Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V
V

❊ ❊ ❊

Hà Nội

Ông bấm chuông, không nghe thấy tiếng động nào cả. Một anh bồi ló mặt ra. Ông giải thích với anh ta. Anh bồi biến đi, rồi lại ló ra: Xin mời, ông theo tôi. Người ta bao giờ cũng tiếp Gabriel, hầu hết mọi lần ông đến, vì có bức thư giới thiệu. Bức thư do ông P. Franchini đánh máy chữ ở khách sạn Continential, Sài Gòn. Bức thư có chữ ký của ông Chủ tịch Nghiệp đoàn các chủ đồn điền ở Nam Kỳ.

“Bạn thân mến, xin giới thiệu một bạn đồng nghiệp của chúng tôi, ông Orsenna Gabriel…”

Vì đã dùng quá nhiều lần, bức thư không còn cái vẻ bề ngoài lịch sự nữa. Người ta nhìn rõ các vết tay cái, có khi chỉ nhìn thấy chúng, ở hai bên chữ bạn thân mến và ở phía dưới, gần chữ ký. Tuy vậy, bức thư vẫn có khả năng mở được nhiều cửa.

- Tôi chỉ còn ít thời giờ thôi, với tình hình hiện nay… - người bạn thân mến nói – ông hãy thứ lỗi cho những thứ tiếng động này. Có những vật rất nặng được kéo lê trên sàn gạch. Rồi đến tiếng xé giấy lụa, rồi đến một giọng nói phụ nữ. Hãy cẩn thận, anh Bình, nếu anh làm vỡ cái lọ này, tôi sẽ chết mất. Có lẽ, đó chưa phải là dọn nhà, nhưng là sự chuẩn bị. Một sự lựa chọn đầu tiên giữa những đồ vật mang đi và những đồ vật phải bỏ lại, một sự phân chia khá đau lòng. Thỉnh thoảng, người bạn thân mến lại chạy ra, tức giận, quát mọi người im lặng, rồi quay vào; người ta nghĩ gì về cảnh tượng này ở mẫu quốc nhỉ?

Gabriel càng muốn nói ngắn gọn thì lại càng giải thích rối ren. Sau đó, ông kể lại câu chuyện của ông, chuyện về một ông già tên la Louis, cò rất khỏe, ông ấy là nhà thể thao, ông hiểu không?... Người bạn thân mến đã hiểu: nhờ có thể thao, nhất là xe đạp, người ta đỡ mau già, nhưng ở các xứ thuộc địa, với cái khí hậu này thì làm sao mà chơi thể thao được? Chúng ta đang nói gì nhỉ? À phải, ông già bị lạc. Chẳng may rồi, Không có dấu vết gì của ông già tên Louis cả, mà tôi đã hỏi nhiều người. Người ta nói rằng, với tình hình hiện nay thì những kẻ lỳ như gấu cũng phải ra khỏi hang. Tôi không nói điều đó đối với người mà ông đang tìm đâu. Cố nhiên. Cố nhiên rồi. Những người tốt nhất trong số những người bạn thân mến còn thêm được vài nhận xét về cuộc đua ô tô: Ông biết Fangio chứ? À phải, ông không biết, đó là trước chiến tranh. Không còn nghi ngờ gì nữa, buổi hội đàm kết thúc. Gabriel đứng dậy. Ông cũng không quay lại để chào tạm biệt hoặc cám ơn nữa. Vì người bạn thân mến thường là nhún vai khi thấy kẻ quấy nhiễu ra về. Và cái kiểu nhún vai ấy đã làm hỏng hoàn toàn những ngày đã lắm ưu phiền vì vắng bóng người bố, và vì cơn mưa phùn lạnh giá ở Hà Nội, cái mưa phùn giống như ở Saint – Brieuc hay Lannion.

Có khi ông gõ cửa một văn phòng. Cô thư ký không trả lời, nhưng ông lại nghe thấy tiếng cô đi đi lại lại và tiếng nói ở điện thoại. Ông bước vào phòng và tức thì đưa ngay ra dưới mũi cô thư giới thiệu với chữ ký đầy hiệu lực, Nghiệp đoàn những chủ đồn điền, vết các ngón tay…

- Để tôi xem – cô ta nói – tôi sẽ phát điên lên mất, lúc nào tôi cũng bị quấy nhiễu.

Nhiều hộp giấy các tông xếp chồng xung quanh bàn giấy, và cạnh chiếc gọt bút chì là một chồng đầy những nhãn hiệu trắng viền màu nâu nhạt, màu của bìa các tông.

- Tiếc thay, ông bạn thân mến, với tình hình như hiện nay…

Thời tiết giống như ở xứ Bretagne: trời màu xám, sương mù, mưa phùn lại xuất hiện vào lúc mười giờ. Khi đó người ta nghe thấy tiếng máy bay.

Gabriel nghỉ tại khách sạn Vịnh Hạ Long, không xa trung tâm bao nhiêu, một khách sạn hai tầng giản dị. Người ta vừa mới thêm một tầng thứ ba gọi là tầng mái che, buồng của ông ở đó.

