- Phải. Một ngày nào đó ta phải nghĩ đến cái chết. Gabriel, anh nghĩ sao?
- Bố sợ ư?
- Phải.
Từ sau cuộc chiến, những thói quen của hai bố con Orsenna đã thay đổi. Thí dụ những bữa ăn trưa thực tế không cần đổi địa điểm nữa. Tiệm La Coupole là nơi họ ăn thường xuyên và cố định, vì ở đó có một anh chàng da đen to lớn đội mũ sesia đỏ, chuyên pha cà phê trong một quả cầu trong suốt mà Louis tin rằng nó làm bằng pha lê. “Khi ta thấy hắn, là thấy có một cảm giác kỳ lạ, Gabriel. Chắc chắn, một ngày đẹp trời nào đó, hắn sẽ nói cho ta biết tương lai sẽ ra sao và đồng thời hắn gợi cho ta nhớ lại thời đại hoàng kim, anh có nhớ không?”
Một điều mới lạ nữa là hai bố con không chỉ nói đến phụ nữ. Chắc chắn họ sẽ đến ngồi ở bàn chúng ta, lần lượt từng người một, cô tóc nâu cũng như cô tóc hung, những bóng ma của thời xưa, những người vợ chưa cưới của nhà Levallois, cô dâu Alésia và cô Nathalie tóc nâu, người đã thử nuôi cá trê trong thời chiến… Họ ngồi kia, hơi thẹn thùng, mỗi người một mùi nước hoa, một kiểu cách gỡ tóc, một kiểu quần áo, có người muốn tỏ ra vui vẻ, có người ngược lại, ăn mặc theo mốt mùa thu. Nhớ tới những kỷ niệm đó, họ như cảm thấy những cánh bướm đủ màu, và hai bố con thật là sảng khoái. Nhưng chuyện trò về phụ nữ nhạt dần. Một nhân vật khác đã tới và dần dần chiếm lĩnh trận địa.
- Anh nghĩ sao về cái chết, Gabriel?
- Sống thì tốt biết bao Gabriel, nhưng cho đến nay, chúng ta đã quên mất cái chết.
- Anh hãy nói đi, Gabriel, chúng ta sẽ giải quyết vấn đề ấy như thế nào?
- Hãy bỏ cái dáng vẻ thoải mái ấy đi, Gabriel. Ở tuổi anh, cái chết đe dọa như đối với ta, có lẽ còn hơn nữa kia. Ta còn có Longchamp để rèn luyện sức khỏe.
Rồi thì bố con Orsenna, với một cách có hệ thống (họ là những người thích hệ thống), điểm qua những cách chết dịu dàng, sự trợ giúp của mỗi tôn giáo, sự dũng cảm của người không tôn giáo, thí dụ của Jean Moulin, của Pierre Brossolette, những say mê của Bach… Họ không tìm thấy biện pháp nào hữu hiệu. Tốt thôi. Bản tổng kết những buổi ăn trưa thực tế là: anh vẫn sợ chết chứ? Còn ta cũng thế.
Những buổi chiều ấy, sau khi từ giã ông Louis, Gabriel không thể ngủ được.
Trước hết, phải lấy lại sức, vì mọi giấc ngủ đều là một cuộc du lịch.
Gabriel lấy ở túi ra quả bóng nhỏ và nhờ có nó ông dần dần lấy lại sức.
Những cái bật nảy ấy đều gây tiếng động.
Người ở buồng dưới hẳn là tức giận. Ông ta có một nghề bình thường, có thể là danh giá nữa (nghề xuất bản những tiểu thuyết không có cốt truyện, không có nhân vật. Tóm lại là, không có cái gì bật nảy cả.
Nhưng ông không nổi giận, Nhà xuất bản kỳ lạ đã dùng chổi quét trần, phần để quét chứ không phải là phần cán, theo cách hung hăng như hầu hết mọi người thường làm, gõ trần nhà mình (sàn nhà tôi). Và sáng hôm sau, khi gặp tôi ở cầu thang, không hề có lời chua chát, ông ta chào lẩm bẩm, và tiếp tục theo kế hoạch kỳ lạ: những tiểu thuyết không có tính tiểu thuyết.
