Gabriel không có gì phải đỏ mặt. Anh cũng đã từng kéo chuông báo động, rất lâu và ráng hết sức kéo.
Nhưng người ta đã từ chối không cho anh nói.
Người ta đã thậm chí đánh cắp chỗ làm của anh.
Anh đã có một lần bị thất sủng.
Những xe ô tô Pháp không chiếm được giải nữa.
Ai là kẻ bung xung?
Những người thợ máy, những người chế tạo động cơ? Anh đừng nghĩ thế: đánh thẳng ngay vào con tim của kỹ nghệ Pháp, giữa thời kỳ căng thẳng quốc tế!
Những nhà quốc tế và những người thai nghén ra những chiếc ô tô một chỗ ngồi? Vậy thì những chiếc Bugatti đẹp như thế, những chiếc Delahaye quý phái như thế, những chiếc Talbot quyết thắng như thế mà.
Những người thợ máy: Những người ấy không chê trách được. Máy móc chạy không có trục trặc nào đáng kể.
Còn lại những ai? Những người chế tạo xăm lốp, tất nhiên, đứng đầu cho đến bây giờ là Gabriel Orsenna.
Sự thất sủng bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi phòng ban. Người ta yêu cầu người được chiều chuộng cũ phải đi đến một nơi mà không ai thèm đến: một cái buồng kính ở tầng gác thứ nhất của công ty mà mọi người đều có thể nhìn thấy.
Một đặc điểm nữa của sự thất sủng, đã được loan báo bằng báo chí. Trong thế giới của sự tôn sùng thì trái lại, người ta tiếp một cách kín đáo con chim lạ, người ta tiết lộ điều bí mật, cái mẫu tuyệt vời nhất. Anh giữ điều đó cho riêng anh phải không, tôi sẽ chỉ muốn báo tin này cho báo chí vào lúc khai mạc phòng trưng bày.
Gabriel biết được sự thất sủng của mình qua hai bài báo, bài thứ nhất đăng trong tờ Lefigaro
Một quyết định can đảm ở Liên đoàn săm lốp Châu Âu
“Trong những giới rất kín đáo của các trò thể thao máy móc, Gabriel Orsenna đã gây được tiếng tăm trong lĩnh vực săm lốp mà nhiều người thèm muốn: ông ta biết kết hợp một cách vẻ vang chiếc xe với con đường; với những chiếc săm lốp ông trao cho bốn ngón tay của các sao băng là bấy nhiêu nhẫn cưới, là sự đảm bảo việc chung sống bền vững… Than ôi, từ ít lâu, nay sự quyến rũ ấy đã tan vỡ… Liên đoàn săm lốp Châu Âu, giác ngộ về những trách nhiệm quốc gia của mình, hôm qua đã ra một quyết định, đau đớn cho con người nhưng, không còn một chút nghi ngờ gì nữa là cần thiết, là chỉ định một người giám đốc mới của Sở thi đua. Đó là ông Yves Flamand, hai mươi chín tuổi, đã có vợ và ba con, kỹ sư đã tốt nghiệp trường Đại học kỹ thuật Trung ương. Tất cả những người chơi ô tô và, qua họ, kỹ nghệ của chúng ta chúc ông may mắn”.
Báo L’Action Francaise lại triệt để hơn.
Hãy cho thôi những nhà làm săm lốp Do Thái!