Các chủ khách sạn không còn quan tâm đến khách hàng nữa. Họ nghe rađiô, rồi chuẩn bị hành lý, lại nghe rađiô, rồi lại chuẩn bị hành lý vội vã hơn. Khách sạn vắng dần. Một hôm, những bức họa treo ở hành lang, những bức phù điêu kiểu Nhật Bản, của Đài Loan đã biến mất. Ngày hôm sau, đến lượt các rèm cửa… Các chủ nhân đảm đang này đã rất chiều chuộng vị khách mới đến. Từ khi còn trẻ, Gabriel đã có thói quen là gây cảm tình với các chủ khách sạn. Các vị này thì lại có thiên tính gia đình, có lẽ, vì họ là chủ của hàng tá các căn buồng. Họ chắc đoán ra được là Gabriel mồ côi mẹ và ông có cái tính ưa lang thang của bố ông. Khi họ thấy ông trở về, người bơ phờ, lạnh cóng và chắc chắn là hỏng việc, họ bèn mời ông ăn tối. Cơm còn ấm, cá kho và rượu chua của Rennes. Rượu đỏ của chúng tôi ngon đấy chứ? Họ làm như xứ Bretagne không có nho không bằng! Họ trình bày với Gabriel công việc của họ:

- Nhờ có người Trung Quốc, bây giờ chúng tôi đã có va li. Ông biết không, từ khi Điện Biên Phủ bị bao vây, một ngày lại có nhiều thuyền buôn chở đầy va li rỗng từ Hồng Kông tới. Đó không phải là một điều lành, tuy nhiên những người Trung Quốc này đã tới là may cho chúng tôi, Ở địa vị chúng tôi thì ông sẽ làm gì? Hai mươi giường, mỗi giường hai bộ, như vậy là tám mươi đệm trải giường. Nếu là ông thì ông có gửi ngay những cái đó về Pháp không. Một khách sạn mà không có đệm trải giường thì sẽ bị cuống cấp và chúng tôi không thích những đồ cặn bã, có phải không, Annette?

- Phải, ta sẽ đi cùng với các đệm trải giường.

- Dẫu sao, chúng tôi cũng bị kẹt lại một tuần lễ vì cái tuần trăng mật này (tiếp theo cái tuần trước).

- Anh nói có lý đấy. Tôi quên mất. Tuần trăng mật thì phải có đệm giường. Ông cho phép tôi gọi ông là Gabriel chứ, với tình hình này…

- Tôi cảm thấy rằng hai vợ chồng mới cưới sẽ hòa hợp với ông Gabriel. Họ từ Sài Gòn ra, họ là nhân viên Bưu điện, và cũng đã lớn tuổi. Người ta nói rằng, họ đã hợp lý hóa quan hệ, nhưng họ là những người rất có lễ độ.

Ông chủ khách sạn vừa nói vừa húp píp. Sau mỗi câu, lại nhả khói thuốc. Khói thuốc lúc nào cũng quẩn trong phòng. Cặp mới cưới này có ý nghĩa kỳ cục là ra thăm miền Bắc của chúng tôi. Đặc biệt là thăm những kỳ quan về địa chất, những núi đá ở vùng Vịnh. Họ say mê môn địa lý, đó là điều bình thường ở những người làm Bưu điện, ông sẽ trò chuyện được với họ, cao su dẫu sao cũng là địa lý đấy.

Những buổi tối ở Hà Nội buồn đến chết được. Rượu vang xứ Rennes cứ hết cốc nọ đến cốc kia. Gabriel chuếnh choáng lên phòng mình. Ông mơ thấy gặp lại Louis ở trên cầu lớn Paul-Doumer.

Ông Louis đề nghị chơi trò ú tim. Gabriel đứng dựa vào thành cầu hoen rỉ và đếm đến một trăm. Rồi Gabriel phải đi lùng sục khắp cả Vịnh Hạ Long mà không tìm thấy ông ta đâu. Sau đó, Gabriel đã mời hai vị chỉ huy của hai tàu sân bay giúp đỡ, dĩ nhiên là phải hứa với họ một số tiền thưởng. Hai vị chỉ huy nổi giận. Họ đâu có thì giờ để đi tìm ông Louis! Cuộc thủy chiến đang diễn ra ở phía Tây, ở phía nước Lào, một cuộc chiến ác liệt giữa tàu sân bay và đội quân xe đạp. Đến cuối giấc mơ, các vị chỉ huy đã bắt Gabriel vì tội hối lộ viên chức nhà nước. Khi đó xuất hiện hai nữ hoàng, một da hồng là Ann và một da nâu là Clara, họ mặc áo dài đen kiểu Trung Quốc. Họ lắc đầu, anh đáng bị kết tội. Họ nói tiếng Anh rất quý tộc và không hề mỉm cười. Đội hành quyết đã đứng thành hàng. Đó là những người lính tý hon mang theo cái đầu mèo xiêm. Gabriel hét lên và tỉnh dậy. Các nhân viên khách sạn ở nhà dưới nên không nghe thấy. Thật là may.

