Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii
Ii

❊ ❊ ❊

Bà không đi ngay. Bà cũng không để cho người khác đưa đi theo kiểu của những người nào đó, khi vừa mới quyến rũ được, đã tự mình bỏ mặc, hoặc vì lười hoặc để kiểm tra xem tình yêu sẽ đến đâu, và nếu bần tiện quá, người ta cũng sẽ yêu họ cho xong: nhưng đó không phải là kiểu của bà Élisabeth. Bà có một cá tính say mê. Mỗi buổi sáng, đúng vào giờ ấy, sau các phần vệ sinh cá nhân, nhưng trước khi ăn sáng, bà trèo lên cái cân duy nhất chính xác, nhưng rất khó sử dụng vì người ta phải tự đẩy con trượt. Bà ghi trọng lượng của bà, bà tự cho mình một giới hạn. Quá số đó, tôi sẽ không để ông Markus trông thấy tôi. Và bà chiến đấu.

Ông Markus lại đi du lịch. Ông đi dọc ngang các thành phố và các làng mạc, tai giỏng lên nghe. Và vợ ông có vẻ buồn rầu khi người ta hỏi bà liệu ông Knight có sắp về không. Nhưng trong thâm tâm bà, bà thích thú về sự hoãn lại đó. Bà mong khi người mà bà rất yêu thương trở về, bà sẽ lấy lại được cái vóc dáng trước kia của bà vào cái thời có cuộc hoà nhạc nổi tiếng và khi đó ông Markus còn thích bà hơn cả âm nhạc.

May quá, ở New York cũng như ở Paris, cái mốt là chú trọng đến thân hình của người phụ nữ. Đầu tiên còn rụt rè rồi càng ngày càng công khai. Những bảng quảng cáo xuất hiện: quý bà hãy xoá những vết nhăn, quý bà hãy thấy lại hàm răng sáng bóng, cách thức của tôi để bỏ các áo nịt... Tôi biết tất cả về thời kì ấy. Bà Élisabeth cầm một tờ báo hàng ngày tả những sự tiến triển của căn bệnh, ghi rõ những buổi hẹn với những thầy thuốc, dán ở bên trái những đơn thuốc, dán ở bên phải những kết quả. Tờ báo ấy đến với tôi, tôi sẽ có thể nói với anh nó đã đến một cách thế nào, có một sự quy tụ các hoàn cảnh, một bài báo nói về tình yêu trong một tờ báo thường kì mà ngày hôm nay đã bị lãng quên: báo Marianne. Những chi tiết của một sự phát minh như thế chắc chắn là đáng được kể ra; tất cả các chuỗi dài của những sự bất ngờ làm cho người ta có thể nói rằng thế giới thật là nhỏ bé, vậy ta chỉ cần nghe mọi người và lặp lại những tin tức đã được trao đổi.

Đây đúng là thời kì đầu của các loại kem, nước gội đầu, những mặt nạ có chất dưa chuột, cũng có những bức ảnh đầu tiên để so sánh: trước và sau, và cái găng tay bằng lông ngựa dùng mỗi buổi sáng, những mảnh che cằm cho ban đêm. Đó là bước khởi đầu thật sự của các bà đi tiên phong trở nên nổi tiếng: Élisabeth Arden, Gaylord Hauser… sau bữa ăn tối, hay vào lúc nghỉ giữa chừng, trong khi các ông hút xì gà thì các bà vợ đứng tách ra để trao đổi các công thức. Một không khí như vậy làm dễ dàng mọi chuyện. Bà Élisabeth tìm chế độ ăn uống CỦA BÀ như tất cả mọi người. Việc pha trộn các chất nước, chất rắn đem lại cho bà nếu không phải là một vẻ trẻ trung vĩnh viễn thì ít ra cũng là một sự tin tưởng chắc chắn rằng cuối cùng bà sẽ không già.

