Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 91 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Tại sao lại là nhật ký thầm kín? Vì tôi muốn, bằng mọi cách tránh bị tái phát, thoát hẳn ra khỏi tai họa như  cái chết của thời gian. Rõ chưa? Một tập nhật ký thầm kín là bằng chứng hiển nhiên chứng tỏ ngày ngày trôi qua.

Và đây là “ tập ghi chép ở khu rừng mưa” ấy, những trích đoạn thôi, đừng ngại.

Ngày 13 tháng Bảy năm 1914

Bùn.

Màu đỏ quạch trải dài vô tận.

Hai bên bờ đã biến đâu mất. Chẳng còn thấy một cây nào. Chẳng còn nghe nói lên một tiếng động nào. Ngoại trừ tiếng máy nổ. Những tiếng nổ chát chúa như tiếng đập của một trái tim quá to. Và mọi thứ đều rung lên, sàn tàu ở dưới chân ghế bành dưới mông, các cốc rượu uytxki hoặc assahy, những bức tranh khắc gỗ của Anh treo trên các vách (những cảnh săn cáo quen thuộc ở Kent). Ngay cả tiếng nói, ngay cả các giấc mơ nặng nề thay thế giấc ngủ, ngay cả những kỷ niệm về Paris, căn phòng 212 cũng đều bị rung rung. Và chẳng hề có cảm giác ta đang tiến. Người ta tin chắc rằng mình đang ị ra một chỗ thì đúng hơn. Không hề thấy xuất hiện sóng ở mũi tàu, một vết rẽ nước liền khép ngay lại. Những hành khách lạc quan nhất nghĩ rằng trái đất bị nước cuốn trôi, bị đẩy lùi ra xa sau lưng chúng tôi.

Chốc  chốc lại thấy xuất hiện một điểm sẫm màu. Một người da đỏ đã đi vọt ngang qua trên con thuyền độc mộc mớm sát nước.

Tốt hơn hết là đừng quá để mắt nhìn ngó. Hơi máy phả vào mắt.

Ngày 15 tháng Bảy.

Cả ngày ngồi đọc. Hai thí dụ về hôn nhân

1)  Louis Orsenna, bức thư cuối cùng nhận được ở Belem trước khi lên đường.

Con trai biết cách câm lặng thân mến.

Con có thể vào sâu, sâu nhất có thể được vào rừng, bố buộc lòng phải để con đi. Đại Tây Dương vẫn chưa đủ, con lánh xa người  bố tội nghiệp quá thật bất lực không thể đạt được đến nơi chốn bất kỳ một hôn lễ nhỏ nào. Hẳn con còn nhớ bố đã tận dụng mọi vận may của bố. Nhưng tất cả các vận may trên đời không thể chọi nổi một nỗi bất hạnh duy nhất, một sự trùng hợp kỳ quặc, trong khi đó Paris rộng lớn biết bao, chợt giáp mặt với vợ mình, cô ấy đi bộ trên đường phố Antin còn bố từ khách sạn bước ra, bố vừa đến đấy để làm tăng thêm một vận may vào chùm vận may của bố, do đó bố đã phá vỡ, đúng, Gabriel, bố thề với con, bố đã phá vỡ tan tành những mối quan hệ không chính đáng của bố.

Đúng, con hãy tránh xa đi, Gabriel, và chỉ quay về một khi những điều bất trắc do truyền nhiễm bị dập tắt.

Con cho phép bố được có một lời khuyên cuối cùng, Gabriel, trước khi sống xa con một thời gian dài. Con thận trọng với loại cá candiru bé tí xíu. Chúng chui vào mọi đường lỗ phía trước và phía sau, Gabriel, và trú trong cơ thể, chúng gây nhiễm trùng chết người. Một người bố phải nói với con điều đó một cách chính xác mang tính khoa học, Gabriel, con nghe rõ chứ, một cách khoa học: cả candiru có thể lọt vào đường tiểu tiện và bơi ngược lên bọng đái. Tất cả các bác sỹ nghiêm túc khuyên nếu muốn sống sót ở Amazonie thì phải dùng bình đi tiểu ban đêm.