Ông đã vô tình tới phi trường Bạch Mai.

Vì ông đã đi một chiếc xe buýt và chiếc xe này  đã bị một toán lính trưng dụng, vì họ muốn đến phi trường quân sự ngay lập tức. Trên một chiếc xe buýt bị trưng dụng đang phóng hết tốc lực thì không thể xuống được, trừ khi liều nhảy. Đó là việc làm quá liều lĩnh và vô trách nhiệm. Khi người ta có một gánh nặng gia đình đông đảo như Gabriel: nào là bố Louis, Ann, Clara và biết bao kỷ niệm về ông Markus, bà Élisabeth, và bà Marguerite, công dân Mỹ.

Phi trường Bạch Mai.

Chỉ vài tháng sau là mọi người đã làm ra vẻ quên mất phi trường này. Còn có một số người dám thề rằng chưa bao giờ nghe thấy cái tên ấy. Nhưng trong tháng Ba, tháng Tư và đầu tháng Năm vừa qua, đấy là nơi người ta lui tới nhiều nhất. Một đám đông tràn ngạp phi trường như ở nghĩa địa ngày thăm mộ. Nhiều gia đình đến hỏi tin tức. Nhiều nhà báo đến vì những tin đồn. Những lính nhảy dù đến để đi làm nhiệm vụ. Những phi công mệt lử đến để ngủ. Những trung úy tầm cỡ Hoàng đế Jean de Lattre đã mất, đến để nhắc đi nhắc lại câu cửa miệng “bề bộn làm sao!”. Những nhà khí tượng đến để quan sát bầu trời. Lính Mỹ đánh thuê đến để bay bằng những chiếc máy bay Pháp. Lính lê dương đến để nói tiếng Đức. Rồi có những kẻ đã nghĩ ra kế hoạch màu nhiệm để thắng cộng sản trong một tuần lễ, cứ như là dùng một thứ thuốc diệt cỏ vậy. Có những người đến đòi gặp ngay tướng chỉ huy. Có những kẻ bị đuổi khéo, lại trở về Hà Nội bằng xe buýt, luôn mồm chửi bới cộng sản. Họ là người biết ơn các kế hoạch gia. Những nhà buôn đã phải trả giá đắt. Những phu khuân vác lưu động, những người sống dựa vào khách thập phương mọi nơi tràn đến. Có cả những nhà du lịch đã tính nhầm địa điểm, họ đang tìm đến để đăng ký vé đi Sài Gòn, Paris, Salzbourg, San-Francisco, những chuyến bay thường kỳ với những hành lý quá tiêu chuẩn…

Đó là chưa kể đến đặc điểm của Á Đông: một khoảng đất nhỏ cũng có thể trở nên đông đúc.

Cũng không nên quên rằng những phi trường quân sự chỉ có những phòng đợi chật hẹp. Như vậy là chúng tôi chen chúc nhau. Nhưng Gabriel không tới đây để nói về sự thoải mái của mình. Cái đặc sắc của Bạch Mai là ở chỗ khác, đó là cảnh tượng giống như cái boomeran: các máy bay cất cánh từ Bạch Mai lại trở về hạ cánh ở Bạch Mai sau hai hoặc ba giờ bay. Không phải là những phi công, mê tín hoặc có thói quen như vậy, nhưng đó là vì pháo binh địch đã chơi khăm, phá hủy nơi họ phải hạ cánh.

Tiếng Việt: Điện Biên Phủ.

Tiếng Pháp: thị trấn của chính quyền nơi biên giới.

Từ cuối tháng Ba, không máy bay nào hạ cánh xuống đó được nữa: đường bay đã bị phá hủy hoàn toàn.

Tôi tự hào về tôi. Còn Gabriel thì tự hào về ông ta. Ông đã hành động có phương pháp.

Ông đã tìm tòi trong chính bản thân mình. Ông đã rút kinh nghiệm từ những Giải Thưởng Lớn ở Monaco, người duy nhất biết tất cả mọi việc, bất lỳ lúc nào, thí dụ như chiếc khăn quàng đỏ chấm trắng của Chiron ở chỗ nào, cô Gladys người Mỹ, người mà Nuvolari yêu thích đã rời khỏi phòng cô mang theo va li hay không, người duy nhất là ông Christophe, người chủ quán rượu ở khách sạn Paris, một người Do Thái, gốc Hà Lan, cũng như Spinoza, cũng có lòng nhân ái nhưng không hề đãng trí.

Không trù trừ, Gabriel tiến về phía ba chiếc bàn căng tin đặt ngất ngưỡng trên các thùng gạo dùng làm quầy rượu. Họ chuyên việc mở nút bia hơn là phục vụ cho một quầy rượu (người bán rượu: đó là nhà khoa học đang tìm thứ rượu triết học có thể biến đổi cuộc đời này thành hiện thực) nhưng công vụ tạo ta con người và nhà bán rượu được nhà nước chiếu cố.