“Khi mà các xe không đi quá được một trăm cây số thì còn có thể có ý niệm là để cho bọn Do Thái được chăm lo việc chọn các săm lốp: thói quen quỳ chân của họ đã cho họ một sự hiểu biết sâu rộng về bụi và đất. Nhưng bây giờ là tốc độ, thế thì bọn Do Thái phải biến đi! Trong một giây, ai có thể tin là những xe Bugatti của chúng ta lại kém xe Mercedès của người Đức? Người ta có thể nói với tôi rằng Gabriel Orsenna không phải là Do Thái. Chuyện đẹp nhỉ! Anh ta chẳng phải là điển hình của loại người nhiễm bẩn ư? Phải chăng anh ta có cái gì đó thuộc về giống Do Thái để có cái thái độ hèn nhát là đã tưởng tượng ra những săm lốp đầy tham vọng, kiêu kỳ và thắng lợi ngắn ngủi. Thuộc về Liên đoàn săm lốp Châu Âu…”
Gabriel Orsenna có thể cãi lại và phản ứng. Anh có những luận chứng đầy túi. Ví dụ như xe Bugatti kiểu 60, rất đẹp được các nhà sưu tầm rất chuộng, là ngôi sao băng; con cưng của những người được người ta yêu mê mệt trên đường trở về (những người trên con đường thẳng Hunaudières thích những cuộc đua của những người ưa ăn ngon) là niềm kiêu hãnh của nước Pháp, xe này chỉ có 285 mã lực (Gabriel đã đo cẩn thận) chọi với 400 và ngay cả 500 của các xe cạnh tranh của Ý hoặc Đức… và xe gọi là SEFAC có sự tài trợ của nhà nước đã được chế ra một cách quá kém cho nên không thể đưa ra chạy ở một cuộc đua nào cả… Nhưng Gabriel lặng im không nói ra, vì xét rằng tốt nhất là nên tránh cho nước Pháp một mầm bất hòa mới. Chúng ta cũng phải thú thật là anh ta đã mệt mỏi, sau ba mươi bảy năm làm săm lốp.
Đúng là Gabriel đã thử làm cho người ta nghe được tiếng nói của anh, một tiếng nói độc đáo tầm thường, có thể có hiệu lực làm cho những người Pháp phải nghĩ ngợi hơn là những áng văn lớn ly tao và bay bổng.
Và những nhà tri thức đã coi anh như một con số không, không xứng đáng được phát biểu.
Ngày 21 tháng Sáu năm 1935 chỉ là một thí dụ. Ngày hôm ấy, Hội nghị quốc tế các nhà văn khai mạc. Ở Hội tương tế, không khí nóng như trong lò. Tất cả các lãnh tụ đã cởi áo ngoài, ngay cả Gide, cả Huxley, cả Martin du Gard. Gabriel cố làm cho người ta thấy là vì kính trọng công chúng nên anh đã giữ lại áo ngoài của anh. Vậy thì không ai có thể cho rằng anh bị loại ra vì lý do quần áo.
Vả lại, anh tỏ ra kín đáo và lễ phép. Một người làm nghề săm lốp đúng ra không phải là một nhà văn, hơn nữa có một vài điểm giống nhau giữa hai hoạt động đó: sự thiện cảm với đất, một sự hòa trộn khoa học với bản năng, sự gần gụi với các chết…
Anh tự coi là được mời đến dự và anh ngồi ngoan ngoãn. Anh nghe Malraux: “Chủ nghĩa cộng sản trả lại cho con người sự phong phú”. Anh dự vào cuộc đấu tranh của Aragon để người ta không gợi lên trường hợp của Victor Serge, nhưng anh không hề dây vào cuộc đấu tranh ấy chút nào. Anh lại nghe Malraux nói: “Mỗi một người chúng ta phải mở mắt cho tất cả các pho tượng mù và tạo ra lương tâm nhân loại với sự đau đớn hàng nghìn năm của con người bằng cách đi từ hy vọng lên hành động ý chí, từ khởi nghĩa nông dân lên cách mạng”.
Tuyệt vời, tuyệt vời, anh vỗ tay như tất cả mọi người. Anh chỉ giơ tay sau bài diễn văn của Pasternak mà anh coi như là bài mở đầu thích đáng nhất trong các bài khác: “Thơ ca bao giờ cũng sẽ ở trong cỏ. Thơ là, và vẫn sẽ là, chức năng hữu cơ của mọi con người sung sướng rèn lại tất cả hạnh phúc của tiếng nói chìm lại trong trái tim nơi xuất phát… Càng có nhiều người sung sướng thì càng dễ trở thành thi sĩ”.
Sau những câu nói chuyện về thực vật học, Gabriel có thể bắt đầu nói đến lĩnh vực của anh. Đúng thế, mặc dầu nhút nhát, Gabriel giơ tay trong cái phòng lớn của Hội tương tế và để bù vào vóc người nhỏ bé của anh, anh mạo hiểm đứng lên cái ghế bành gấp, chỉ cần sẩy một động tác là hai ống chân anh có thể bị tiện đứt.