Nhưng, tìm được công thức CỦA MÌNH đòi hỏi phải có thời giờ. Có rất nhiều lời rao vặt, kín cả các trang báo. Tôi tưởng tượng thấy hang đống tờ báo hang ngày trên giường của bà vào buổi sang ở khách sạn. Bà chọn thế nào? Bà có gạch dưới các dòng bằng bút chì lớn không? Hay là bà cắt ra? Tôi không biết. Nói tóm lại là bà thử đủ cách: chỉ uống nước thôi trong ba mươi sáu giờ, rồi chỉ ăn bưởi, rồi bỏ cả muối và đường, rồi mặc ba áo len dài tay mà nhảy dây năm mươi phút cả sáng lẫn chiều, rồi ngày cuối tuần nuốt số trứng luộc nhiều nhất, rồi hấp tất cả, rồi thử tắm hơi, một liều mạnh, với sự xoa bóp (ở phía đầu đằng kia của Manhattan, bà đi bằng tắc xi), rồi nuốt những thuốc cắt cơn đói, một phát minh rất mới ở thời kì đó, làm cho người ta muốn nôn mửa. Rồi bà lại đến cho người ta tẩm quất, ở không xa nhà ga trung tâm, có ông mù cam đoan với bà là sau ba chục lần bà sẽ bớt béo nhưng chớ nên bỏ nửa chừng, mỡ nó sẽ báo thù đấy. Và chắc chắn là phải giữ những phương pháp chung, không rượu, không bánh và ít nằm giường, tôi muốn nói là ít ngủ. Ban đêm bà đi quanh vườn Park để không bị khuất phục, mà chiến đấu. Ồ! Chiến đấu với những mi mắt càng ngày càng nặng. Và rồi đến những cuộc hội họp nhẫn nhục với các đồng nghiệp béo phị, các câu lạc bộ của Phố 17, ở đấy phải đóng ba đô la một tháng mới có quyền lợi được giơ ngón tay cho nhau xem là có đeo hai con số rất dễ nhìn thấy ghi số cân ở tuần lễ trước và số cân ngày hôm nay. Tất cả những phương pháp đều được thử áp dụng rồi bị vứt bỏ, đi từ cách sống này đến cách sống khác nhau như kiểu người ta thay đổi xe điện ngầm khi bị truy đuổi, tất cả tiền nong bỏ ra không đi đến đâu, tai bao giờ cũng phải lắng nghe. Ôi! Cốt sao ông không về ngay. Ôi! Cốt sao ông để cho các biện pháp có đủ thời giờ tác động, với ông hầu không bao giờ báo trước việc trở về của ông, bỗng nhiên có tiếng chân đi trong hành lang. Ôi! Mong sao ông không bật đèn lên. Ôi! Mong sao ông hơi say một chút.

Một buổi sáng bà nhìn vào thước đo trên cân và con số mà quả cân đã chỉ, và mức cân bằng chưa đạt tới, trong khi đó giới hạn do bà ấn định đã quá rồi, nhưng gia đình bà chưa bao giờ biết chút nào về cuộc chiến đấu này, (và Gabriel, hãy dựa vào anh ta, sẽ không nói tý gì về việc này ngay cả trong vụ kiện), và chỉ đến lúc đó bà mới biến đi.

Bà thích cái giải pháp này, bà ghi rõ ràng trong nhật ký của bà:

“Trong trường hợp tự tử người ta sẽ báo cho người chồng là người phải nhận ra được thân thể. Nhưng tôi đã quá thay đổi, liệu ông có nhận được ra tôi không? Và nếu ông nhận được ra tôi thì thật là khủng khiếp!”