Bố Louis những ngày xa xưa của con không chịu hạ tay đầu hàng, bố sẽ bắt đầu cuộc đời từ số không, một lần nữa, và trước khi thắng được số phận rủi và giới thiệu với con hình bóng một con người thanh thản trong cuộc đời hôn lễ thành công, hình bóng mà mọi người trai làm phận con đều tự hào, bố biết điều đó, bố ôm hôn con.

2) Bà Godin des adonais

Tác phẩm nổi tiếng Relations abrégée d’un voyage fait à l’intérieur de l’ Amérique méridionale của ông de La Condamine, nhân vật thân thiết với con tim tôi, vì chính ông đã đưa cao su vào châu Âu. Mới đọc thì đây chỉ là một câu chuyện về địa lý, phong phú về những nhân vật tự nhiên và hoang dã. Chỉ cần đọc qua phần lời bạt, nếu ít ra người ta có được cái may như tôi là có trong tay bản hiếm quý của Macstricht (1778). Tiếp đến là câu chuyện cảm động vô cùng của bà Goldin des Odonais: “ Một cuộc phiêu lưu khủng khiếp của một người đàn bà dễ thương, lớn lên trong cảnh sung túc, nhưng do quá thiếu thận trọng, đã bị rơi vào một trong các khu rừng rậm không thể lọt vào được, làm đủ mọi thứ cảnh khủng khiếp của đói, khát và mệt mỏi, bà đã lang thang giữa chốn hoang vu suốt bao ngày trời, sau khi chứng kiến bảy người thở hắt qua đời và cuối cùng có mỗi mình bà thoát qua mọi mối hiểm nguy đó một cách có thể nói, kỳ diệu”. Bà Goldin des Odonais là một phụ nữ có chồng, như Clara. Tất nhiên có hai sự khác biệt: thời đại, vì cuộc phiêu lưu ghê sợ này diễn ra vào năm 1769. Và tình cảm: bà vừa nói đến đã vượt qua toàn bộ cánh rừng Amazonie ở Riobamba (thị trấn Quito, xích đạo) để tới Đại Tây Dương gặp chồng đang đảm nhiệm công việc ở Cayenne. Đọc một tiểu sử là điều bổ ích vô cùng. Vào những lúc khó khăn, ta phải bấu víu vào những con người tiền bối. Họ kéo ta ra khỏi cái vỏ của ta, từ từ từng tí một, không phải là không bị vỡ toác, như cặp bò kéo chiếc xe ra khỏi bùn lầy (ấy là ví dụ vậy). Một khi cái nguyên tắc hoa mỹ này được khẳng định ( các nhà viết tiểu sử đời đời sống mãi) thì sẽ có dấu giáng: chắc là sự táo bạo của bà Godin des Odonnais mang đầy tính lạc quan, có những người phụ nữ thực sự thương yêu chồng mình, nhưng tôi phải nhận rõ sự hiển nhiên: Clara không nằm trong số phụ nữ này.

Ngày 19 tháng Bảy

Điển hình của hành khách: senor Pizarro, con cháu của Francisco Pizarro vĩ đại. Ông ta đến đòi được hưởng quyền của mình về Pérou. Ông ta được mọi người xem các giấy tờ, giấy chứng nhận của công chứng viên người Italia ( vì Pizarro là người Italia). Con cháu thì hiển nhiên: dòng họ trực tiếp. Xem ra, chiêu đãi viên báo, hằng năm còn cả tá những ông như thế này đi ngược dòng sông Amazonic để đòi được hưởng quyền thừa kế của họ, những sénores Pizarro, Cortes, Almago…

Ngày 20 tháng Bảy

Hôm nay con tàu chạy cùng một lúc trên hai dòng sông. Một dòng sông bên mạn trái màu đỏ quạch quen thuộc. Và một dòng sông bên mạn phải đen như than. Khách du lịch rất vui thích, quên cả cái nóng, và vỗ tay.

- Nhìn kìa, Ồ! Nhìn kìa, nước không hòa vào nhau.

Viên quản lý tàu nhún vai, chẳng có gì phải hốt hoảng, dòng nước đen từ Colombia ( Rio Negro) đổ về, còn dòng nước đỏ quạch là từ Pérou ( Rio Solimoes) đổ về.