Gabriel lẽ ra phải đoán ra ông Louis nói càng ngày càng nhiều về Viễn Đông, về sự đầu thai, về thuyết luân hồi, và nhất là về sự say mê của ông đối với giống nấm, theo ông giải thích thì giống này chỉ có mưa là nảy sinh và cứ mỗi khi thu đến lại tái sinh, giống nấm chứng tỏ là đạo Phật đã thấm nhuần trong thiên nhiên…
Gabriel đón nhận những thuyết trên một cách rầu rĩ (có lẽ cha ta đã trở thành gàn dở?) và theo ông Louis đi bộ trong rừng Rambouilet chỉ vì bổn phận, và không thích thú, mắt Gabriel luôn nhìn đồng hồ và tỏ ra miễn cưỡng (khi người ta đã biết rừng Amazone, Belem, Manaus thì Saint – Arnoult, Rochefort – en – Yveline chẳng có nghĩa lý gì?)
Xuống xe, họ đi vào rừng, và lập tức ta thấy ông Louis cúi gập người xuống và đối với ông, khi đó chỉ còn tồn tại các loại nấm…
Ông đã mặc bộ trang phục rất thích hợp, từ đầu tới chân ta thấy: mũ hình quả chuông màu đỏ gạch như của những người đánh cá trên tàu thủy, áo gile màu nâu đen có rất nhiều túi, quần nhung to sợi màu vàng hung có vá da ở đầu gối, giày cao cổ, giỏ mây có đáy phẳng, kính lúp, dao Opinel có ba cỡ khác nhau và cuốn sách hướng dẫn của Hachette về các loại nấm ở Châu Âu.
Nếu Gabriel thong minh thì ông đã đoán ra được là những ngày cuối cùng đã tới và ông cũng sẽ cùng với bố đổ bộ vào cõi hư ảo cuối cùng là đạo Phật trong thế giới thực vật. Sau hết, phải chăng cao su cũng là một thứ vật chất thay hình đổi dạng nhưng không chết?
Nhưng, dù Gabriel đã dùng quả bóng đỏ để tăng sinh lực, Gabriel vẫn cảm thấy mệt mỏi, già nua, và không có đủ sức để chuẩn bị hành lý đi phiêu lưu cùng với bố. Lần này, Gabriel đã giống như tất cả những đứa con trai trên thế giới, ông là một đứa con tồi. Ông đã lười biếng, ông tin hoặc giả tảng như tin rằng ông Louis đã trở thành một đứa trẻ thơ. Gabriel để mặc ông vui đùa, còn Gabriel tìm một chiếc ghế ngồi ở giữa khu rừng.
- Bố sẽ tìm thấy con chứ?
- Cố nhiên rồi, Gabriel!
- Vậy thì bố cứ việc vui chơi thỏa thích.
Và trong khi ông Louis miệt mài với các bạn mới muôn màu của ông (các loại nấm) thì con trai ông vùi đầu vào một cuốn truyện tiếng Anh của Elizabeth Goudge, Daphné du Maurier hay Aldous Huxley. Gabriel giống như một người mẹ trong gia đình, vì quá mệt mỏi nên không thể chịu đựng nổi những trẻ sơ sinh được nữa.
Đúng lúc đó, ông Louis đột nhiên vui mừng, cái vui cuối cùng của đời ông. Orsenna bước đi chậm chạp như một con tàu trắng đi dọc theo cảng.
Gabriel đã để nó đi qua, con tàu trắng ấy, Gabriel không có ý nhảy lên tàu, không hề mỉm cười, không hề vẫy khăn tay. Có lẽ sau này, khá lâu sau đó, khi đã quá muộn.
- Này Gabriel hãy tới đây xem này!
Ông Louis kêu lên, ông Louis líu cả lưỡi.
Con trai ông luyến tiếc rời khỏi quyển truyện tiếng Anh.
Đó là một thứ nấm khổng lồ, vươn mình trên đám rêu, hướng thẳng lên trời, thân màu tím hơi xoắn lại, với chiếc mũ trong nước màu nhạt hơn.
Louis cười khoái chí.
- Hãy nhìn xem (ông ta nấc lên), đây là thời niên thiếu của chúng ta…
Gabriel nhún vai. Ông Louis khốn khổ, ông già Louis khốn khổ đã lẩm cẩm rồi, tuổi già của bố mẹ quả là một gánh nặng: những tư tưởng đó quay cuồng trong đầu óc Gabriel, một lô những suy nghĩ nhạt nhẽo và xấu xa của đứa con nhạt nhẽo, xấu xa… Thế rồi Gabriel quay lại, chiếc ghế dài với cuốn truyện của Daphné du Maurier (Rebecca), một nữ văn sĩ có năng lực xua đuổi được những tư tưởng rối ren. Sau đó, ông Louis tới chỗ Gabriel.