Người vợ biến mất không làm thay đổi chút nào những thói quen của ông Markus. Bên ngoài thì cuộc sống của ông vẫn như thế. Chỉ có là ông thôi không trở về New York hay Paris một vài tháng mỗi năm. Quay trở về là vô ích vì vợ ông đã biến đi rồi. Thỉnh thoảng ông gọi điện thoại đến những cuộc tiếp tân ở Algonquin, Washington hay Albany. Không có tin tức gì ư, Georges? (Ông gọi tất cả các người gác cổng như thế, nhưng họ cũng có thói quen về những sự giản đơn hóa ấy). Than ôi, không thưa ông. Tốt, ông hãy cảnh giác nhé, ông đừng chơi cá ngựa… Ồ! Thưa ông… Và tháng sau. Chào ông, ông Knight. Tạm biệt, Georges.

Người ta không bao giờ biết chút gì về sự buồn rầu của những người khác. Như vậy Gabriel không thử tả ông Markus một mình trong buồng khách sạn,  lau những mặt kính của mình, mắt này rồi đến mắt kia, chậm chạp, rất chậm chạp vv…Điều mà người ta có thể nói được đó là bà Élisabeth biến đi liền được bù trừ bằng sự có mặt của người khác trong phòng của ông. Cho đến bây giờ, vì vợ ông chăm sóc đủ mọi thứ, nên ông đã để đôi mắt ông được yên, mà chỉ dùng để đọc các bản nhạc hay để tránh một cột đèn vào lúc cuối. Tất cả cho thính giác. Khi vợ anh biến mất, một người vợ mà anh yêu theo kiểu của anh (nhưng ai mà chẳng có lối yêu riêng của mình?), khi vợ anh biến mất trong thiên nhiên, thì anh sống trong sự rình mò. Bất giác, anh dòm ngó chung quanh; có phải chăng là Élisabeth, cái bóng dáng bị dồn ép đang biến đi mất sau cái ôtô đỏ của bưu điện không? Cái áo lông chồn màu xám kia bị ép vào buồng của phòng treo áo của nhà hát Opéra bởi hàng chục, hàng chục chiếc áo măng tô, áo lông, áo choàng vô danh, cái áo ấy có phải của bà không? Ôi ! Élisabeth thường lạnh ở trên vai?

Chính vì thế, nhờ có sự biến mất của vợ mà ông Markus phát hiện, khi đã quá tuổi sáu mươi nhăm, rằng thế giới thực tại, (nghĩa là không phải thế giới âm nhạc) đã là hiện hữu.

Vì ngay cả khi ông tự thú thì, theo tính chất bi kịch của các hoàn cảnh. Ông lại thấy thích thú về chuyện ấy. Nhất là những cảnh ngoài chợ. Ở đấy biết bao nhiêu loại người ở trên thế giới này hẹn gặp nhau một cách trơ trẽn, công khai. Một thí dụ ư? Những quả cà căng mọng  bóng bẩy như gương được bàn tay của một bà nội trợ, không rõ tuổi đời, nhất lên để định trọng lượng trước khi chui tọt vào chiếc túi xanh lá cây nhợt nhạt. hay cái cảnh, đôi khi giống như âm nhạc làm se lòng người, cảnh những cặp cụ già kia đi dạo chơi chậm chạp về buổi chiều dọc theo một trong nhiều con sông Âu Châu.

Nếu ông không biết cách dùng, mới đối với ông, về thị giác, nếu ông ta không có lòng phấn khởi của tín đồ mới đối với sự việc được trông thấy, thì làm sao ông có thể nhận thấy được sự hiện diện của một con người lai tạp, là phụ nữ thể thao do bộ quần áo đang mặc, là một rô bốt do không có mặt mà được thay thế bằng miếng kim khí đen hình chữ nhật, có dính một cái mũi hay một con mắt ở chính giữa?

Không có gì là kém chắc chắn.

Ông bầu thì, ngày ấy, đi ngang đi dọc qua các phố của Leopoldstadt, khu phố người Do Thái ở Vienne. Người ta đã báo cho ông biết là âm nhạc bị bỏ hoang hoá trong khu phố ấy. Vì có những cuộc xô sát, những cuộc khám xét của cảnh sát nên không có một người nào dám mạo hiểm vào đấy để tìm ra các tài năng.

