Cửa ô Champerret từ nay có những người hâm mộ. Như Montmartre đối với những người khỏa thân hay Montparnasse đối với những người phóng đãng. Những gia đình đông đủ khoác tay nhau, những người tỉnh lẻ từng nhóm chạm khuỷu tay nhau, những người đơn độc lướt đi qua. Mỗi ngày, đám đông người thực sự đã đổ xô đến để ngắm các xe đua và hỏi han về các xe có dung tích xy lanh lớn... Nhưng những vấn đề kỹ thuật không lừa dối được ai. Tất cả mọi người đến đấy vì cái chết. Người ta đến để thở hít không khí có thể là của tử thần. Các kẻ tò mò căng mắt ra để nhớ cho rõ.
- Nhìn cho kỹ vào, Chiron đấy. Có thể là anh thấy anh ta lần cuối cùng đấy? Đúng, cứ xem cách anh ta lái xe. Còn người này nữa, Fagioli, không biết anh này còn sống được bao lâu nữa? Chiến tranh không đủ cho họ sao? Ít ra họ cũng đã chọn cuộc sống này. Anh có tin rằng sự mê tín có ích khi người ta là lái xe đua không?
Tất cả những người say mê cái chết tụ họp nhau tại đây, cũng như những người thích chơi cá ngựa tụ họp nhau tại Longchamp, những người quân phiệt thì ở quảng trường Étoile. Paris có các câu lạc bộ của riêng nó. Họ lượn quanh từ xe này đến xe khác. Họ đứng dọc trên đường, có vẻ như để xem động cơ.
- Xin đi tiếp đi, đi tiếp đi, - nhân viên cứ phải luôn mồm nhắc, nhưng chẳng ăn thua gì. Nhân viên vừa quay gót, các nhà say mê đã cúi xuống nhìn gầm xe và ước đoán may rủi:
- Xe Hunaudière, đi bốn kilômét đường thẳng, phanh thế này, nó không dừng ngay được đâu. Chủ Nhật sau phải tới đằng đó mới được.
Clara không rời khỏi ngôi nhà nhỏ của tôi tại Đại lộ Yser. Chưa bao giờ tôi thấy cô ta ở yên lâu một chỗ như vậy. Các giới ô tô say mê theo dõi cặp này. Này, người ta ngờ rằng anh có nhiều vấn đề đấy. Tất cả các cặp đều có vấn đề, ngay cả những cặp ăn ý nhất. Nhưng lần này, nói nghe xem, hình như tất cả đã được giải quyết.
Các bạn tôi đến (cũng như tôi): bà ta đã ở đây từ hai mươi mốt, hai mươi hai, hai mươi ba ngày... Với tư cách là những nhà thể thao cừ, họ thích những kỷ lục, họ nghĩ ra cho tôi nhiều loại luật lắm:
- Sau hai mươi ngày là đậu đấy.
- Anh tin thế ư?
Họ nhìn tôi như thể một người đàn bà có mang.
- Anh về ngay đi, Gabriel, tôi sẽ thu dọn ngăn chứa xe trước khi tham dự cuộc đua cho. Đầu tiên, không nên đùa với giờ giấc.
- Nhưng không phảilà buổi đầu.
- Cũng thế thôi.
Một lần nữa, Gabriel lại bắt đầu.
Và lại bắt đầu, lại bắt đầu với một phụ nữ là một công việc chiếm hết thời giờ. Trước tiên cũng là một công việc thuộc về thời giờ, một công việc của người hỏa xa (các cảm giác nối lại không mệt mỏi, các toa cứ rời ra) và của người chủ lâu đài (có bổn phận phải luôn luôn kéo lên hạ xuống những chiếc cầu treo). Đấy là chưa nói đến công việc chính là suốt ngày cứ phải tìm cách buộc neo để người phụ nữ không bứt ra bỏ đi. Và rồi các bữa ăn, mỗi ngày lặp lại hai lần, mặt đối mặt.
Lần này tôi sắp làm phiền lòng cô ta. Hôm nay phải chọn đề tài gì đây: sự dịu dàng, sự cợt nhả, hay nỗi khao khát thể xác?