- Gabriel, anh hãy nhắm mắt lại và đếm tới một trăm.
- Đồng ý thôi. Nhưng bố đừng có đi quá xa. Chúng ta sắp phải về rồi.
Gabriel đã chấp nhận đề nghị trên và cũng chẳng ngước nhìn bố nữa. Gabriel bắt đầu đếm to: một, hai, ba, bố sẽ thích khi nghe mình đếm, mười tám, mười chín, hai mươi. Những ông già không phải chỉ nghĩ đến tình dục, họ còn có những ý ngông cuồng… Chín chín, một trăm.
Khi Gabriel bỏ tay xuống, và mở mắt ra, khi những đom đóm mắt đã hết, vì sau khi mắt bị bịt chặt, Gabriel chỉ thấy có một mình. Người con mất bố kêu to, tìm kiếm, chạy cùng đường, khắp chốn, hỏi thăm những khách vãng lại, người coi rừng. Không có kết quả gì. Cả ngày hôm sau cũng thế. Ngày hôm sau nữa, Gabriel phải nhờ đến sở dịch vụ tìm kiếm thân nhân.
- Người trẻ cũng chẳng có cách tìm kiếm huống chi người già…
- Dụ gái làm đĩ thì có đấy, ông bạn ạ, nhưng dụ dỗ người già thì có thể tin được không?
Hai ngày sau, Gabriel nhận được một bức thư đóng dấu ở phố Louvre.
Cảm ơn anh đã đếm THỰC SỰ đến một trăm
Ta không thích những lời vĩnh biệt
Thế này thì tốt hơn
Hoan hô Cortinarius Violaceus!
Thế là bố tôi, ông Louis đã biến mất.
Thế là cuộc sống chung của chúng tôi trong bảy chục năm trời đã chấm dứt.
- Bình tĩnh nào, Ann nhắc lại. Bình tĩnh đi, anh, em biết ông Louis hiện đang ở đâu: ông ấy sang Đông Dương buôn xe đạp cùng với bạn là ông Dekaerkove. Anh sẽ thấy họ trong văn phòng của em, họ mặc quần áo đua xe đạp, họ nắm tay nhau rụt rè và run rẩy, anh thử tưởng tượng xem, họ mặc quần đùi màu hạt dẻ, bít tất đỏ, như hai anh em sinh đôi, họ từ Longchamp trở về; anh có nhìn thấy đầu những cộng sự của em không? Thôi đi Gabriel, đừng rầu rĩ nữa. Không phải trên đời này chỉ có ông Louis. Nỗi buồn của anh không làm bọn em hài lòng đâu. Hãy để ông Louis được yên. Ông ấy muốn ra đi trước khi tàu đắm, cũng giống như E Élisabeth. Ta phải tôn trọng những hành động ấy. Hãy ôm hôn em đi, Gabriel!
Ông Orsenna Gabriel.
Sản xuất lốp xe
Clermont
Auvergue
Levallois
Đảo Jatte
Seino
13 Đường Western Wemys
Cannes – la – Bocca
Bức thư dán tem Pháp, có dấu của Quận XII, có ghi ba địa chỉ, nhưng gạch đi hai, mảnh giấy trắng hình chữ nhật bướng bỉnh này đã đến nơi vào ngày 30 tháng Ba năm 1954 cùng với chiếc xe tải của những người dọn nhà thuê. Gabriel giật bức thư từ tay người đưa thư (“đồ sàm sỡ”, cái ông này, ở tuổi ông mà còn yêu đương à?) Và chạy vào một góc vườn để đọc thư ngấu nghiến sau những bụi cây mỏ hạc. Cũng lúc đó, ở trong nhà vang lên tiếng Ann ra lệnh, tiếng bàn ghế kéo lê trên nền gạch, tiếng Clara thở dài, tiếng gõ giầy của bà L., bà quản gia khó tính: gõ giày là cách của bà ta để phản đối những người bất lực.
Ngày 1 tháng Một năm 1953
Những chủ ngân thương mại là những bà hoàng Victoria. Họ còn mạnh hơn nữa kia, Gabriel. Nhà ở của họ kín đáo như một nhà chứa..
Một sự giống nhau rất bình thường: ở cả hai nơi đó, người ta đều đến để thực hiện những giấc mơ.