Khi Gabriel vừa nói đến Dekaerkove, người dẫn đầu cuộc Đua Vòng Quanh nước Pháp, hai anh chàng bán rượu “dởm” đã đánh rơi chai bia.

- Đó là một tay đua không thể bám sát được. Người ta đã thử cả một đêm… thế mà tôi cũng từng đăng ký ở VC XII, rồi đấy nhé.

- Gặp được một nhà chuyên môn là tốt lắm, ông bố già hãy tin bọn tôi. Một làn không khí thực sự của Paris! Còn ở đây, họ chỉ làm ra vẻ hiểu biết để tranh thủ cảm tình của bọn tôi, thực ra thì họ mù tịt.

- Anh còn quên tay Georges to lớn, người yêu của bà Stern ấy à.

Gabriel tự hỏi bà Stern xinh đẹp ấy cỏ thể là ai nhỉ? Người đã lưu lạc sang Việt Nam? Hay còn ở bên Pháp? Ông đành nhủ thầm: có lẽ đó là người vợ chưa cưới cuối cùng của bố Louis cũng nên.

Anh bồi rượu đứng ở phía trái rất khoái chí, Dekaerkove, VC XII,… Anh ta làm ra vẻ kính phục, say mê…

- Phải, tôi có thể nói chắc chắn là ông Dekaerkove làm một tay đua không ai bám sát được. Ông ấy muốn tới Điện Biên Phủ như mọi người khác. Đó là mốt mà. Vì thế, người ta đã mách cho ông ta đúng cửa để chạy. Bộ trưởng Pleven vừa mới tới. Ông có thể tưởng tượng bộ trưởng ở bờ bể với bộ tịch như sau: mũ Panama, bộ đồ trắng, giày môcátxanh có đục lỗ… Việt Minh chắc là phải cười bò khi nhìn qua ống nhòm thấy bộ trưởng lên bờ. Phải, tôi biết họ, những vị bộ trưởng đi thị sát. Ta chỉ cần nói lên quê quán của họ là họ xử nhũn liền. Quê quán của bộ trưởng Pleven ở đâu nhỉ? Saint-Méen, một nơi khỉ ho cò gáy… Vậy thì, ông Dekaerkove chỉ cần nói lên một từ là lập tức ông bộ trưởng sẽ cho đi thăm lòng chảo Điện Biên Phủ ngay… Không biết tại sao tôi lại kể cho ông nghe chuyện này nhỉ?

Rồi cả hai anh lại tiếp tục lau, rửa và vẫn còn bĩu môi.

- … Dẫu sao, họ cũng đã từ chối, ông ta và bạn ông ta, một ông cũng già khụ, xin cứ xem trên bảng thì biết. Họ muốn đến lòng chảo bằng phương tiện của họ. Họ cần đến một cái bản đồ… Bố già xích lại gần đây, đây chẳng phải là một điều bí mật, cả hai chúng tôi đã giúi cho họ một tấm bản đồ Bắc Kỳ tỷ lệ 1/2000000… mong rằng điều này ông không kể ra ngoài, vì tình hình hiện nay… Bố già có họ hàng với họ à? Bố già cũng là tay đua xe đạp đấy chứ?

Thế rồi tay đua của VC XII đã bỏ rơi bạn anh ta cùng khăn lau chùi và đi theo tôi.

- Tôi sẽ chỉ cho bố, không biết bố thế nào chứ, chính đảng của tôi là xe đạp.

Chúng tôi lặng lẽ bước bên nhau. Người ta nghe thấy tiếng động cơ chói tay, và xa hơn là tiếng ồn ào của một đám đông đang ra khỏi phi trường. Anh ta chỉ cho tôi con đường ở bên phải.

- Cả hai vị ấy đã đi về phía đằng kia, phía Tây. Ông Dekaerkove đi trước, ông kia theo sau. Nhưng bố già có họ với ông nào? Tôi biết ngay hai người ấy là hạng người nào. Không phải là những nhà thể thao trong phòng đâu, đó là những tay đua thực thụ đấy, dù họ đã cao tuổi, nhưng tôi biết họ là những tay đua điểm hình của LongChamp. Và họ cũng tính toán ra trò: họ dùng xe Manufrance, khung hơi nặng nhưng chắc chắn, và tuyệt hảo đối với miền đó. Ông có biết là ông Dekaerkove gọi Điện Biên Phủ là gì không? Một lòng chảo, xe đạp của Việt Minh chạy chung quanh, chỉ còn thiếu những đường vòng có mặt nghiêng về phía trong. Không hiểu Việt Minh sẽ có tiếp đón họ không? Còn bố già chắc cũng lo lắng về điều đó chứ? Việt Minh có thật là thích xe đạp không? Tất cả vấn đề là ở đó…

Chúng tôi quay về quầy rượu tạm bợ của anh ta. Anh ta không muốn vắng mặt lâu, sợ lại bị đuổi về nơi đồng ruộng khi phạm phải một điều ngu ngốc nào. Anh ta nói, nói và nói không ngừng với giọng của dân Paris. Ta chỉ cần nhắm mắt lại và tưởng như mình đang ở Grenelle vào những buổi chiều thả ngựa.