Gabriel chuẩn bị trước, săn tìm trong ký ức của mình hay vểnh tai ra để tìm một chuyện buồn cười, một nét thơ. Anh soát lại các bản ghi chép của mình trước khi đến bàn ăn. Hôm nay, để giữ cô ta lại, mình phải tỏ ra lanh lợi không thì chưa đủ. Cô ta nhận thấy sự cố gắng của tôi, cô ta mơn trớn má tôi một cách đáng yêu.
- Thôi đi Gabriel, tốt rồi.
Tôi có thể giết cô ta về sự tự do quá trớn giống như chuyện những người đàn ông ngồi vào bàn ăn khi tất cả đã xong rồi còn nói vọng vào bếp:
- Em yêu, ra ngay đi, sắp nguội cả rồi.
Đã khá lâu rồi, Gabriel có thể cho phép mình được sáng suốt hơn: cô ta không còn là riêng cho anh nữa. Cô ta có một tham vọng khác.
Mới chín giờ sáng, cô ta đã ở hiện trường với những người đến đầu tiên, và ở cho đến đêm để nhặt nhạnh, vểnh tai nghe.
- Chỗ Champerret là một cái mỏ...
Cô ta ôm hôn tôi, một cái hôn lướt vội lên trán, cảm ơn, Gabriel, tôi tiếp tục viết trên quyển sổ nhỏ màu nâu nhạt. Cảm ơn, Gabriel, đã coi trọng công việc của em. Em tin rằng chúng ta còn ở lâu được bên nhau, anh và em. Ồ! Nhưng anh hãy nhìn chú nhóc kia đang đo khoảng cách của trục xe bên cạnh…
Cô ta vội chạy lại để phỏng vấn chú nhóc lẩn thẩn: cháu còn mẹ chứ? Cháu bắt đầu thấy thích xe ô tô từ lúc mấy tuổi? Thằng bé chỉ làu bàu trả lời, nhưng Clara tiếp tục những tiếng kêu khe khẽ và những lời khâm phục của riêng mình.
- Anh hiểu không, ở trẻ con là sự ham thích thuần túy chưa có tình cảm nào khác thay thế.
Gabriel nhún vai. Anh theo tiếng nói riêng của cô ta. Dù theo kiểu nào chăng nữa, một sự bắt đầu lại đòi hỏi phải có vô vàn điều mềm mỏng. Anh đành thích ứng tất cả với hy vọng giữ được cô ta, để cô ta không thấy có một trở ngại nào. Anh đặt sự cứu vãn của mình vào sự chiều lòng và việc chỉ chú ý tỉ mỉ vào trẻ con, đối với anh là một dấu hiệu tốt.
Bây giờ bọn trẻ con lại đến nhiều hơn người lớn vào ngày thứ Năm, Chủ Nhật và trong cả tuần lễ, vây quanh các chủ nhà chứa xe Levalloi và ở khu phố Champerret. Chúng đi la cà từ xưởng này đến xưởng khác như bọn trẻ nhỏ thường đi la cà để nhặt nhạnh mọi thứ vào túi của chúng.
Chúng đến từ các trường trung họcgần đấy: Carnnot, le Chaptal từ các trường tư ở Neuilly và chỉ trở về nhà sau giờ học. Vào khoảng chín giờ, bố mẹ hỏi tất cả các nhà khiêu vũ ở khu phố: ông bà có thấy một thằng bé tóc nâu tên là Albert không? Cảnh sát dùng xe đạp để xua đuổi chúng... Mãi về sau, các ông bố rất xấu hổ, đến đồn cảnh sát và nói: thưa ông, tôi hứa và sẽ không để xảy ra sự việc như thế này nữa. Nhưng vừa về đến nhà, những đứa bướng bỉnh lại bỏ đi. Mùa hè, người ta lại thấy chúng chạy từ cây này sang cây khác, đồng thời, chúng chơi trò kẻ chăn bò, trò người da đỏ, mặc áo ngủ nhạt. Chúng lợi dụng màu đen để ngồi trong các xe đua đẹp đẽ một phút rồi quay về nhà ngủ, dáng đi hơi giống kẻ mộng du.
