cốc rượu vang mêđôc, nhân vật của chúng ta thầm nhủ có lẽ anh đang sống một cuộc đời khác với cuộc đời của mình. Chính nỗi đam mê muốn được nảy lên, nên anh phải chịu trách nhiệm về một sai lầm. Thế mà nghề nào sẽ tạo đà nảy mạnh nhất, sản xuất cao su hoặc viết các bài đăng tải? Tiểu phẩm đăng tải thực sự, tiểu phẩm đã bắt một đất nước phải hàng ngày chững dừng lại, vào giờ nhất định để hiểu biết, tiểu phẩm đăng tải nuôi dưỡng các chuyện đàm thoại và những cảm giác bứt rứt sốt ruột, tiểu phẩm đăng tải thực sự có vô vàn lò xo và cốt chuyện chẳng bao giờ hẫng rơi, nó làm nảy sinh các cuộc chiến, những thành phố, những mưu toan vô tận, những đứa trẻ của tình yêu, hàng chục và hàng trăm nhân vật, một đám người lúc quyến luyến, lúc độc ác, nhưng luôn có khả năng sinh sôi nảy nở những nỗi hưu quạnh xuống Cannes-la-Bocca về đêm, khi lũ chó giữ nhà sủa đáp lại nhau, từ ngôi biệt thự trống trải này sang ngôi biệt thự trống trải kia...