Như vậy là bố đã đi cùng với ông bạn là Dekaerkove đến địa chỉ đã cho ở không xa chợ Saint – Honoré (món ăn đặc sản Italia, đậu xanh mùa nào cũng có, muỗm má đào…).
Đúng là người ta đã đợi ta. Khi chúng ta vừa bước qua cửa, một tiếp đãi viên đã tiến tới nghiêng mình và chào ông Orsenna với giọng một chủ nhà băng, ngân rất dịu dàng, thì thầm, nhưng không nịnh bợ quá, Gabriel ạ, một giọng nói mà người ta hiểu ngay rằng nó có thể đè bẹp một kẻ lầm đường khó chịu đã vô tình xâm nhập vào câu lạc bộ: Xin ông hãy theo tôi. Anh ta vừa đi vừa dang tay, và chúng ta đã gặp những thanh niên cao tếu, rất hốc hác và con cũng sẽ như họ trong cuộc đời sau, Gabriel ạ. Cố nhiên là vì hy vọng vào nền tài chính nên dù vội vã, họ vẫn kính cẩn chào ta. Sau cùng, chúng ta vào một gian nhà có mái kính, rộng như một nhà ga nhưng không có chiếc xe lửa nào, không có một nhân viên đường sắt nào. Anh hãy hình dung, một gian nhà màu vàng, yên tĩnh và sạch sẽ như thành phố Florence, một khu vườn mùa đông, rộng lớn, phủ thảm xám và ở bốn góc có trồng cam.
Chính ở đó, Gabriel, bố đã đứng đợi dưới bóng một cây cam, và suy tưởng đến cuộc đời sau này của chúng ta, của bố và của con.
Vài phút sau.
Một cánh cửa mở ra và một phụ nữ lịch sự tiến đến. Trong khi bà ta tiến bước, bố thấy phòng đợi sao mà rộng thế, Gabriel, bố biết rằng bà ấy đi tới gặp bố, dù rằng bố không muốn tin vào điều đó. Bố đã đoán đúng, điều đó chứng tỏ rằng, dù không có hiểu biết gì, bố vẫn có linh tính nhà băng.
Khi tới một khoảng cách xã giao giữa con người, bà ấy mỉm cười với bố. Bà khoảng ngũ tuần, mang coóc xê lụa, váy bằng vải len mỏng, làm chủ tuyệt đối thần kinh mình, ngay cả những khi hành kinh, bố có thể cam đoan như thế. Những nữ thư ký của Haute Banque đều như thế.
Sau một cuộc tản bộ, vừa đi vừa nói chuyện, vì các nữ thư ký ở trình độ ấy thích tán chuyện, chú ý tới anh, tóm lại, tiếp đón anh trong khoảng thời gian chỉ đủ cho người ta thấy được những bức tranh trên tường là của nước Anh, tranh về săn bắn, đi thuyền… thì những cánh cửa hé mở. Giữa tiếng cọt kẹt của sàn gác (một thứ âm nhạc thú vị giống như tiếng lửa cháy trong lò sưởi), Ann đứng dậy, đi vòng quanh bàn làm việc và ngồi vào chiếc ghế bành Ai Cập (chỗ đặt tay có chạm đầu sư tử), rồi mời ta ngồi vào chiếc ghế đôi.
- Tôi rất sung sướng được tiếp ông, thưa ông Orsenna. Và nhiệt liệt đón chào bạn ông? Ông Dekaerkove? Một cái tên Bỉ rất đẹp. Chúng tôi có những mối quan hệ rất tốt với nước Bỉ.
- Vậy chính ông là ông Louis Orsenna. Tại sao con trai ông lại giấu ông?
Chúng ta đã nói rất nhiều về anh, Gabriel ạ. Cô ấy cũng như bố, không hiểu được vì sao anh lại chọn nghề cao su. Tiền bạc thì mềm dẻo hơn, mạnh hơn và cho phép nảy lên nhiều hơn biết bao nhiêu.
Bố không bịa thêm gì hết, cô ấy đã dùng những từ như vậy đó: “tiền bạc là nguyên liệu đầu tiên, chớ quên điều đó. Nó trên con thuyền của mình, đã không cần phải chở những súc vật nặng nề mà chỉ cần đem theo một văn tư nợ là đủ…”.
Về điểm cuối cùng này, có lẽ cô ấy đã đi quá xa. Nhưng đó là hậu quả của sự say sưa. Anh đã có một cô em dâu khá đấy, Gabriel, cô ấy nói có lý! Tại sao lại chọn nghề cao su?