Giữa tủ áo kiểu Loren và khung cửa sổ duy nhất nhìn xuống đại lộ, Clara đã dùng đanh ghim đính vào tờ giấy vẽ hoa dùng để dán tường một tấm bìa dài mà chỉ có hai chữ là nhận ra được: sinh (ở trên cùng) và chết (ở dưới cùng), chỗ còn lại chỉ là những mũi tên, khung chữ, cột, đường cong, những hình vẽ nhỏ...
- Anh Gabriel, anh thứ lỗi cho em về vẻ tối nghĩa này, nhưng em muốn dành cho anh một sự ngạc nhiên.
Và cô ta cứ luẩn quẩn suốt ngày này qua ngày kia trước tấm bìa dài đó, tẩy các hình viết loằng ngoằng, chuyển dịch chỗ của chúng, miệng thốt ra những tiếng, những lời lẽ lầm rầm khi giận dữ, khi thích thú, như bất cứ một nhà họa sĩ hướng ngoại giới nào.
Đôi lúc, cô ta bỏ bút chì xuống và vội bảo, làm cho em thư giãn đi anh, em thấy gân cốt ở vai như kết thành nút ấy. Gabriel bấm cẩn thận dọc theo xương quai xanh của cô ta, bên phải rồi bên trái. Ổn rồi, đã giãn gân giãn cốt rồi, cảm ơn anh, anh Gabriel. Không có anh, em biết xoay sở ra sao đây? Nhưng khi bàn tay người tẩm quất lần xuống phía dưới một chút thì nhà nữ khoa học ấy liền đứng dậy.
- Anh đừng nên nghĩ đến chuyện đó, anh Gabriel, em phải tập trung nghị lực của em vào ý tưởng. Sau này, ở Vienne nhé, em hứa với anh đấy.
Gabriel đành đi dạo chơi ở quãng giữa Péreire và Champerret. Anh đi dọc theo con đường vòng nhỏ bao quanh. Anh nhìn những đoàn tàu chạy qua. Anh đá vào không trung và không trung thì đầy chim bồ câu.
- Nếu không phải là người khổ sở thì đây là một người đau khổ! - Những người gác cổng của khu phố nói vậy khi gọi mèo của họ.
Nếu đời anh gặp đời của một nhà văn, dù thuộc hạng nào đi nữa: nhà viết tiểu thuyết, nhà viết bút ký, nhà văn viết thuê, nhà viết theo luận đề thì anh sẽ tự nghĩ rằng một quyển lịch bao giờ cũng là một món quà được người ta quý lắm.
Cần phải hiểu những nhà viết văn. Những ý tưởng và những nhân vật mà họ sử dụng thường là thoáng qua và có tạp chất bám quanh. Trái lại, những ngày lại là rất thực và dễ sai khiến. Người ta có thể xê dịch chúng, cộng chúng lại, trừ chúng đi tùy theo ý muốn. Vì vậy, Gabriel thường đều đặn luồn dưới khe cửa Clara một tờ bìa lớn có in ngày tháng, có ghi cả năm nữa, sáu tháng ở mặt trước, sáu tháng ở mặt sau.
- Ồ! Cảm ơn anh, - Clara nói, - cảm ơn anh.
Và anh nghe thấy cô ta lẩm bẩm: ngày mai 17, ta sẽ viết thật sự; ngày 20, ta phải làm xong phần vào đề, đấy là cuộc tiến công khó nhất. Ta sẽ lợi dụng ngày Chủ Nhật 21 để nghĩ về phần một, có thể cũng là ngày 22 thứ Hai, dù sao thì chiều thứ Sáu 25 tháng Sáu ta đã phải làm xong ít ra là hai mươi nhăm trang. Ta có nên tự ban cho mình hai ngày nghỉ trước khi đi vào phần thứ hai không? Cái đó tùy thuộc vào kết quả vv...
Rồi bất chợt, giữa đêm Clara gõ vào bức ngăn giữa hai buồng.
- Em đã làm xong, - Clara nói, - anh sang đi.
Luận văn đã để trên bàn, một tập giấy khoảng ba phân chiều dày. Clara đứng lên; nụ cười chiến thắng trên môi, gỡ trên tường xuống tấm giấy dài đầy những chữ ghi loằng ngoằng. Rồi cô ta đóng kín ý tưởng độc đáo trong một chiếc va li.