Và đây là điều anh sẽ báo trước, anh nói rõ từng tiếng, trong khả năng tốt nhất của anh:
- Thưa các quý bà và các quý ông, từ hai năm nay, nước Đức đã bỏ cao su thiên nhiên để dùng cao su tổng hợp. Sự thay đổi ấy có hai ý nghĩa. Trước tiên là ý chí, là ra khỏi thế giới tầm thường. Thứ hai, đó là một dự định xâm lăng. Thưa các quý bà, các quý ông, đây là sự tin tưởng của tôi, một người chế tạo săm lốp: nhờ cao su tổng hợp, nước Đức chuẩn bị xâm lăng Châu Âu. Tôi xin cảm ơn các vị”.
Gabriel đã tính thời gian của bài tham luận đó: ba mươi giây.
Tính cho rộng rãi, bởi vì, có sự lo sợ giúp sức, anh đã nuốt phần lớn các vần.
Ba mươi giây đó liệu có thể làm cho Lịch Sử đổi dòng được không? Một nhà chiến lược chính thức, trà trộn trong số người dự, đã nghe câu phát biểu quan trọng đó sẽ có thể chuyển hướng cho những chương trình quân bị, làm hại cho chiến tuyến và lợi cho các xe tăng?
Gabriel không đi đến đấy vì anh bản chất vốn khiêm tốn.
Nhưng tất cả các giả thuyết được cho phép nhất là ba mươi giây ấy của anh đã bị từ chối trước rồi. Những người cộng sản gào lên: họ tưởng rằng cái ông bé nhỏ ấy muốn quay lại việc Victor Serge. Vì những người khác muốn nghe Malraux, vẫn còn và bao giờ cũng muốn nghe Malraux, chỉ nghe Malraux.
Gabriel cố ở lỳ một lát. Người ta hiểu anh, chưa bao giờ anh được cảm thấy cái say sưa ấy, say sưa được lấn át một nhóm người nhỏ nhất, bằng vóc dáng của mình, rồi anh bước xuống, theo dõi các cuộc bàn cãi một cách bình tĩnh cho đến hết và anh trở về nhà viết một bài cho báo Le Temps (“Về vấn đề trang bị lại các săm lốp”), bài này không bao giờ được công bố.
Người ta không thể nói rằng Gabriel đã được gia đình giúp đỡ trong việc đấu tranh cho sự thật của anh.
Ông Louis đã lao vào một cuộc triển lãm, cuộc triển lãm này có tính toàn cầu, triển lãm được đặt ở một nơi nằm giữa Tháp Eiffel và Trocadéro vào giữa năm 1937 (Gabriel, không có cái gì được chuẩn bị kịp thời, chúng ta xấu hổ với toàn thế giới). Ông vẫn giữ được những ảo vọng: sự phô trương, sự trình bày có tính cách toàn bộ về mọi mặt, đối với ông sẽ là phương cách duy nhất đúng để tránh chiến tranh.
Ông Louis dùng những thời gian nhàn rỗi, nhàn rỗi lớn lao trong các giới đua xe đạp được ông bạn Dekaerkove, đối thủ của tôi, người vạch đường cho cuộc Đua Vòng quanh nước Pháp lôi kéo. Ông ta dần dần tách rời tôi với bố tôi.
Sáng Chủ Nhật, như tất cả những người đã cắn câu thật sự, họ gặp nhau ở Longchamp và quay đi quay lại không ngớt xung quanh bãi quần ngựa.
- Bố không chán xe đạp ư?
- Gabriel đáng thương ơi, rõ ràng là con không biết tý gì về thân thể con người.
Tháng Bảy, ông biến mất: Đường Vòng Lớn bắt buộc ông. Cũng tương tự vào tháng Tư hay tháng Ba, tùy theo từng năm, cho cuộc gặp gỡ ở Grenelle.
- Gabriel, con muốn gặp lại ta thì không có gì dễ hơn. Ta ở lại đấy Sáu Ngày.