- Như thế, - người thông tin nói cho ông ta biết, - ông chắc chắn tìm được cơ hội: dù tìm được hay không, các nhà chơi vĩ cầm vẫn mọc lên, có phải không, ông bạn?

Vậy thì ông bầu hãy đi dọc đi ngang. Người ta đề nghị với ông những quả táo, những beigel, những quyển niên lịch của người làm vườn viết bằng tiếng Nga, những mảnh để rời cho xe đẩy trẻ con, những đèn dầu, những con cá thu, một bản đồ của đất thánh, những vòng sắt cho bánh xe phía trái của những chiếc xe bò, một mũ nồi Shtra imel với mười ba cái đuôi chồn Zibeline, vì con số mười ba là con số thánh, có nghĩa là tin vào một chúa trời duy nhất, một khăn quàng để đọc kinh được bán làm đồ cũ, những hales có trứng cho lễ Shabbath… mà người ta mời mọc trong lán của người Do Thái.

Nhưng ông chỉ đi chậm lại trước các cửa hàng có bày nhiều đôi giày, các đế giày mà không có giày và những giày không có đế. Và triết lí của những người thợ giày đối với ông lại không thể bác bỏ được, không bác bỏ được về mặt lý luận và vì thất vọng.

- Thưa ông, nếu không có gót thì ông sẽ đồng ý với tôi là không có ai là hiện hữu, kể cả những người khuân vác, kể cả những con người. Ngay muốn đến nhà thờ Do Thái, người ta cũng cần đến gót giày cho những đôi giày của mình. Và muốn nuôi gia đình mình, người ta phải đi trên các hè phố. Tất cả mọi người đều cần đến gót giày. Đấy là khó khăn của sự buôn bán và đặc biệt của những ông thợ giày. Muốn trả tiền cho tôi thì người Do Thái phải kiếm được tiền, điều đó có nghĩa là họ cần những đôi giày đi trên những hòn đá mà ông thấy kia kìa thì những đế bằng da chỉ bền được sáu tuần lễ. Thực là gay go nếu phải làm người Do Thái. Vì giày đấy. Ông không đồng ý sao?

Ở phía bên kia của phố, con người lai tạp đã gí sát mũi hình trụ vào một cửa sổ và cái ngón tay trỏ của người đó (ngón tay trỏ của một con người thật và không phải của rô bốt) ấn xuống một cái nút sang ở trên và ở phía bên phải của hình chữ nhật bằng kim loại đen.

Ông Markus kiên nhẫn đợi và chỉ kêu lên “Clara” và dang cánh tay ra khi Clara đã làm xong công việc, sắp xếp lại máy ảnh trong túi áo vét bằng len màu xanh nước biển và vươn thẳng thân hình cao lớn của mình. Clara!

Ôm hôn. Trao đổi (sơ sài) tin tức gia đình: con có tin gì của mẹ không? Không. Bố cũng thế. Và Gabriel? Ông Markus miễn cưỡng hỏi. Tuy nhiên ông đã luôn luôn thề rằng không bao giờ nhắc đến cái tên đó. Thậm chí nhiều buổi trò chuyện cùng con gái, nhưng ông chẳng một lần nào nhắc tới chàng rể. Còn Gabriel? Dẫu sao ông Markus cũng hỏi con. Bố ơi, anh ấy là cuộc sống của con, Clara trả lời mà không có chút nào khiêu khích, nhưng lại có một chút mệt mỏi. Con có lý, đúng là cuộc sống của con, ông Markus nói. Bố có thể chỉ hỏi con vì lý do gì con lại đến Leopoldstadt?