- Anh Gabriel, bây giờ em muốn đi dạo chơi.
- Clara, nhưng trời đã tối rồi.
- Thì sao nào?
Chúng tôi đi bộ đến rừng Boulogne. Clara cầm chắc va li của mình. Lúc trở về mặt trời đã mọc, ngay ở đầu Đại lộ Villiers, cô ta có một động tác không thể tin được đặc biệt của những người trí thức, bản chất vốn rụt rè, nhưng say sưa từng hơi thở một, có một sự kỳ thị không thể đo được: cô ta giơ thẳng tay về phía ánh sáng đang lên từ từ trên các nóc nhà, ánh sáng này là nhờ có em đấy, anh Gabriel, đúng là nhờ có em.
Tôi ngây thơ tưởng rằng Clara sẽ chỉ bằng lòng trình bày ý nghĩ độc đáo của mình cho các bạn đồng sự người Pháp nghe. Từ thời kỳ chiến tranh, tôi đã biết rõ họ, những tay xét đoán sành sỏi về tâm hồn, những tay lặn sâu vào cái tôi: Édouard Pichon, anh chàng cận thị có đôi kính tròn bao giờ cũng ngồi trong chiếc ô tô của người thấp khớp, René Laforgue có bộ ria mép, da mặt đỏ ửng của người Alsace, hay bà Eugénie Sokolnicka, người Ba Lan, bạn của Gides, biết tất cả các thứ tiếng...
- Đi Vienne, - Clara nói với tôi. - Em muốn đích thân đưa cho ông ta. Chúng ta đi vào thứ Hai sắp tới.
- Em nghĩ xem có nên bàn bạc trước một chút với các bạn đồng sự của em ở đây không?
- Để họ ăn cắp ý tưởng của em. Hoặc để họ dùng cặp mắt của họ bóp méo nó. Xin cảm ơn!
- Nhưng dù sao thì những nhận xét của em chỉ liên quan đến nước Pháp thôi. Và hơn nữa, chỉ về cổng Champerret, Levallois. Không biết ông ta sẽ nhìn nhận nó ra sao?
- Là vì anh cũng như các nhà báo, như các chính khách? Anh nghe em đi, anh Gabriel, nếu ông ta chỉ là một nhà tư tưởng nhỏ địa phương, ta cũng phải nói ngay thế, thì em biết căn cứ vào đâu. Và như vậy chúng ta sẽ chẳng còn gì để làm chung cả.
Chúng tôi ở lại Vienne một tháng trong một khách sạn cổ, Ungarische Krone, chúng tôi đã chọn nó vì một lý do duy nhất: không có một đồng sự nào lai vãng tới đấy, khác với Bristol, nơi có Marie Bonapartc thường hay lui tới, khác với Zita, nơi có Lou Salomé đang ở...
Khi chúng tôi mới đến, Clara đã giao một bản sao của ý tưởng độc đáo tại nhà của ông ta (“19 Berggasse, anh Gabriel, một kiến trúc lạ lùng, ở phía dưới thì hoàn thiện theo kiểu thời kỳ Phục Hưng, nhưng càng lên phía mái nhà thì lại càng điên rồ với những hình sư tử, những dây hoa, những tượng bán thân của các vị anh hùng. Em đã gặp người hầu của ông ta. Ánh mắt thật kỳ cục! Ta có thể nhận thấy ngay rằng chị ta hiểu rõ con người. Anh ạ, ông ta chắc chẳng nhận bất cứ ai làm hầu gái đâu! Chị ta lên là Paula...”).
Và chúng tôi đã phải đợi.
Clara không muốn rời khỏi buồng (“anh Gabriel, nếu Ông Ta gọi em ngay lúc ấy, anh đừng nghĩ ngợi gì cả nhé”). Trong những ngày ấy, tôi đi thơ thẩn dạo chơi. Thỉnh thoảng tôi ngồi ở bên bàn trong một quán cà phê, thường là quán Kapuziner, tôi xin giấy để viết và tả cho bố Louis về thủ đô của Đế quốc cổ có hai đầu. Tôi thuật lại bố biết tầm cỡ của Vienne, bề thế của các ngôi nhà, Đại lộ Ring, Vườn hoa Peuple hay Prater (1712 hécta), các hiệu kẹo mứt, Nhà thờ Saint - Étienne, Cung điện của Hoàng đế, Nhà hát Opéra (2350 chỗ ngồi), lăng của Marie - Thérèse (cao sáu mét, bố Louis ạ).