Con đã hỏi thăm tin tức của bố, bố Louis ạ. Không có kết quả gì. Lúc nào cũng chỉ nghe nói đến ông Dekaerkove, một con người rất uyên bác và rất có cảm tình. Còn bố thì có lẽ bố đã tỏ ra hơi kiêu. Con đã phải nói với anh ta rằng ông Dakaerkove chính là bố của con để anh ta vui lòng. Không biết anh ta có tin không: thỉnh thoảng anh ta lại nhìn con một cách lạ lùng.

- Có điều gì đó mách bảo với tôi rằng ông ta là cộng sản, cái ông cùng đi với nhà vạch đường đua ấy mà. Tôi tự hỏi không biết tôi đưa cho ông ta chiếc bản đồ là đúng hay sai.

- Ông ấy mà là cộng sản ư? Tôi tin chắc là không, tôi cũng biết ông ta ít nhiều.

- Dù sao, ông ta cũng đã lập danh sách những dân tộc có mặt ở Điện Biên Phủ, ba mươi bảy tất cả: dân xứ Marôc, Sénégan, Thái, Campuchia, Malgache… Tôi đã quên các màu da, nhưng tôi nhớ kỹ con số ba mươi bảy. Ông ta nói Điện Biên Phủ là cuộc triển lãm thuộc địa cuối cùng. “Cuộc Triển lãm thuộc địa”, có phải là ngôn từ của cộng sản không. Còn tôi, thì những người cộng sản…

Anh ta giơ hai tay đầy bọt lên khỏi chậu rửa bát và làm nước bắn tung tóe.

- Thôi mà, - người đồng nghiệp của anh nói.

Không cần ngẩng đầu lên nhìn, qua lỗ tai người ta vẫn có thể nhận ngay ra họ.

Dựa vào chuyện họ nói với nhau, chẳng có đầu đề, chỉ có điệp khúc: tôi muốn nhảy dù xuống Điện Biên.

Buổi sáng, họ tới từng đợt một. Không phải chỉ có quân nhân. Có cả một vài phụ nữ, họ chỉ đem theo những thứ thật cần thiết trong một chiếc ví nhỏ xách tay. Khi nhảy dù thì không thể mang nặng.

Bộ Tham mưu cũng không muốn khoe khoang điều đó, nhưng họ đã phải mở một phòng đón tiếp. Những người tình nguyện xếp hàng đôi, trại lính dựng bằng đồ lắp ghép. Một bàn gỗ trắng, ngồi sau là viên đội nhất. Trên tường treo ảnh của Vincent Auriol, Đông Dương còn thiếu Coty.

- Thế nào?

- Tôi muốn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.

- Tại sao?

- Để cùng chiến đấu với họ.

- Anh cũng là lính dù à?

- Không.

- Cảm ơn. Người tiếp theo.

Nhưng, những người tình nguyện vẫn đứng đó, họ mỉm cười với viên đội mũ nồi đỏ. Vì báo chí đã điên rồ đăng những thống kê kiểu Mỹ. Khi nhảy dù, người lính mới cũng không bị nguy hiểm hơn người lính kỳ cựu. Đó là cái may của sự trong trắng. Đến lần nhảy dù thứ hai thì bắt đầu tai hại. Nhưng ở Điện Biên Phủ, người ta chỉ nhảy có một lần có phải không, thưa xếp? Thế nào, xếp, ông ghi tên tôi vào danh sách chứ?

Người xếp giữ thái độ lịch thiệp. Anh ta hứa hẹn suông.

- Tốt thôi, tôi sẽ ghi sổ. Anh hãy để lại địa chỉ. Chúng tôi sẽ thành lập những phi đội mới. Người ta sẽ báo cho anh đến dự lớp huấn luyện. Người tiếp theo.

Sau đó, đoàn người xếp hàng mới giải tán, nhưng họ vẫn còn quanh quẩn ở Bạch Mai.

Gabriel chỉ quay lại khách sạn Hạ Long có ba lần. Để ngủ và tắm. Chủ khách sạn tỏ vẻ lấy làm tiếc.

- Ông đã không gặp được cặp vợ chồng mới cưới rồi. Họ rất tuyệt và rất kín đáo. Giống như ông vậy. Hẳn là do yêu mến môn địa lý. Còn phòng? Và giường, đệm của ông thì thế nào đây?

- Ông hãy giữ lại cho tôi.

- Ông ăn tối với chúng tôi chứ?

- Không được. Nếu bố tôi quay về thì…

- Ồ, bố ông quả thật là có phúc. Chẳng như các con chúng tôi đối với chúng tôi.