(rõ ràng là cuộc gặp gỡ giữa bố và con gái là chính Gabriel đã dựng lại. Anh không ở đấy trong cái Shtetl vì anh nấp sau một cái xe bò bốn mùa để nhìn sự gặp gỡ ấy. Trong những điều kiện đó, anh chỉ có thể khẳng định được tên anh “Gabriel” được người này hay người kia trong gia đình Knight nêu lên. Nhưng đó là một giả thuyết có thể chấp nhận được. nói chung giả thuyết đó dịu dàng cho trái tim của tôi, vậy là nó được nằm trong hồ sơ và được gọi là mục ghi số 49).

Clara suy ngẫm, mỉm cười nhìn bố, và đỏ mặt. đối với Clara; đó là cách nói tóm tắt: bố hãy tha lỗi cho con, con sẽ nói lên một cái gì khá nghiêm trọng nhưng những cái được- nêu- dẫn- có- vậy- thôi…

Clara chỉ con suối, đám đông người nhộn nhịp, các gót giày treo đầy tường, trẻ con chạy nhảy, qua cửa sổ có ánh sang của các cây nến, những hình đen ngả trên vết trắng của các quyển sách, những người khuân vác đang lần bước.

- Bố có thấy cuộc đời này mỏng manh không?

Ông bầu đồng ý

- Đúng, bố còn cho rằng chiến tranh lần thứ nhất đã phá tan nó.

- Thế thì con chụp ảnh, - Clara nói. - Chúng con có hai, con và một người Nga sinh ra ở Saint – Pétersbourg và ngụ tại Berlin, nhưng anh ta phải là vô danh, bố hiểu không? Chỉ có anh ấy và con. Đối với tất cả Đông Âu thì không phải là nhiều. Nếu bố biết các tay chơi tài tử ngay cả những goyim, nhưng chỉ với một mắt…

Họ cùng qua mấy ngày trong thành phố Vienne, mấy ngày không có âm nhạc. Đành vậy. Có thể là con ghét âm nhạc! Clara nói. Bố hiểu con. Ồ, điều đó bố hiểu con, nhưng con cũng phải thú nhận rằng đoạn Vivace của tứ tấu 17, quyển 135 của Beethoven… thật bất hủ. Ông Markus trả lời. Bố và con gái có vài ngày nói chuyện với nhau bằng ngôn từ. Như các người yêu nhau không rời khỏi giường thì họ ngồi với nhau ở bàn. Bữa ăn nối tiếp, bữa trưa, bữa chiều, bữa tối, gọi nhau là bà, là ông, cửa khép kín, điều con nói với bố là về Londres, không đâu, bố ạ, con cam đoan với bố… Ông Markus gọi Clara là con thuyền Noée của ông, vì con thuyền, “lý do tại con chú ý đến các thứ trên đường tiêu vong”. Và ông không giữ khi Clara muốn ra đi, còn nhiều ảnh phải chụp, có nhiều cảnh và nhiều gương mặt phải đưa vào kí ức. Bố hiểu con. Bố hãnh diện về con. Bố buồn và bố hiểu.

Địa chỉ của Clara là vùng Ruthénie – Carpate (bây giờ sáp nhập vào Ukraina, và nước này cũng bị nước Nga nuốt chửng. Clara muốn đưa vào thuyền của mình, trước tiên, là cái lành nhỏ Vrchni Apsa, nơi công dân không biết tý gì về cả thế kỉ XX lẫn XXI, cả thế kỷ XVIII, XVII lẫn XVI. Nhưng một số chỉ dẫn đã đến với họ về thế kỉ XV, thời kỳ lạ thường mà trên trái đất này có một người có tên gọi kiêu kỳ là goy (Christophe colomb), goy[1] này lại có lợi ích, vì ông đã thực hiện nhiều cuộc hành du, thường là vô ích (tại sao lại hành du trong khi không người Cô dắc của Nga Hoàng hay bị các uỷ viên nhân dân truy tầm và đã là người ngoại đạo thì cần gì phải đến Ixraen? và ích ra trong một cuộc hành du ấy, ông đã đem về một cái cây gọi là ngô, mà nay họ đã đem ra trồng. Rồi Clara đã đi đến một nơi, không xa chỗ ấy, đến Moukhatchevo, ở đó có thầy giáo trưởng nổi tiếng baruch rabinowitz  đang thuyết giáo.