Có lẽ, chúng ta đã ngồi đến tận chiều để nói chuyện về con ở nơi tuyệt vời này nếu không có tiếng chuông lanh canh phát ra từ những tượng thần Hermès với đôi chân nhẹ nhàng và những tượng tiều thần bắn cung[1]. Trên chiếc đồng hồ của nhà băng, một tác phẩm chạm trổ thần thoại.
- Lạy Chúa, đã bốn giờ rồi. – Ann nói.
Để khỏi lãng phí thời giờ của nữ hoàng Victoria, bố đã đề cập lý do cuộc viếng thăm, những công việc làm ăn. Bố đã nói nhanh gọn. Đó là nhịp điệu mà những nhân vật cỡ lớn ưa thích, có phải thế không?
Kế hoạch làm cô ta thích thú. Nhưng cô ấy đã giải thích nhẹ nhàng là cái chết chưa phải là món hàng có thị trường. Không phải cô chê bai để ăn trên, ngược lại là khác.
- Tôi sẽ trình bày đề án này tới một khách hàng của chúng tôi, một nhà sản xuất lều bạt ở xung quanh Địa Trung Hải. Có lẽ, sau kỳ nghỉ, ông ta sẽ quan tâm đến cái chết. Đó là một viễn tưởng có tính cách mạng. Phải đấy, nếu ta có thể tổ chức cho người ta chết ở Á Châu, ở nơi có thể đầu thai trở lại. Trong vài năm nữa, tôi tin rằng sản phẩm này sẽ tìm được thị trường. Nhưng bây giờ thì không, thưa ông Orsenna, ông không nên quên rằng những kế hoạch tốt nếu tung ra quá sớm sẽ đưa đến những thất bại thảm hại nhất, Không, quả thực tôi không thể đưa nhà băng của chúng tôi tham gia vào kế hoạch tang ma đỏ.
Cô ấy còn buồn hơn bố, vì đã phải từ chối, con hãy tin điều đó. Cô ấy tìm cách an ủi bố. Cô ấy đảo mắt nhìn từ trần nhà xuống đến cổ tay mình, cổ tay không có đồng hồ và đồ trang sức. Khi đó Dekaerkove, người còn nhút nhát hơn bố đã đưa ra ý đồ về xe đạp, đầu tư vào xe đạp.
- Tuyệt vời! Người ta cho tôi biết là người Việt Nam đang điên lên vì xe đạp. Các ông hãy tới đấy xem có đúng không. Nếu đúng thì tôi sẽ tham gia đóng góp phần vốn lớn nhất trong Manufrance. Cố nhiên là ta sẽ quan tâm đến thị trường Trung Quốc.
Cô ấy bấm nút chuông.
Cô thư ký thanh tao đã quay trở lại.
- Geneviève, cô thu xếp các ông Orsenna và Dekaerkove đi công vụ điều tra tình hình ở Đông Dương.
- Thưa bà, vâng ạ.
Cô ấy quay sang tôi nói:
- Nghề nhà băng của tôi là thế đó. Nắm lấy thời cơ, đóng những cây cột trên đó sẽ xây dựng tương lai…
Lúc đó, cô ấy có cái nhìn của nữ hoàng Victoria. Chỉ cái nhìn là giống thôi. Phần còn lại thì khác: hồng hào, cao dong dỏng… Cô ấy bao nhiêu tuổi, Gabriel? Năm mươi? Hay hơn? Những cô da hồng hào hẳn là đã có với thời gian một hợp đồng nào đó nên thời gian đã bỏ quên các cô. Ta rất muốn biết. Ta run sợ.
Rồi chúng ta ôm hôn nhau, rất đơn giản trong phòng khách sạn sang trọng này, chính ở đây cuộc hôn nhân giữa Bonaparte và Joséphine đã được bàn tính, ký kết. Bỗng nhiên, cô ấy quên cả công việc và nhìn bố buồn rầu nói: Thế nào, ông Orsenna, ông nghĩ gì trong đầu thế? Ông hãy nhanh chóng từ bỏ những chuyện về cái chết! Ông hãy thử kinh doanh xe đạp. Không có gì tốt hơn cho sức khỏe.