Gabriel tưởng tượng ra những con người ấy, họ bán đồ sắt ở Pommerit - le - Vitcomte hay làm người phụ coi ga ra ô tô ở Lanvollon. Những người dân Breton, ở những thế hệ trước, xung vào hải quân để xuôi ngược trên các biển nhiệt đới. Bây giờ, người dân các miền bờ biển phương Bắc không còn mơ tưởng đến Trung Quốc và Đông Dương nữa.

Gabriel lại tới phi trường quân sự, túi nhét đầy bánh Traou Mad. Theo lời chủ khách sạn thì bơ phết trong bánh có thể thay cho thịt và làm ta tỉnh táo.

Thỉnh thoảng, một dáng người, dầu mỡ lem luốc, dừng chân đẩy nhẹ cửa (để khỏi bẩn cửa) vào lay một người đang nằm dài:

- Xe tắc xi đang đợi, thưa trung úy.

Viên trung úy vung tay:

- Có chắc không, có thật chắc không?

Ở quán rượu, những người thợ máy kể lại chiến công của họ: họ đã sửa chữa tất cả chỉ bằng những sợi dây thép, những ghim cài tóc, Myriam đã khẩn khoản đề nghị đặt ba chiếc ghim riêng của cô trong chiếc Morane[1]. Được rồi, chúng được dùng để đóng kẹt cửa sổ bên trái. Myriam đã muốn gửi một chút gì của cô ấy đến mặt trận, cậu hiểu không…

Những cô khác thì gửi mớ tóc, ảnh, sáp môi, bông tai, hoa khô.

Anh hãy dán tất cả lên bảng buồng lái. Các máy bay đã dần dần trở thành nhà bán đồ cổ? Bỗng nhiên, một trận ẩu đả nổ ra giữa không quân và không quân thủy chiến. Thường thì vẫn xảy ra như vậy, và thường được dàn hòa bởi những lính đánh thuê Mỹ, bọn người được Bộ Tham mưu ưu đãi. Trước khi đấm nhau, họ thường dùng những lập luận bí truyền để cãi nhau.

- Chắc chắn là các máy bay săn lùng hoạt động kém ở độ cao dưới 8000 bộ.

- Anh đã thấy chiếc Bearcat chỉ luẩn quẩn trong mây, đúng không?

Cũng có cả những cuộc nổi loạn nữa. Nhiều người như Gabriel muốn nhảy dù, nhưng họ không hiểu vì sao họ lại bị từ chối, trong khi ở mặt trận những anh hùng ở chiến hào đang chiến đấu một chọi năm. Họ nêu những lý lẽ nghe khá lọt tai: tôi là nhà vô tuyến nghiệp dư, tôi là thầy thuốc, tôi là thợ máy… Tôi muốn đến giúp bè bạn tôi…

Các viên đội không biết trả lời ra sao. Hoặc là họ nói giống như ở Hãng hàng không Air Fance vào dịp nghỉ hè: các anh đến quá muộn, không còn chỗ nữa. Các người tình nguyện liền đối đáp: ở Đông Dương, máy bay không bao giờ chở đầy, bao giờ cũng có thể nhét thêm một người phu, một con lợn thay vào chỗ bình chữa cháy…

- Nói khẽ thôi, khẽ thôi, - hai viên đội hét toáng lên.

Họ chỉ tay về phía bên kia hàng rào, những phi công đang nằm co trên ghế dài nhỏ hoặc nằm dưới đất, hai tay dang ra, đầu ngửa về phía sau, mồm há hốc. Họ không có thời giờ để về Hà Nội nữa. Sự quay vòng quá nhanh. Báo động thường xuyên. Bất thình lình, một người trong bọn họ đứng phắt dậy, mắt lờ đờ. Họ bị cơn thiếu ngủ hành hạ.

- Đến giờ rồi à, cậu có chắc không?

Hoặc là người ta thấy họ ngồi lỳ ở quầy rượu và nói chuyện về gió.

- Với gió tạt thế này thì làm sao thả xuống cho ổn được.

- Còn nơi đóng quân thì càng ngày càng bị thu hẹp. Gabrielle, Béatrice, Anne - Marie… đều đã thất thủ.

Thời đó, mọi người đều nắm được vị trí các ngọn đồi mang những tên phụ nữ. Hai ngôi sao của tướng phong cấp hàm cho tướng de Castries đều rơi xuống vùng địch. Những chiếc loa phóng thanh của Việt Minh không ngừng cảm ơn, có vẻ như thế, về những thứ từ trên trời rơi xuống, hành chục huân chương. Họ muốn chứng tỏ rằng họ mong nhận được lương thực hơn.

- Cần phải có Trái Bom, - các phi công nhắc đi nhắc lại với nhau.

- Người Mỹ đang chuẩn bị nó cho chúng ta. Nhiều người tình nguyện đang nhảy dù tiếp tục đến. Bằng xe hỏa hoặc xe hơi. Họ đến từ khắp mọi miền ở Đông Dương. Họ thấy cần làm một cái gì đó, cần không thể tưởng được. Họ cần có tình bạn, hành động anh hùng, một chút ít sợ hãi. Nhưng cái chết là chắc chắn. Sự cần thiết thuộc về một cái gì. Người ta có cảm tưởng rằng có thể đi sâu vào các ngóc ngách của con người, mở hết các buồng, mổ xẻ, phân tích những đêm tối, những cái bụng, những lo âu lúc bốn giờ sáng, tất cả những gì mà người ta rất ít gặp, sự trần trụi…

Bỗng nhiên ngừng ồn ào.