Ông thuộc vào những người say mê nhất, những người ở lại đấy cả đêm cho đến lúc cắt hồi sáu giờ sáng và lại quay về lúc mười giờ, đủ thời gian ngắn ngủi về thăm nhà (mọi việc tốt cả chứ?) và đến ăn điểm tâm, bao giờ cũng đúng cái quán phố Nélaton, bởi vì ông chưa biết cách pha cà phê thật đặc.
Ông Louis đã tuyên bố ngày sinh nhật của ông là ở giữa Sáu Ngày đó, dù sinh vào ngày nào đi chăng nữa, ngày sinh nhật di động mà, ông không quên bảo tôi đến dự, ngay cả khi quan hệ giữa tôi và ông có bị căng thẳng. Vì thế mà Gabriel mới biết cái lán tối om gọi là Vel d’Hiv, có bầu không khí màu xanh khói, những ngọn đèn rũ xuống từ những cái vòm không nhìn thấy rõ, sàn nhảy màu hung, hàng bán bia trên bãi cỏ, bọn vô lại chửi rủa nhau và ném vỏ cam và ngay cả đinh bù loong vào các khách ngồi ăn sang trọng. Ông Louis bao giờ cũng giữ vẫn cái bàn ấy gần sân khấu. Khi ông giới thiệu tôi: Gabriel - con - giai - tôi - làm - việc - ở - ô - tô, thì tôi nhận thấy người ta nhăn mặt: giới đua xe đạp luôn khinh thường nghề cơ khí, chỉ trừ có nghề làm xe đạp. Tôi không ghét họ, mỗi người mỗi nghề và các nhân vật của Grenelle đều mang những màu riêng. Ví dụ như ông Frré, người chăm sóc sức khỏe cho vận động viên hay Fernand Trignol, “ông hoàng tiếng lóng” hay lừa những người ngờ nghệch rồi chuồn, Bobosse trước kia là thợ quay máy in, nay trở thành người làm nghề xoa bóp kiểu Paris, Cyrano, một tay hát người Italia nghiệp dư khỏe và làm thợ nề chuyên nghiệp mà người ta thường thuê để treo các bó hoa cho những người thắng cuộc đua nước rút, cho những ngôi sao đi qua, hàng chục bó hoa, tất cả các bó hoa của Sáu Ngày… Tôi không quên những tay đua xe đạp Wambot và Lacquehay của những nước thân chúng ta, những hội viên Hội xe đạp của Levallois, Alexin Blane-Garin e thẹn và Charles Pélissier người dễ ưa nhất. Họ ngồi nghỉ một vài giây với chúng tôi, như thế các ông vui lòng chứ? Do mỗi năm một khó, các ông thứ lỗi cho, và họ quay trở về với công việc coi sóc trong chuồng của họ.
Thỉnh thoảng, ông Louis nháy mắt nhìn tôi, vẻ đắc thắng: con xem, ta cũng thế, ta cũng có cuộc sống bên lề: cảm tưởng của tôi rất lạ thường khi trông thấy ông sống trong một thế giới đàn ông, nói về các công việc đàn ông, mà ông thì, cho đến bây giờ, chỉ sống với các phụ nữ. Họ bàn luận nhất là về cuộc đua, và bao giờ cũng là về cuộc đua: thế nào mà Piet Van Kempen đã chạm phải Lucien Choury vừa đúng vạch, đó là lý do khiến cho Guimbretière không còn được cú nước rút của năm trước…
Thỉnh thoảng có một người nào đó vừa nhìn cốc của mình vừa trịnh trọng buông ra một câu:
- Thời gian đang chuẩn bị… các ông sẽ thấy… cuộc đua xe đạp sẽ lấy lại sức (nhà tiên tri quay lại phía tôi). Tôi không nói điều đó để chống lại ông đâu, ông Orsenna ạ.
Ông Louis không nghe thấy, ông nhìn ra đường đua, ông quên tôi.
Đột nhiên, yên lặng: mọi người không nói gì. Không một tiếng rì rầm, không một tiếng ho. Chỉ có những tiếng động mơ hồ, tiếng lách cách của đoàn xe.
- Cái đó không đẹp ư? - Ông Louis khẽ nói vào tai tôi.
Một tiếng còi nổi lên, giấc mơ đã hết.