- Tuyệt vời quá!  - Một người phụ nữ tóc vàng hoe đội mũ cói nhỏ thốt lên. Chị ta chỉ còn thiếu nước ngất xỉu vì say mê Brésil khi thấy xuất hiện điều lạ lùng thứ hai, những con cá heo nước ngọt. Chúng bơi lội và nhảy nhoi cao trên mặt nước đúng ngay tại vùng vạch biên phân màu. Cứ như thể chúng muốn khâu chắp hai con sông lại với nhau.

Ngày 21 tháng Bảy

Manaus đây rồi! Thành phố không có kè cảng. Do mực nước sông Amazonie lúc dâng cao và lúc rút chênh nhau đến mười ba mét giữa mùa đông và mùa hè. Cảng được ghép bằng các ụ nổi nên cứ dập dềnh và chao đi đảo lại dưới mỗi bước chân, cũng chông chênh như thị giá của cao su. Rừng rậm giành giật lại đất đai đã bị mất. Cỏ cao bóp nghẹt các đường đi dạo, các cây gòn cày sâu những hàng hiên, bạch đàn phá vỡ các cửa chớp, các cây dây leo cuốn chặt những cây đèn đường… Khu vực duy nhất đội quân thực vật không dám lân lan bén mảng mạnh nằm giữa nhà thờ và các nhà kho, một vài ngõ hẻm có chợ, nên không đủ sức, đành cam chịu. Đám đông bước chậm rãi, họ thẫn thờ chen chúc nhau. Sinh ra ở phương Bắc, khuôn mặt dài vẻ sùng bái người da đỏ ngây dại, nước da màu cá hồi sẫm, đi lại trong thế giới của họ và luôn xô đẩy nhau, vài người Slave để râu, da vàng như bia, người Trung Hoa đó đây, những người duy nhất chạy lon ton và còn một loại người khác có thể nhận ra ngay lập tức, chẳng còn dòng giống cũng như màu da, trông họ mệt mỏi và kiệt sức, họ vừa thoát khỏi rừng rú, ánh mắt nhớn nhác đúng là của những người trở về từ một cõi sâu thẳm.

Khách hàng, đám khách hàng thảm hại, đi đi lại lại giữa các sạp, không dừng lại, trước những cặp mắt nửa bực tức, nửa thất vọng của các nhà buôn từ Cận Đông tới ngay sau những tiếng vang vọng đầu tiên của cuộc lộn xộn, những người Liban, người Syrie, người Ai Cập, có lối sống của người bị giết, bị cái nóng và việc làm ăn tồi bại giết, khăn tay không rời khỏi mặt, luôn tay thấm mồ hôi, luôn miệng lẩm bẩm, họ luôn khuơ tay vung mạnh trong không gian để thúc đẩy công việc buôn bán, để những người không mua gì nhường chỗ cho những người khác, đi đi, nào đi đi, xin mời quý ông, quý bà, hãy coi các đồng hồ của tôi đây này, tôi bán vốn đấy, loại đảm bảo chạy ba kim, ai mua đồng hồ của tôi nào, đừng để thời gian trôi đi lẻ loi, mời các quý bà, xin mời các quý bà đưa mắt nhìn gương, các quý bà sẽ thấy mình như ánh mắt người đàn ông đang nhìn… Vào những giây thời gian đều đặn, họ giơ nắm đấm dọa mấy kẻ cạnh tranh nhỏ mọn, những người ngồi xổm, chỉ có được mỗi tấm thảm nhỏ trải trước mặt, ngồi trên đất lấm bụi, bày thưa thớt vài thứ lặt vặt, dây giày, cúc, kim, hoặc dọa mấy kẻ đi lang thang, mấy kẻ bán rong, đánh giày, bán nước, bán bánh ngô, ảnh thánh, những bản dàn bè âm nhạc, những con dao bỏ túi nhiều lưỡi của Thụy Sĩ, lồng chim, khi rao hàng họ rất rụt rè tạ tội Thánh Sesbastien có màu tình địch với muỗi: cỡ nhỏ: 1 ngàn râyxơ[1], cỡ to: 2 ngàn râyxơ. Thánh Otacilia chữa khỏi bệnh táo bón, ảnh cỡ nhỏ: 2 ngàn râyxơ… cầu phúc ban lành cho bạn…