Bố đã mỉm cười với cô ấy, đã cám ơn cô ấy về chuyến công tác, đã hôn tay cô ấy. Bố đã làm những gì một người có giáo dục phải làm, tiếc thay là anh không phải lúc nào cũng làm thế. Trong cuộc đời tương lai, bố sẽ nghiêm túc hơn về mặt xã giao. Và bố đoán rằng dựa vào một số biểu hiện (hẳn là con đã nhận rõ sự am hiểu của bố về chuyện đó, đúng không? Một sự am hiểu vô ích ở độ tuổi của bố), bố nhận thấy là cô ấy là hạng phụ nữ làm tình đứng. Bố có nhầm không đấy?
Những cảm giác về nhà băng điển hình nhất mà bố nhận thấy là lúc những cửa ra vào bằng da đỏ đóng lại sau lưng bố.
Người đón tiếp đứng thẳng dậy. Một viên chức trẻ của nhà băng đi ngang qua đúng lúc đó, trông thấy bố đi ra từ phòng thánh của các bậc thánh thì gần như đứng khựng lại và cố dồn hết mọi tình cảm vào ánh mắt nhìn bố (tôi – là – người – vui – tính – nhưng - khi – cần – thiết – tôi – rất – nghiêm – chỉnh – và – là – người – khỏe – mạnh – trung – thành – tôi – chẳng – thể - có – được – người – bố - mà – tôi – thấy – xứng – đáng – và – tôi – là – một – người – thường – có – mặt – trong – các – buổi – tiệc – đứng – Opéra – cuộc – đua – và – thuộc – lòng – các – khuôn – mặt – để - tránh – các – vị - có – thế - lực – giấu – tên – bắt – gặp – chẳng – hiểu – sao – tôi – lại – không – biết – ông). Thế là những viên chức đầy triển vọng của nhà băng, hình như được báo động nhờ giác quan thức sáu (một bạn đồng nghiệp của họ, một kẻ thù không đội trời chung, đang có cuộc gặp gỡ có thể là rất hay), bước ra khỏi văn phòng của họ, một cánh tay cắp chồng hồ sơ, họ cố ý gặp ta ở hành lang, và ta hiểu điều họ muốn nói: chúng tôi cũng rất có khả năng giúp ông một cách hữu hiệu trong những việc bí mật, xin ông nhớ cho điều đó.
Như vậy, bố anh đã rời khỏi tòa nhà đầy quyền lực trong một cảnh tượng đi lại lộn xộn ít thấy ở nơi đó. Phải thú nhận rằng, ta đã ra vào ba lần, giả tảng là có điều cần hỏi người tiếp đón, nhưng lại quên mất, rồi lại nhớ ra, có thể là người đón tiếp sẽ đánh giá thấp hơn, nhưng lại được những người qua lại nhìn bằng con mắt thèm muốn khi thấy bố bước ra từ một tòa nhà đầy quyền lực.
Nhà băng vạn tuế!
Lần này thì chắc chắn bố ra đi. Tạm biệt Gabriel!
Những người bố, không có con trai, đều là văn sĩ: ngay sau khi chúng ta chia tay nhau, bố đã cầm bút rồi. Bố muốn nói đến từ ngữ. Những đứa con trai không bố là những kẻ mồ côi. Nhưng những người bố không con trai thì gọi là gì? Chỉ có thể “nhà văn”, hay từ gì khác?
Gabriel gấp thư lại, chậm rãi quay về phòng mình.
Người ta nghe thấy tiếng nói của chủ nhà vọng ra từ cánh trái ngôi nhà. Một cuộc tranh luận qua điện thoại, chuyện làm ăn về giấy, bao giờ cũng là giấy.
- … Ông hãy thú nhận rằng, những người Thụy Điển có thể cố gắng trả tiền đúng hạn. Hai mươi nghìn cân giấy bao bì duplex, không phải là vô nghĩa đâu!
- …
- Hãy cẩn thận, cẩn thận… Kormas – Marma làm căng quá đấy!
Ông chủ nhà im lặng khá lâu rồi lại nói tiếp (có lẽ vì những lập luận của Kornas – Marma).
- … Còn món giấy lụa của ông thì bao giờ tới? Có đúng như người ta nói: bền, dai, ít thấm không khí ẩm, láng mặt rất tốt bằng máy cán không?
Giọng nói của chủ nhà yếu dần, những từ ông dùng ngày càng chuyên môn hơn. Gabriel cũng muốn giúp ông trong cuộc đấu trí về giấy này, nhưng ông giúp được gì? Cao su và giấy là hai ngành khác hẳn nhau.
❀ ❀ ❀
[1] Chỉ là một chiếc đồng hồ của một nhà băng. (Chú thích của Ann.)