Ngừng bặt.

Khi giờ khởi hành được loan báo, đoàn người tình nguyện thật, những người sắp sửa nhảy dù, rùng rùng chuyển động, họ ôm chặt trong lòng gói dù trắng, giống như một chiếc gối lớn, mặt họ tái nhợt.

Chỉ lúc đó mới thật yên lặng.

Người ta chỉ nghe thấy có tiếng bước chân đi xa dần, sau đó, tiếng động của người chơi bóng bàn rất chậm ở trại bên cạnh, giống như tiếng nước dò rỉ từ một cái vòi.

Nhảy dù là một sự bật nảy, Gabriel tự nhủ. Tôi cũng là một người nhảy dù với quả bóng đỏ của tôi. Một người nhảy dù hay mơ mộng, ở trong mây, rất hèn nhát, dễ bị chóng mặt, nhưng là người nhảy dù.

Mỗi ngày hai lần, các nhà báo ập đến. Họ nhảy từ tắc xi xuống như từ một xe Jeesp vậy. Họ nhẩm lại bài báo của họ, họ tỏ ra thức thời. Họ bẩn thỉu, thô lỗ, say rượu và tuyệt vọng.

- Thế nào rồi? – Họ hỏi.

Họ đánh thức những người đang ngủ:

- Thế nào rồi?

Không ai có thể trả lời: bí mật quân sự! Chẳng có gì quan trọng, các nhà báo đã biết câu trả lời.

- Huguette thế nào rồi? Thất thủ rồi à?

Các nhà báo tấn công những người ngồi xổm ở các góc phòng. Đó là thông tin viên của những thông tin viên, những người Việt Nam được đặc phái thường trực ở các phòng đợi.

- Thế nào rồi?

- Chẳng có gì hết.

- Đã một tuần nay, cậu chẳng cho mình được tin tức gì. Tớ cũng chẳng cho cậu được gì. Thế là hòa.

Rồi họ lại đi lùng sục ở chỗ khác, để thông báo cho toàn cầu.

Khi đi tản bộ gần chiếc máy bay, Gabriel đã tình cờ biết được sự kết thúc của tình hình. Một người thợ máy đang sửa một bảng điều khiển trong buồng lái của chiếc máy bay Invader 326. Anh ta bị lút đến cổ. Tiếng giày của tôi vang lên trên đường băng. Anh ta đã tưởng tôi là một đồng nghiệp. Thường người ta vẫn hay nhầm tôi là một đồng nghiệp.

Tôi nghe thấy tiếng càu nhàu:

- Thôi đừng tản bộ nữa, hãy giúp tớ một tay. Nào cầm lấy cái dây này.

Tôi leo lên buồng lái. Tai tôi chạm vào các ống nghe.

Và như vậy là Gabriel đã nghe được cuộc đối thoái lịch sử.

Anh tưởng rằng các tướng nói với nhau bằng những từ quy ước. Nhưng không, họ vẫn dùng những từ thông thường hàng ngày.

“… Những gì ông đã làm cho đến nay, đều tuyệt đẹp. Không nên làm hỏng tất cả bằng cách kéo cờ trắng. Các anh đang bị tràn ngập, nhưng không được đầu hàng. Không được kéo cờ trắng”.

Người thợ máy đứng lên, dập đầu vào cần lái. Chúng tôi chạm đầu nhau. Sau một lúc im lặng, một giọng khác nói tiếp.

“- Tốt thôi, thưa đại tướng. Tôi chỉ muốn cứu các thương binh…

- Phải, tôi biết. Ông hãy cố gắng làm cái đó thật tốt… Những gì ông đã làm đều rất đẹp, nên ông hãy làm việc đó đi. Ông hiểu tôi chứ, ông bạn già?

- Vâng, thưa đại tướng.

- Thôi, chào ông bạn, hẹn sẽ gặp lại”.

Người thợ máy đã đánh rơi chiếc kìm.

- Bây giờ thì chẳng cần chữa làm gì nữa, phải không anh bạn. Anh nghĩ sao? Ồ, anh đang làm gì đấy?

Câu chuyện tiếp theo diễn biến khẩn trương.

Đến Hà Nội. Gabriel thấy cửa khách sạn Hạ Long đã đóng. Trên tấm biển tráng men có dòng chữ

Tiện nghi đầy đủ

Không có buồng cho khách thuê trong ngày

Món ăn lịch sự

Đặc sản của miền biển

Có một bức thư nhỏ dán bằng băng dính. Tôi nhìn kỹ. “Gửi Gabriel”. Một thứ chữ của học sinh tốt nghiệp cấp I với những nét đậm và nhạt.