Lang thang hồi lâu giữa cái chợ kỳ lạ không tiền bạc này, giữa đám người vô tích sự này, ta hiểu ra rằng công việc buôn bán, dù buôn bán tay trắng, không tiền, là một cách để kháng cự với rừng rú. Để chứng tỏ cho nó thấy rõ, chúng ta cũng vậy, những con người, chúng ta biết cách sống quấn chặt lấy nhau, chúng ta có các bãi cây nhỏ của mình, những trao đổi, những biến hóa của riêng ta. Ta nên biết rõ điều đó: Manus là một thành phố bị vây hãm. Chợ là mảnh đất kháng cự cuối cùng chống lại Màu Xanh Lá Cây.

Ngày 22 tháng Bảy

Đối với tất cả những ai đui mù trong thành phố và cả với những người lơ đễnh, senhor Guihermo Moreira là một công chứng viên, một công chứng viên tỉ mẩn, uyên bác trong việc soạn thảo các văn bản chứng thực và nhẫn tâm trong việc thu nợ, một công chứng viên đã có vợ, hai con lớn, con cả Joaquin tập sự về triết học ở Cambridge (Magdalene College), con thứ hai Enrique, tập sự được ủy quyền ở Wall Street (Drexel, Morgan and Co), công chứng viên thận trọng, không béo ú cũng chẳng còm nhom. Và lần cuối cùng người ta thấy ông bước qua cửa lầu xanh “ Place Blanche”, một chốn nổi tiếng ở thành phố Libania, vào cái đêm mồ hôi cứ đổ xâm xấp, khi con quỷ trong tất cả dân thành phố Manaus, ngay cả lũ quỷ ru rú nhất, lũ quỷ lù đù nhất cũng đều choàng thức giấc và đã ngự trị thành phố mãi tận tới khi trời nổi dông (ba giờ sáng). Nhưng do suốt cái đêm ấy chẳng ai giữ được tấm lòng trắng trong, như tất cả mọi con người, già hoặc trẻ, đàn bà hoặc đàn ông, người thì bị bắt gặp đứng bên bờ sông giữa một lũ trẻ trần truồng, kẻ thì cặp kè một ai ai đó ngồi nhún nhẩy trên chiếc xe ngựa thuê dừng trước nhà hát, tựa hồ ai nấy đều đầm mình trong cảnh vô phương cứu vãn, thành phố đã ký một loại thỏa ước ngầm, một hợp đồng lãng quên cực lớn, nhờ vậy ông công chức viên G. Moreira mới giữ đươc quy chế không chê vào đâu được của mình. Đối với những người khác, những người tò mò, những người biết chắp nối từng mẩu từng mẩu những điều thật nhỏ nhoi, chẳng hạn như sự rối loạn của một người đàn ông vào một ngày Chủ nhật hoặc cái thú của ông đối với giấy kẻ ô ly, đối với tất những người này, họ biết rằng senhor G. Moreira trước khi là một người bố hoặc đức ông chồng hoặc công chứng viên, thì đã là một nhà thực chứng. Và thành viên của trên cả tá các hội kín, tất cả đều hướng vào một mục tiêu: sự tiến bộ. Và ba lần tôi gõ cửa văn phòng của ông, ngày 22 tháng Mười năm 1914 ấy, đã khẳng định ý kiến này theo phương trình sau đây: những cử chỉ điên khùng = người Pháp = Auguste Comte = người thực chứng = công chứng viên Moreira.

Tôi đứng đợi trên ngưỡng cửa. Khiêm tốn, ánh mắt nhìn xuống, như tôi đã biết cách xử sự trong những dịp đại sự, cô gái rất trẻ đi tất ngắn trắng.