Giải thưởng 10000 phrăng trên năm vòng do Hãng Con Bò Cười tặng, người xướng ngôn Berretrot báo tin.
- Bò, - đám người reo lên.
Tôi thấy bố tôi giải thích cho người bên cạnh, ông cảnh sát Maizaud, người đã bóp chết Rat-mort ở Pigalle: con trai tôi dễ thương hơn là vẻ mặt của nó, chỉ phải nó hay cả thẹn một chút, chúng tôi không cùng cười về những chuyện nào đó. Những chuyện khổ tâm trong gia đình, ông hiểu không? Ông cảnh sát Maizaud nhún vai.
Không ai để ý đến sự ra đi của Gabriel. Tôi đi không chào ai trước khi nước rút vừa xong, giữa tiếng ồm ồm của đàn phong cầm. Ra ngoài, tôi đi một lát dọc theo sông Seine về phía Javel, Issy. Tôi lấy lại sự tỉnh táo, tự giác thoát dần dần khỏi tất cả những cái tên, những mặt người, những danh từ chuyên môn, số cân nặng nhẹ của các lốp xe đua, số răng của pinhông, thứ hàng linh tinh mới ấy của ông Louis, tôi hít mạnh không khí, hơi loạng choạng như vừa bước ra khỏi thác nước. Đằng sau tôi, xe điện treo chạy qua chạy lại. Tôi không ngoảnh lại. Tôi muốn được quên tất cả chuyện đó cho đến năm sau, vừa đến ngày sinh nhật sau, được quên Grenelle, Nélaton, cái thế giới xe đạp ấy đã nuốt chửng cha tôi. Sau tiệm nhảy của Hải quân, tôi đi về phía tay trái, Đại lộ Emile - Zola, La Motte - Picquet và tôi chỉ trở về nhà tôi sau một đường vòng khá dài.
Trong thời gian ấy, bà Marguerite phản bội Châu Mỹ. Sau khi đọc xong quyển Ở đất nước của những người phát xít La Mã do nhà văn Paule Herfort viết (Nhà xuất bản Revue mondiale), bà ghi tên vào Ủy ban Pháp - Italia và chỉ mơ có được một chuyến du lịch đến Rome.
Mỗi khi tôi đến thăm, bà đọc cho tôi nghe những đoạn trích ở quyển sách: “Mặc quần đùi đi ngựa và đi giày ủng, ông thủ tướng chính phủ phát xít có một dáng điệu rất Napoléon, rất hợp với ông. Khuỷu tay chống lên bàn giấy, tay ôm đầu, ông biểu lộ một sức mạnh tự nhiên mà uể oải ánh lên hào quang nhân từ làm cho người ta nhớ đến Người kia. Trong một vài giây, trước mặt tôi, nét mặt của Napoléon pha trộn với nét mặt của Mussolini và tôi không biết là tôi phải nói tâu hoàng đế hay thưa ngài thủ lĩnh”
- Gabriel, cháu không biết ông nội cháu, nhưng bà, bà có thể nói với cháu là, nếu ông không mất thì ông cũng sẽ như thế.
Bà cũng đưa cho tôi xem những tài liệu chứng minh rõ ràng là thủ lĩnh đã có ý xâm lược nước Éthiopie để chấm dứt sự dã man của các địa phương.
- Đôi lúc, cháu hãy quên ta là bà của cháu, Gabriel, hãy để kính lúp lại gần bức ảnh này, cháu nhìn thấy cái cổng khải hoàn nhỏ chứ? Kéo gần kính lúp thêm chút nữa. Gabriel, cháu có nhìn thấy những cái túi con móc vào cổng không? Cháu không đoán được ư, Gabriel? Vậy thì để bà nói cho cháu biết đó là những dương vật, đúng, những dương vật của kẻ thù của những người Éthiopie thân mến này, những dương vật bị quét vôi sau khi được sấy để giữ được lâu. Và khi tôi nghĩ rằng Hội quốc liên bang muốn ngăn nước Italia chấm dứt những sự kinh khủng này!...
Đó là những trò làm đỏm điển hình, Orsenna, mà bố mẹ nuôi của ta không có thời giờ làm: mỗi một bước đi của họ lại đưa họ đến miệng của sói.