Tôi biết rằng những con số đó làm bố yên tâm về sức khỏe của tôi. “Gabriel, con và bố, chúng ta giống nhau: chúng ta đều thích những sự kiện”. Buổi tối, Clara càng căng thẳng khi hết ngày này qua ngày khác chưa nhận được lời phúc đáp của Ông Ta. Cô ta nói đi nhắc lại với tôi về ý tưởng độc đáo của cô ta. Anh thấy thế nào, anh Gabriel? Em cần anh nói với em đi... Clara ngồi trên giường của cô ta, chỉ cho tôi một chỗ đối diện cô ta, trên giường của tôi, ở phía bên kia, các thảm để chân giường có đầu con chồn, cô ta nhìn thẳng vào mắt tôi và giải thích cho tôi khá dài về tâm hồn con người ở thế kỷ XX đã thay đổi (tất nhiên rồi, Clara, không thể chối cãi được), rằng những máy móc vây quanh mình đã gợi lên những xúc cảm mới (làm sao có thể khác được, Clara?), rằng những người La Mã chẳng hạn, không biết gì về ô tô nên không thể biết được những cảm giác mạnh mẽ nhất của chúng ta (ai mà có thể không đồng ý với Clara được?). Cô ta nhìn vào tôi, vẻ nghiêm nghị: em cần anh vắt óc suy nghĩ, anh Gabriel, không phải chỉ vì anh yêu em. Cô ta đưa tôi những trang luận văn của cô.
“Ở thời kỳ trưởng thành, con người đã vào giai đoạncủa ô tô, giai đoạn này chỉ chấm dứt sau khi chết, trong sự im lặng của bãi tha ma khi xe tang dừng lại trước mồ và khi đã vĩnh viễn mất hết những cảm giác kích thích dịu ngọt, những rạo rực lan tỏa mà tất cả cuộc du lịch bằng ô tô đưa lại.
“Đối với một số người thì mối xúc động về sự trượt bánh thực ra là loại xúc động có thể thay thế: mùi vị của hạt sỏi trên đường là một sự dính líu bí ẩn với niêm mạc. Những đường giao thông chẳng phải là những niêm mạc của trái đất đó sao?
“Với biểu tượng tương tự người ta có thể đánh dấu một số vùng kích dục của hành tinh như núi Ventoux, con đường thẳng Hunaudières, đường đua Nurbugring...
“Như vậy, sau các giai đoạn bằng miệng và hậu môn, và gián đoạn bởi những kế hoạch phản ứng thì thời đại ô tô, phức tạp hơn giai đoạn trước vì do tác động của tốc độ nên có sự phối hợp của sự kích thích vào ba vùng của cơ thể, mắt nuốt thế giới, các bàn tay nhoi nhói trong sợ hãi và những chiếc lưng đè lên chỗ tựa biến thành một sự kêu gọi thất vọng...”
- Thế anh nghĩ gì về chuyện ấy? Gabriel, anh nên trung thực. Anh cho em một ý kiến chân thực, hơn là mỉm cười như một tên đần độn. Một người đàn bà là một sinh vật, anh Gabriel ạ, có quyền đòi hỏi người ta phải chú ý đến, không chỉ bằng nụ cười... Người đàn bà không phải chỉ là một môi trường... anh Gabriel ạ...
Clara chấp nhận ra ngoài phố vào tuần lễ cuối cùng, sau khi đã bận ở buổi tiếp khách, khá nhiều tiền thưởng công hậu hĩnh, các anh cố đừng ngủ thiếp đi đấy, mong các anh hết sức chú ý tới những thư tín.
