Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Cuộc chiến tranh của tôi

Do Clara, họ Knight

Viết hồi ký là một thói gàn hay lây. Trong căn phòng bên cạnh, nơi Gabriel cố thủ, không bao giờ thấy có tiếng nói to, chỉ nghe có tiếng khẽ rì rầm, tôi nghe thấy tiếng anh ta khẽ giở những trang giấy. Chẳng qua là vì tuổi già là tuổi xốp mà. Cánh cửa đóng không kỹ, Clara ạ, tôi cũng thế thôi, tôi cảm thấy quá khứ đang trở lại một cách từ từ với cái vẻ rụt rè nhút nhát của nó.

Tôi nghĩ đến ông Markus trốn tránh ở New York, chắc chắn ông đã làm cố vấn nghệ thuật cho “Tổ chức âm nhạc của đồng minh”, một tổ chức nhằm mục đích chứng minh rằng các cường quốc thù địch không được độc quyền về thiên tài âm nhạc, rằng Edward Dowell (1861 – 1908) sáng giá ngang với Brahms chẳng hạn, và những nhà chỉ huy dàn nhạc ở Chicago và Cincinnati không phụ vụ chính nghĩa nếu chỉ chơi Beethoven và Mozart …

Để ông khuây khỏa trong công việc khó khăn ấy, tôi đã cùng đi với ông trong các cuộc dạo chơi, đi theo cái vòng quen thuộc của ông quanh Manhattan, khi thì đi theo hướng Tây về phía cảng, khi đi dọc theo phố Brooklyn, trước khi đâm thẳng vào khu người da đen ở phía Bắc.

Ông nói về tôi.

Ông không muốn tin rằng những sự lo âu của con người là nền tảng cho một nghề nghiệp thực sự.

- Clara, con kiến sống trên lưng bầy ma à?

- Và còn âm nhạc thì sao?

- Gabriel là một người chồng rất dễ thương.

Nó bao giờ cũng mến con. Gabriel tin rằng khi bị xa con, ta sẽ mất hết những thứ quý giá.

- Bởi vì các con sẽ gặp lại nhau. Clara, ta chắc chắn là như vậy, và có thể điều đó sẽ rất muộn màng. Khi còn trẻ, cuộc sống chung thường là ít cảm xúc thẩm mỹ, những tiếng động thân mật, những mùi vị, nhưng muốn chịu đựng được cuộc sống già nua bên cạnh mình thì phải có những kỷ niệm xưa và những điều mù quáng. Clara ạ, ta không thích ánh mắt của con khi con nhìn Gabriel. Đó là cái nhìn của một người sẽ bị già đi trong cô đơn …

Tôi nhớ tới những nụ cười của bà Élisabeth, những nụ cười bất ngờ e lệ của một cô bé tưởng không ai trông thấy mình đã chấm ngón tay vào lọ mứt, những nụ cười khi bà nói lên tiếng cám ơn, trong chiến tranh, tôi có ông Markus cho riêng tôi.

Mãi sau này, tôi mới nhớ đến công việc của tôi trong một bệnh viện ở bên Pháp: “Giám định bệnh tâm thần”. Khi những trận chiến đấu trở nên khủng khiếp thì số người điên và người giả điên tăng lên. Làm sao phân biệt được bọn này với bọn kia? Các thầy hướng dẫn tôi, các giáo sư Hesnard và ông Dumas, đã lập xong biểu chuẩn cho những sự giả vờ kèm theo những phương pháp đơn giản để lật mặt nạ của bọn giở trò hề. Với sự giúp đỡ của ông Theirry, một bác sĩ nội trú có giọng nói ngọt ngào đến nỗi các bệnh nhân nghe ông nói là ngủ ngay tức khắc; với vẻ mặt ngớ ngẩn, ngón tay cái đưa vào miệng, tôi được ủy nhiệm trình bày những kết luận có tính khoa học ấy một cách làm sao cho bác sĩ quân y ở cơ sở có thể sử dụng được tốt nhất. Chúng tôi thành công được không?

“Thực tế, người ta có thể chia những tên giả vờ đó ra thành ba nhóm chính:

1. Những người có hành vi trái tính, đặc biệt là những hành vi sợ hãi, bị câm hay câm điếc: chẩn đoán dễ dàng. Bệnh nhân không có một biểu hiện nào của người thực sự u uất, không lo âu, không bỏ ăn (ít ra là mấy ngày), không đau nhức một chỗ nào, không lạnh đầu ngón tay ngón chân.