Ông Markus muốn đi cùng con gái và sau khi đoàn tàu đã chạy, ông đã đứng nán lại hồi lâu trên sân ga, giơ ngón tay lên vẫy, không phải là muốn nói lời từ biệt mà chính là nói ý trái lại: Clara, hãy quay lại, bà Élisabeth hãy quay lại, Ann con, con làm ơn đừng chạy đi nữa; ở trong đời đâu chỉ có công việc, đừng để ta phải cô đơn, một cử chỉ làm cho người khuân vác cười dài, trông ông kia kìa, ông ta chẳng hiểu gì về nhà ga cả.

Cũng trong thời điểm ấy, bà Élisabeth ở Paris gần phố République. Thỉnh thoảng bà gọi thằng bé Gabriel đừng đến thăm ta, ta thấy gọi dây nói tiện hơn. Gabriel - anh còn nhớ Clermont – Ferrand chứ? Bây giờ đến lượt ta phải quen dạn dày. Bà lại gọi ta là anh, bà coi như dây điện thoại, một khoảng cách giữa hai người chúng ta, không đủ che chở cho bà. Bà chán mọi chế độ, bà thử chuyện khác, và mỗi tuần lễ ba lần bà đến phố Châteaudun, tầng thứ hai, đến nhà một người đồng sự cũ của Clara, một người Hungari tên là W, theo như lời đồn đại, chuyên khảo cứu về tâm hồn. Ở đấy, bà nói về tình yêu của bà, một chuyện liên miên, cứ ba khắc đồng hồ lại bị cắt đứt bởi tiếng nói của con người chuyên khảo cứu về tâm hồn: tốt rồi, để đến lần sau. Nhưng ra đến ngoài phố, bà lại tiếp tục nói và cả trong phòng khách sạn của bà. Rất nhiều cách nói khác nhau về buổi tối mà ông Markus thích bà hơn là âm nhạc, chuyện các giấc mơ đáng xấu hổ cứ lẩn vẩn trong đầu óc bà mỗi khi đọc những truyện vừa rải rác trong các báo (tái võ trang ở đây, lò thiêu ở kia)… Ồ, miễn sao chiến tranh bùng nổ, chúng ta sẽ quay về New York, ông Markus không thể đi du lịch được nữa, đúng, hoan hô chiến tranh, hoan hô chiến tranh, bà kêu to trong phòng. Ô! Xin lỗi bác sĩ!

Một hôm bà nói: Tôi đã hết đời.

- Thế là tốt hơn. - bác sĩ W. đáp.

- Vậy thì những điều may mắn của tôi thế nào?

- Bà hãy bớt yêu đi, thưa bà. Bà cố gắng yêu bớt đi. Các chế độ trên đời này không làm gì được. Chính tình yêu ấy nuôi bà.

- Nhưng yêu ít là thế nào?

- Theo người ta nói thì là những cuộc du lịch. Nhưng bà hãy nhìn xem, tôi cũng to béo. Xin tạm biệt, bà Knight, và bà hãy can đảm lên. Bà không thấy có điều gì bất tiện nếu tôi công bố chuyện của bà? Đợi một thời gian nữa, tất nhiên, tôi sẽ thay đổi các tên, chắc chắn là như thế. Tạm biệt, thưa bà Knight! Bà hãy làm như tôi: để làm dịu bớt tình yêu, tôi cho công bố, bà chọn một chuyện hay và bà xuất bản. Tạm biệt, bà Knight.     

❀ ❀ ❀

[1] Người bị người Do Thái coi là ngoại đạo. (N.D.)

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.