Chúng tôi đi dạo vùng chung quanh một cửa hàng nhỏ, Tabak - Trafik, theo đường vòng khá rộng, qua Nhà thờ Saint-Étienne, Nhà hát Opéra và Nhà Nghị viện, hay theo các vòng tròn hẹp hơn, qua Graben-Strasse, Schoffengasse và Kholmarket. Theo Clara, nếu chúng tôi cứ loanh quanh ở cửa hàng thuốc lá thì chúng tôi không thể không gặp được Ông Ta và mặc dầu thành phố bao bọc chúng tôi, mặc dầu những tiếng động điếc cả tai của nền văn minh lớn ấy, chúng tôi cảm thấy mình là những tay đi săn đợi con mồi gần một cái ao, ở đấy Ông Ta bắt buộc phải đến để uống nước.
- Anh Gabriel này, Ông Ta hút hai mươi điếu xì gà Trabuccos một ngày... Theo toán học thì hôm nay Ông Ta đã hết thuốc. Và còn có cái hay là, anh hiểu không, Ông Ta đi một mình để mua thuốc, không có ai đi cùng.
Ở Paris, bố Louis sốt ruột.
“SAO Ở VIENNE LÂU THẾ ĐỒ NGU CHẤM KHI NGƯỜI TA CÓ CƠ HỘI ĐƯỢC MỘT ĐẾ QUỐC CHẤM CỦA ÂU CHÂU CHẤM CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ CỦA NHIỆT ĐỚI CHẤM KHÔNG CHIA PHẦN CHẤM CON KHÔNG NHẬN THẤY CHẤM NƯỚC ÁO NGỐC NGHẾCH CHẤM NƯỚC HUNGARI CŨNG VẬY CHẤM KÝ TÊN LOUIS”.
Cuối cùng, chúng tôi đã gặp được Ông. Một lần. Một ông khách bộ hành già có bộ râu tỉa tròn, người khoác chiếc áo lông dài. Ông lão đang trò chuyện với một con chó vàng, nó thuộc loại giống chó su kéo xe trượt tuyết ông lão đưa mắt nhìn chúng tôi có lẽ do tại Clara siết mạnh cánh tay tôi chặt tới mức bàn tay tôi mất hết cả cảm giác. Ông lão nhìn chúng tôi, ánh mắt dịu dàng đầy thiện cảm, vẻ hơi ngạc nhiên và sau đó, ông lão bước theo con chó giống loại su.
- Theo anh, Ông Ấy có nhận ra em không, - Clara ấp úng hỏi, - theo anh, Ông Ấy có đoán ra được rằng Thời đại ô tô là do em đề xướng không? Ông Ấy gặp bao người ở ngoài đường phố. Anh tưởng rằng ai Ông Ấy cũng nhìn cả đấy chắc. Ánh mắt ông ấy mới thật khích lệ làm sao, anh thấy có đúng vậy không, anh Gabriel? Ông Ấy có vẻ rụt rè. Mọi người đều bảo vậy mà. Ông ấy không dám bắt chuyện với em ở ngoài đường phố. Nhưng, sau cái đà thiện cảm như vậy, em sẽ không ngạc nhiên nếu hôm nay chuông điện thoại ở khách sạn reo vang. Anh biết đấy, với Ông Ấy, bao giờ cũng vậy. Giữa Ông Ấy và một vài phụ nữ lóe lên một tia sáng đột ngột, đúng, một tia sáng thực sự mở đầu cho một tình bạn thật sự, một cộng đồng tâm hồn trọn vẹn và trong sáng. Anh Gabriel, anh biết không, Ông Ấy tạo ra niềm tin cậy nhiều hơn nữa đối với phụ nữ. Trách nhiệm của chúng ta là không được làm Ông Ấy thất vọng.
Chúng tôi còn phải chờ thêm năm ngày nữa, không bước chân ra khỏi phòng.
Anh Gabriel, phải ở bên em, anh không thấy phiền chứ?
Cứ sau ba giờ, một cô hầu tóc nâu vẻ khinh khỉnh, có lẽ cô ta chẳng thể hiểu nổi là một người đàn ông và một người đàn bà áo quần chỉnh tề về mỗi người mỗi giường, lại có thể ru rú trong phòng lâu đến vậy, một cô hầu khá ngạo mạn đã mang vào cho chúng tôi sôcôla pha nóng và nhiều kem, có kèm theo lúc thì apfelstrüdel, lúc thì mehlspeise.
- Anh biết đấy, đó là những chiếc bánh ga tô Ông Ấy ưa thích, - Clara nhắc lại.