2. Những người có các biểu hiện ít nhiều hung dữ, vật vã, rạo rực; chẩn đoán dễ dàng: động tác hỗn độn giở điên giở gàn, có một triệu chứng khá rõ: đêm đến là những động tác ấy.

3. Cuối cùng là những người tự do cho mình bắt buộc phải tỏ ra phi lý (bằng lời nói, hành động phi lý những điều quá trớn), hội chứng Ganser. Triệu chứng khó nhận xét. Cần phải nhờ vào các trung tâm chữa bệnh tâm thần. Những hội chứng đó khởi thủy ở người thường thì rõ rồi nhưng cần ngập ngừng gì nữa. Nhưng ở người sành sỏi thì đòi hỏi phải tiến hành những cuộc giám định khó khăn nhất”.

Mỗi sáng thứ tư là một “buổi bị dần” … Đó là tên gọi chính thức của việc điều trị. Chúng tôi, tất cả gồm bốn người, hai quan chức, bác sĩ nội trú Thierry và tôi, Clara, người mới toanh trong nghề, đi đến Ville-Évrard. Ở đấy đặt một phòng thí nghiệm, một buồng trông đáng sợ, tua tủa những dây đồng, những đồng hồ, những cuộn dây điện xoăn tít. Khung cảnh ấy, các bác sĩ nói, đã có tính cách chữa bệnh rồi. Và người ta đưa một con bệnh vào. Thường là một gã câm, mắt hoảng hốt nhìn vào đống dụng cụ chữa bệnh.

Một y tá đặt gã nằm dài trên mặt bàn đá và áp những miếng cao su lên vai, lên cánh tay, lên cổ họng. vào chỗ phát lên những tiếng nói.

- Này anh bạn, hơi đau một chút đấy, nhưng anh muốn được chữa lành bệnh, đúng không nào?

Bật điện. Một chiếc cần gạt hạ xuống.

- A! A! – Gã câm kêu lên.

- Anh thấy đấy, anh chẳng bị câm, anh đã nói “A!”

Hai bác sĩ Hesnard và Dumas thay nhau tiến hành công việc; đôi lúc Thierry cũng vào cuộc.

- Bây giờ anh nói “E”, nếu không tôi sẽ lặp lại đấy.

- Nhưng, thôi không cần nữa, vì anh đã khỏi bệnh rồi. Này, anh hãy làm đúng những gì bác sĩ yêu cầu …

- Này, đừng có buộc tôi phải …

- Người nào đã kêu được “A!”, người đó không câm.

- Anh là một chàng trai thông minh, đừng bắt chúng tôi phải mạnh tay hơn…

- Ê! Cuối cùng anh chàng câm đã cất lời nói.

- Rất tốt, rất tốt!

- Bây giờ nói I, O, U. Anh đã khỏi rồi, hãy nói đi: I, O, U.

- I, O, U – chàng câm nói.

- Thế là thêm một người nữa được khỏi bệnh.

Chị y tá gỡ mớ dây dơ ra khỏi người con bệnh.

Sau những buổi chữa bệnh, chúng tôi thường đi quanh một vòng trong buồng công cộng, tiếng trò chuyện râm ran từ giường nọ sang giường kia.

- Nghe kìa, nghe họ nói kìa, - Hesnard và Dumas bảo chúng tôi … - Trước đây họ đều bị câm đấy.

Chúng tôi cũng đã thành công với những người điếc, người bị liệt, người còng, nhất là những người đã không thể đứng lên được sau khi nâng xác một người bạn đã chết. Nhưng trong những trường hợp ấy, sự thành công không chắc chắn lắm, thành thực mà nói, vào khoảng 30% đến 40% …Những bạn đồng sự Đức mà chúng tôi thường trao đổi qua đường Thụy Sĩ, lại thấy rằng tỷ lệ ấy là đáng kể và họ ngợi khen chúng tôi một cách thành thực và nhiệt tình đề nghị là sau khi đình chiến sẽ cùng nhau gặp mặt trong các cuộc hội thảo để đẩy mạnh khoa học.

Tôi nhớ đến ủy ban chuyên viên (?) đã đề nghị thành lập những đoàn gồm những người mê sản, vật vã, mất thăng bằng mọi loại. Bản báo cáo ghi rõ là sẽ để bọn họ dưới sự cai quản của các sĩ quan Châu Phi “đã quen với những người bất thường”. Như vậy sẽ thành lập khoảng chục “đội gây choáng”.