“Vì tình hình, chúng tôi ra đi. Chúng tôi chúc các ông sức khỏe tốt, ông và bố ông. Hãy tin ở những lời chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi. Ký tên: ông, bà Leguillou.

TB.: khi quay về, chúng tôi phải chi nhiều, vì vậy chúng tôi xin gửi kèm theo thư phiếu thanh toán tiền.

Ông, bà Leguillou, 7 Bis Quảng Trường Martray, Paimpol”.

Ở ga, người ta đang đánh nhau.

Chuyến xe lửa xuyên Đông Dương chật cứng. Chật cứng hành khách, như tất cả những chuyến xe lửa khác ở Á Đông. Người thì đứng trên nóc tàu, người thì ngồi xổm ở bậc lên xuống, có những gia đình đông đủ, người bố đội mũ, người mẹ với bộ cánh, và trẻ con đang khóc. Người bố đội mũ giơ vé tàu lên vẫy, và chỉ vào toa tàu đã chật cứng, ông ta kêu lên, đi toa này vé đã đặt chỗ rồi. Vợ ông ta rầu rĩ: ông hãy làm gì đi chứ, ông hãy nói cho họ biết ông là ai đi. Người chồng giơ chiếc ô lên.

Chất thành đống trên sân ga hành lý của một thành phố đang di tản: tủ lạnh, tủ áo xứ Lorain, tủ sách, ngựa gỗ bập bềnh, bản đồ, rồi đến các hòm lớn, đệm trải giường cuộn lại, một xe đạp máy… Bốn nhân viên đường sắt đang quay tròn quanh các núi đồ đạc ấy, họ giơ tay lên trời. Các ngươi muốn gì nào? Tất cả những thứ này thì đã có tàu biển. Rồi một chiếc xe tải Citroёn kiểu trước chiến tranh tiến đến. Người lái và người đi xe, một người trẻ tuổi lịch sự có râu cằm, họ yêu cầu giúp đỡ để khuân hàng xuống.

- Còn gì nữa thế này, - người xếp ga quát lên.

- Công ty Địa lý, đây là hồ sơ của chúng tôi.

- Các anh phải đợi.

Những hồ sơ rất nặng. Các người khuân vác chỉ xê dịch được từng xăngtimét. Một hòm rơi xuống, vỡ toang trên nền xi măng, loảng xoảng tiếng gương vỡ. Nhà địa lý vội chạy đến, anh bới tìm trong đống kính vỡ, anh rơm rớm nước mắt. Anh lẩm bẩm:  “Các ông thấy đấy, tất cả xứ Đông Dương ở thế kỷ XIX là ở trong đống này!”. Tay anh ta đầy máu. Ở thời ấy, các tấm ảnh đều chụp trên kính. Anh ta gần như phát điên, anh chạy dọc theo đoàn tàu đang bắt đầu chuyển bánh. Anh đưa cho một số hành khách đi tàu, những tấm kính còn nguyên vẹn: “Xin nhờ ông giữ cẩn thận và chuyển hộ tới phố Saint – Jacques ở Paris…”.

Trong hai ngày đêm đi trên tàu, Gabriel phải giữ một tấm hình cảm động (bà Verneville và ông tổng thanh tra Verrier đang ngồi trên mình voi chuẩn bị đi săn hổ), góc dưới bên phải nhọn hoắt của tấm kính đâm vào xương ức của ông. Bây giờ, ông hãy còn giữ dấu vết của nó. Khi nghe ông kể đến lần thứ mười nguyên nhân của vết xước đó, Clara đã kêu lên: Anh nói dối, đây là do một phụ nữ gây ra. Có lẽ Clara đã nói thế để cho ông vui.)

Mỗi khi đoàn tàu dừng lại tại một ga. Chính quyền ở các địa phương lại đưa đến nhiều hòm đồ nữa, lại những trái núi nữa:

- Chúng tôi đã chuẩn bị xong. Ông hãy đọc chỉ thị của bộ. Tất cả đều phải chuyển đi Sài Gòn. Đây là một số tài liệu của Sở Điền thổ, Sở thuế, hồ sơ của nhân viên di tản, những học bạ…

- Không thể được! Không thể được!

- … Còn đây là sổ sách về tài chính, hồ sơ về cải tổ chính quyền, ông hãy đọc tờ thông tư…

Sau khi huýt còi, ông trưởng ga tìm cách lỉnh đi, chạy theo ông là chính quyền địa phương; họ tức giận và dọa dẫm ông khi con tàu dần dần tăng tốc; trong khi đó, vẫn còn nhiều người tiếp tục leo lên tàu…

Đến ga cuối cùng, người ta không còn nhận ra đầu tàu và các toa khách nữa. Đoàn tàu xuyên Đông Dương chỉ là một khối đông đặc những đầu, những tay, những va li đang di chuyển trên đường ray, theo sau một đám khói.

❀ ❀ ❀

[1] Trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta thường quen gọi là máy bay bà già. (N.D.)

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.