Với những chi tiết tỉ mỉ đầy thắm thiết (đầy nỗi khó chịu), Clara thuật lại cho tôi nghe những tình tiết trong cuộc sống thường ngày của Ông Ấy. Anh Gabriel, Ông Ấy đã chỉ bảo cho bọn em rằng mỗi tình tiết nhỏ nhất là một dấu hiệu. Chẳng hạn, Ông Ấy rất thích dâu rừng.
- Thế à?
- Và để vào chỗ Minna, chị vợ Ông Ấy, thì phải đi ngang qua phòng 40, nơi Martha ngủ cùng Ông Ấy.
Niềm tin của Gabriel vào Freud được đánh dấu từ giây phút đó. Gabriel đã không đọc tất cả các sách của Ông Ấy, anh chẳng có ý định đó. Và anh cũng chẳng hiểu hết những điều mình đã đọc . Nhưng, một người đàn ông đã sống thành công bốn mươi năm với hai chị em thì chẳng thể mắc sai lầm.
Một đêm, Clara đánh thức Gabriel dậy. Dậy đi! Clara đã sẵn sàng, khăn choàng đã chùm kín, tay xách va li, đứng bất động trước giường. Dậy đi, ta ra đi thôi. Ngay bây giờ à? Ngay bây giờ. Phải mặc áo quần trong đêm tối. Đừng bật đèn anh Gabriel! Phải lay tỉnh gác cổng của Ungarische Krone để ông ta tính tiền thanh toán. Phải cuốc bộ ra ga ở Vienne, vì tất cả các lái xe tắc xi đều đã ngủ. Phải nhờ mở cửa phòng đợi lọt vào giữa cái mùi thuốc lá lạnh lẽo. Phải nhiều lần mời Clara ngồi. Phải ngồi đối diện với cô và nắm đôi tay cô, lạnh buốt và gom được ở Gabriel đủ nhiệt lượng để sưởi ấm chúng, nhưng Gabriel chẳng có mấy nhiệt lượng cho chỗ cặp mắt Clara cứ nhìn như xoáy vào anh mà chẳng thấy anh.
Sau đó, ngày rạng sáng và chúng tôi ngồi trên tàu đang chạy. Clara yêu cầu tôi vứt ý tưởng nguyên bản.
- Ngay lập tức à?
- Ngay lập tức.
- Vứt qua cửa sổ.
- Đúng.
Gabriel dễ bảo liền dồn hết sức lên hai tay nắm đồng và mở được cửa kính. Một đợt khói ập vào căn khoang. Con tàu, con tàu trở về rầu rĩ đang chạy vào vùng đồi núi được gọi là Bavière và đầu tàu thở dốc.
- Anh Gabriel, em van anh, đừng vất ở đây!
Thế là Gabriel đành ôm ý tưởng nguyên bản sang toa khác để thực thi sứ mệnh phá hủy. Do tế nhị, anh chọn một cửa sổ ở phía cuối tàu, để cái cảnh giấy tờ quay cuồng trong không trung Bavière không làm Clara đau lòng. Than ôi? Không khí động lực học là một môn học phức tạp. Đoàn tàu lao trong không gian tạo ra bao luồng gió, nhiều tới mức mà trong giây lát, giây lát dài vô tận và tàn nhẫn, Clara đã bị bao vây và bị coi thường giữa hàng tá con chim trắng, những mảng của ý tưởng nguyên bản.
Clara phải mất mấy năm mới rời bỏ được Vienne.
Và không phải là không đau lòng: những đường hầm là nơi trú ngụ ẩm thấp, nhưng thoải mái.
Clara phải dần dần mới ngoi lên mặt đất. Cô đã cho tôi cùng chia sẻ những bước tiến bộ của cô: anh Gabriel đi với em, em sẽ chỉ cho anh biết.
Chúng tôi đi dạo. Chúng tôi thong thả đi xuôi Đại lộ Breteuil, tay khoác tay, chúng tôi đi dọc đường xe điện ngầm chạy nổi trên mặt đất. Dáng bước của những người đang hồi sức.
- Anh có thấy những gì em đang thấy không? - Clara hỏi.
- Có, lũ trẻ đang trượt patanh có bánh xe.