Tôi nhớ lại ông bác sĩ ảm đạm Logre (sic) trong Tạp chí thần kinh năm 1916 đã ghi lại không kém sáu trường hợp “đào ngủ trước kẻ thù vì bệnh hoạn”.

Tôi lại nhớ đến những đại biểu của các nước trung lập. Hai đàn ông và một phụ nữ, vẫn những người ấy, đều tóc hung, anh Gabriel ạ, xin lỗi anh, với một hình chữ thập đỏ gắn trên ve áo blu trắng và một cuốn sổ bìa xanh cầm ở tay mà họ thường tham khảo vào bất cứ cơ hội nào. Đấy là luật chơi, công ước Genève. Mỗi quý, họ đến thăm bệnh viện của chúng tôi để xác nhận xem cuộc bắn giết có hợp lệ không. Ban chỉ huy cao ủy đã ra lệnh phải tiếp đón họ chu đáo. Và cũng phải giấu những người bị thương quá thảm hại … Người ta sợ người nước trung lập báo cáo với Hoa Kỳ. Người ta thường nói với nhau là người Mỹ chỉ tham gia vào một cuộc chiến tranh hợp pháp. Những đại biểu ấy đã quen thế rồi. Thoạt nhìn, họ xét đoán xem vết thương có đúng là được phép gây ra không, họ lắc đầu: kinh khủng quá, kinh khủng quá, nhưng đúng thể thức. Họ cúi xuống ngửi mồm những người bị đặt nằm sống sượt, họ hít hơi và nhăn mặt: không, hơi độc này có chất ypêrít đã bị cấm.

Bao giờ chúng tôi cũng kết thúc với bọn tự hủy hoại thân thể. Và tôi tự hỏi, một người dân nước trung lập liệu có cảm giác gì trước những người tự hủy hoại thân thể? Thoạt tiên có một chút thiện cảm nào đó: thâm tâm những người tự hủy hoại thân thể căm ghét chiến tranh cũng như những người trung lập. Nhưng ngay tức khắc là một niềm kiêu hãnh đánh dấu những sự khác nhau. Anh, anh từ chối đánh nhau vì hèn nhát. Còn tôi, người trung lập, là vì lý do nguyên tắc. Những người trung lập cúi xuống những kẻ tự hủy hoại thân thể như người ta trở về làng sau khi đã giành được thắng lợi, mũi bịt lại: những chuồng bò, nước phân, có thể là hay lây đấy. “Thưa ông, thưa bà, những con người khốn khổ ấy yêu cầu ông bà hãy xem thử: làm sao tôi có thể tự mình làm lấy được.” Họ chìa ra những cùi tay, chân cụt lủn, họ thở phì phò từ đáy phổi, họ biết rằng đây là điều may mắn cuối cùng của họ, chỉ có sự phủ quyết của Công ước Genève là cứu được họ khỏi phải nhập ngũ… Thỉnh thoảng những người trung lập phì cười và nói với nhau bằng tiếng vùng Bắc Âu. Ông đại tá quân y hùa theo ý của họ.

- Tôi đồng ý với các vị, cái tên tự hủy hoại thân thể ấy không láu cá lắm đâu, nó có thể giả vờ như thực.

Gabriel, những kỷ niệm đó đủ để anh nhớ lại thế nào là chiến tranh chứ?

Tôi cũng thế, tôi đã trải qua trận đại chiến.

Do Ann, vẫn mang tên đệm Knight.

Do tất cả mọi người đều hồi tưởng nên tôi cảm thấy bắt buộc đóng góp phần của tôi.