- Cứ vào, - ông công chứng viên lớn tiếng báo, - Cứ vào đi, tất cả những ai từ đất nước của Descartes và Lavoisier tới đều được nồng nhiệt đón tiếp…

Bước vào một căn phòng khách đã thấy có bốn người, bốn người đàn ông, vẻ nghiêm nghị, tuy vậy họ đều dang rộng tay. Tiếp theo là một cảnh gây bối rối, một sự chồng chất những lời cảm kích khâm phục dưới chân đất nước già cỗi của chúng ta, mẫu quốc Pháp của nghệ thuật và luật pháp, tổ quốc Pháp của các quy nạp và khấu trừ, bà đỡ Pháp cho nền dân chủ… Montesqieu, Robespierre, Victor Hugo (vv).

Rất ngượng nghịu, tôi nhìn chằm chằm lúc mũi giày của mình, lúc bệ cửa sổ. Người ta đang chất lên xe bò một kim tự tháp nhỏ của Kheops và tượng Nhân Sư, làm ba khúc, cảnh bài trí ở Aida xem ra rất ọp ẹp. Cuối cùng cái chuỗi lải nhải ấy ngừng tuôn. Biết bao lời ngọt ngào làm không khí trở thành một thứ nước xi rô.

- Thế nào, ông bạn người Pháp thân mến, ông đã nhìn Brésil bằng cặp mắt mới, ông cứ thẳng thắn cho chúng tôi biết, ông cho rằng chúng tôi có thể phần nào lập lại trật tự trong các xứ sở nhiệt đới của chúng tôi không?

- Ồ! Như các ông đã biết đấy, tôi vừa chân ướt chân ráo…

- Xin mời ông cứ cho biết.

- Nếu vậy tôi sẽ xin phát biểu nhưng tất nhiên đây chỉ là một ý kiến, tôi xin mạn phép nói rằng các ông sẽ gặp khó khăn, nhưng chắc chắn các ông sẽ thành công, các ông phải dốc lòng can đảm, vì, biết nói ra sao nhỉ, cuộc sống ở đây, có lẽ tôi dùng từ chưa chính xác, đúng, cuộc sống ở đây, chính điều đó rất gần gũi với tình cảm của tôi, cuộc sống ở chỗ các ông là cực quyền.

- Cực quyền à? Cực quyền như một nền độc tài?

- Cực quyền. Tôi chẳng phải là một nhà hóa học, nhưng xem ra tôi đoán được cấu tạo của châu Âu, những tỷ lệ của rượu cốc tai: ba phần gần bằng nhau, một phần ba rượu, một phần là cái chết hoặc hơn một chút và một phần ba là lực trung gian, chẳng phải sự sống lẫn cái chết, chẳng phải sự đi lên cũng như sức ì tại chỗ: sự chờ đợi. Ít ra châu Âu tạo thành một phần ba sự chờ đợi. Hoa đợi trước khi mọc, những xác chết trước khi rữa, các cuộc tình đợi trước khi ôm hôn.

- Rất, rất kích thích tinh thần, xin mời ông cứ nói tiếp đi, cốc của ông vần đầy như ý chứ?

- Ở đây chỉ có sự đợi chờ, còn chẳng có gì khác nữa. Các ông có 99% là cuộc sống, 1% là cái chết, 0% là sự chờ đợi. Các ông cứ nhìn những xác chết ấy, vừa tắt thở, chúng rữa ngay, như cuộc đời nuối tiếc rằng đã nhượng bộ một tấc đất cho cái chết. Xin các ông bỏ quá cho thí dụ rùng rợn này, nhưng chúng ta là những nhà khoa học, đúng không nào…

Cử tọa theo thuyết thực chứng tán thành, mơ mộng mỉm cười, “chất bồi bổ tinh thần!” họ lẩm bẩm, những viễn cảnh quý hiếm.