- Không, ở phía trên cao hơn cơ.
- Những bà mẹ, hay là những bà người Breton, đang canh giữ chúng.
- Ở phía xa hơn nữa cơ. Rặng cây, phải không, anh?
- Đúng vậy? Anh còn nhận ra đó là những cây hạt dẻ. Chúng sắp đâm hoa.
- Thế mà trước đây, anh Gabriel, trước đây em chỉ thấy toàn nấm lõ chó. Nhưng, hết rồi.
Thế là tôi ôm hôn Clara. Tôi hơi nhạo báng cô một chút và tôi ôm hôn cô. Tôi đoán rằng chẳng đơn giản gì khi ngoi lên mặt đất, khi từ bỏ hậu trường để bước ra cuộc đời cuộc đời ngắn ngủi, không tín điều lẫn phương thức sử dụng. Tôi đã siết chặt Clara trong lòng, Đại lộ Breteuil, dọc theo đường xe điện ngầm chạy nối trên mặt đất; siết chặt tới mức Clara cảm nhận rõ ngọn lao kề sát bên bụng cô ta ngay trước lúc, trước lúc cô ta lành bệnh, cô ta nhìn thấy những cây hạt dẻ vô hại.
- Ôi! Clara thốt kêu lên.
Và Clara thoát ra khỏi kẻ thô lỗ và bỏ chạy theo Đại lộ Garibaldi.
Sau ba, bốn tháng sám hối, Clara lại gọi tôi. Anh sẽ giữ đúng mực chứ? Xin thề đấy. Nếu vậy, anh tới đi, em lại có tiến bộ đấy.
Do vậy, tôi đã được tham gia giúp cô ta hoàn toàn lành khỏi bệnh.
Clara ngồi đợi tôi trên một chiếc ghế dài, Đại lộ Saxe, trước bức tượng tạc Pasteur, phong phú bò cái và các chú nhóc.
- Anh không nhận thấy gì sao?
Biết nhận thấy gì đặc biệt ở một cô Clara mà ta yêu mến trọn vẹn?
- Không, chẳng thấy gì cả.
- Vậy thì anh không biết cách nhìn rồi. Em đang cầm gì trên tay?
Một chiếc hộp nhỏ hình chữ nhật màu đen, trên nắp có một hình đại loại một con mắt, bốn chiếc nút bạc và một ống ngắm, sau này Gabriel được biết Clara đã gọi cái hộp đó là Leica, Leica I, kiểu B, cửa trập Compur.
- Nghề gì chỉ chú trọng đến bề mặt? Bề mặt của các vật và sinh mạng?
- Nghề lốp xe.
- Anh Gabriel, trên đời này đâu chỉ có ô tô. Ai quan tâm đến phong cảnh, tĩnh vật, những khuôn mặt?
- Anh không biết.
- Ngốc ơi, đó là những nhà nhiếp ảnh.
Vienne và cuộc thăm dò độ sâu của nó đã bị lãng quên. Clara bắt đầu một vấn đề khác, bề mặt. Gabriel lại thấy lòng rộn vui. Một lần nữa, kẻ bầu bĩnh, lạc quan bất trị Gabriel nhận thấy sự gần gũi trong các nghề, nhiếp ảnh, lốp xe học, hứa hẹn một cuộc hôn nhân từng chờ đợi bao lâu nay.
Clara nâng máy lên.
- Anh Gabriel, em bao nhiêu tuổi ?
- Anh không biết nữa.
- Thôi được rồi. Bốn chục tuổi.Đừng có bộ mặt như vậy. Bây giờ, anh thích em thế nào? Với (cái hộp đen che khuất cặp mắt, chiếc mũi, nửa bên trán) hay là không có nó?
- Tất nhiên là không có nó rồi!
- Sẽ phải có nó. Anh nên tập cho quen mắt.
Clara quyết định nấp sau chiếc máy Leica để già đi.
Nhưng đấy không phải là những chuyện mà nhà lạc quan đoán ra. Mặc, phải mãi sau này. Khi anh ta nhớ lại những ngày xa xưa, Đại lộ Breteuil, tượng Pasteur. Anh ta trở nên thông minh hơn, chẳng có sự lạc quan trong hồi ức.