Một buổi chiều năm 1916 hay 1917 (nói chung những dòng đầu đề của các báo loan tin về các trận đánh kinh khủng, tôi nhìn các đốm đen của chữ mà không thể nào lập lại từng chữ Verdun, Ypres, Dames?) tôi vào tiệm cà phê lớn, ở góc quảng trường Nhà hát Opéra và Đại lộ Capucines. Tôi chọn một chỗ ngồi. Một thói quen bình thường làm anh rất khó chịu Gabriel, nhưng thú thật lần này không phải là một ngoại lệ, những ghế dài ở Paris BAO GIỜ cũng có vụn bánh mì rơi vãi. Tôi ngồi vào chỗ. Bồi bàn đến. Tôi gọi một cốc socôla nóng, chờ nó nguội thì cũng phải mất đúng mười lăm phút, vừa đủ để tôi giết thời gian trước khi tới giờ hẹn (ở nhà băng). Công việc đó làm tôi khuây khỏa. Cuối cùng, tôi ngước mắt lên và qua hơi socôla bốc lên tôi đã thấy ai nhỉ? Đúng là anh, anh Gabriel. Một Gabriel bằng xương bằng thịt đang ở cuối đằng kia căn phòng. Nhưng do điều kỳ lạ của chiếc gương và theo luật quang học, tôi đã thấy hình phản chiếu của anh trước mặt tôi. Những ánh phản chiếu thì lại không nhìn được người khác, điều đó đã rõ. Vậy tôi có thể quan sát anh thỏa thích. Tôi chưa được gặp lại anh từ đám cưới bất ngờ (mặt phải hay mặt trái, Ann hay Clara). Anh ít thay đổi, má anh bao giờ cũng bầu bĩnh, và mắt anh vẫn xanh như thế. Chỉ nơi bên thái dương anh thấy xuất hiện những đốm sáng hơn: tóc bạc thật sự hay do ánh phản chiếu đã tôn lên? Nói chung, anh luôn bồn chồn ngó vào đồng hồ, dường như anh cứ nghĩ rằng anh đã già đi. Cuối cùng, người mà anh chờ đã đến, một gương mặt gãy, một người đàn ông cao lớn, đầu cuốn một chiếc băng màu kem. Trời, anh lắp bắp điều gì đó. Những câu trò chuyện trong tiệm cà phê ngừng lại trong giây lát. Người bị thương có vóc dáng cao lớn ngồi vào bàn anh đã che khuất bóng hình anh qua gương …

- Anh Gabriel, anh đừng lo.

- Chuyện gì đã xảy ra với bố?

- Tôi nói rằng anh không nên lo lắng. Ông già Louis của anh vẫn khỏe lắm.

Tiếng hai người trò chuyện vọng tới chỗ tôi từ phía sau (quang học và âm học có những logic khác nhau).

- Đầu bố bị sao thế?

Người bị thương có vóc dáng cao lớn liền giải thích cho con trai ông rằng ông bị thương nặng cũng không phải loại vừa, rằng ông khỏe mạnh, ông chỉ lợi dụng chiến tranh để chữa dứt điểm cái bệnh hói của ông. Gabriel, con hiểu chứ, trong thời bình bố chẳng bao giờ dám đi dạo với cái mớ băng bó này. Có băng thế này mới giữ được lớp cao áp sát vào da đầu và đúng thế, chính sự tiếp xúc kéo dài là bí quyết làm cho việc điều trị có hiệu quả tốt …

- Bố đừng nói nữa – Gabriel ngắt lờ - suỵt, người ta đang nghe lỏm đấy!

Gabriel có lý. Mọi cuộc trò chuyện lại ngừng bặt. Người ta dỏng tai về phía bàn của anh đấy, nhất là mấy người ngồi gần anh, mấy tay phi công, họ đã chiến đấu ra trò, áo có lót lông, có huy chương và nhiều huy hiệu. Nhưng người bị thương cao lớn giả Louis vẫn tiếp tục nói và càng hạ thấp giọng thì cái giọng trầm của ông nghe lại càng âm vang và rõ hơn. Bố anh thuộc tạng người không thể nói thầm thì được, tôi có nhầm chăng, anh Gabriel?

- Gabriel, con nghĩ gì về ý đồ lợi dụng chiến tranh của bố? Đình chiến rồi, bố sẽ sẵn sàng sống cuộc đời mới của bố với một bộ tóc trẻ thơ …

Sự việc này đã kết thúc một cách tồi tệ. Mấy tay phi công đã công kích ông ta và giật mớ băng đầu của ông. Nhưng mùi kinh khủng của diêm sinh và dầu hỏa đã giải thoát ông. Những chiến binh thực thụ đã lùi lại. May thay, hai cha con anh đã lợi dụng cơ hội này, thoát thân.

Anh Gabriel, vậy là em hiểu rõ ước vọng của anh muốn bỏ qua không nói đến cuộc chiến tranh của gia đình Orsenna và tiến nhanh đến đình chiến.

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.