Tôi thấy hổ thẹn là đã lắm lời như vậy. Sau ngày Clara bỏ đi, động nhấp chút rượu uyxki là tôi trở nên lắm lời. Tôi thấy đầu óc mình tràn ngập những lý luận, những bài học mở đầu, những lời giải thích toàn bộ thế giới, tôi cứ nói hoài, mỗi lúc một thấy hứng thú, tin tưởng, bụng chắc mẩm rằng Clara sẽ ba chân bốn cẳng quay về để sẻ san cuộc đời với một người có tài kể chuyện sắc bén. Sau hàng giờ lý luận suông, tôi quay trở về trái đất. Rõ ràng rằng các nhà thực chứng chờ đợi một điều gì đấy. Tôi tìm kiếm, tìm kiếm, tôi hoàn toàn quên mất điểm xuất phát. Ngay từ đó, làm sao tìm được cách đi đến đích tốt đẹp? Cuối cùng sau một lúc im lặng đến khó chịu, tôi đã lần ra được lối đi. “… Và qua tất cả những điều đó, ta có thể rút ra được kết luận, các bạn thân mến, rằng các bạn sẽ thành công trong ý định lập trật tự của các bạn. Nước Pháp, mẫu quốc của luật pháp, cách đây không lâu, cũng mọc đầy lông như Amzonie của các bạn, các bạn đừng quên, phủ đầy rừng….”

Thời tiết này làm tình bạn mọc nhanh như cây cối. Trong hai tiếng đồng hồ, chúng tôi đã trải qua một sự tò mò vô vị về cái mạng lưới mệnh danh là cuộc sống và chết này. Và nhiệt tình giữa chúng tôi bốc đến nỗi bầu không khí bên ngoài xem ra khá mát mẻ. Người ta cố vật vã để có được niềm vinh dự cho tôi ở trong nhà mình. Tôi đã ngủ. Clara.

Ngày 24 tháng Bảy

Tôi đẩy cửa và tôi có thể chứng thực: nhà hát ở Manaus thối hoắc như Levallois, Levallois vào những ngày hè tồi tệ. Khi tất cả lũ ngựa của tất cả các xe ngựa cho thuê ở Paris tè và bĩnh đồng thời một lúc ra đấy. Lũ gà mái nhảy từ ghế này sang ghế kia. Các cây mọc ở khoang dành cho dàn nhạc. Trên sân khấu, màn kéo rất cao như váy tốc, người ta thấy những vòm cuốn mạng nhện phồng lên như những chiếc váy trong, ba cảnh phông trang trí, piazza của Thợ Cạo, căn phòng của Violetta, khu rừng ở Norma; mấy con chó cấu xé nhau tranh một cái đầu cừu ở ngay hốc người nhắc nhở. Còn ở các phòng diễn viên, cả bầu đoàn các gia đình sống trong đó. Người ta nghe thấy những tiếng gáy o o, những tiếng chiêm chiếp của phụ nữ, một cháu sơ sinh khóc, các con chim cu làm tổ trên chiếc đèn chùm lớn…

Để tránh không xoay lưỡi dao chĩa vào tim các bạn tôi, tôi thích giữ bí mật cuộc viếng thăm này.

Ngày 25 tháng Bảy

Chúng tôi kết thúc ngày của chúng tôi ở quán giải khát Byron, một quán nổi mắc neo ngay trước nhà kho chính. Bạn bè của tôi lần lượt kéo tới, bước đi loạng choạng trên ụ nổi. Bác sỹ Lauro Cavalcante, một bác sĩ về nhi rất nổi tiếng, và một người độc thân, có đời tư khá bí hiểm; một ông chủ tịch mà tôi chẳng biết cả tên lẫn họ, tôi chỉ biết ông là phụ trách câu lạc bộ đua ngựa, câu lạc bộ bóng đá, vườn thú nhiệt đới, thư viện, Hội bơi thuyền, Hội ái hữu ngư dân, dự án bãi đánh golf, cũng bấy nhiêu hội mà ông kể chuyện không dứt về các cuộc hội họp, những khó khăn tài chính và luôn nghĩ đến kết luận: đừng trông cậy vào tôi để mai táng cái câu lạc bộ, cái vườn thú, cái hội, cái ái hữu ấy!... Và Pedrinho Martins, giám đốc Công ty hàng hải BrésilPeru thường nói tới một cơn sóng khổng lồ pororoca ( tiếng của người da đỏ, tiếng gào lớn), nổi lên cứ mười năm một lần ở ngoài biển và ập vào trong sông tới tận Satarem, trên đường đi nó quét sạch trơn trụi; Mgr Macedo, giám mục và một nhà thực chứng, lúc trẻ đã có ý định về một ngôi nhà thời nổi Christophore, rất cần cho các xứ ở vùng có nước, anh nghĩ sao, anh Gabriel? Và Walid, thương gia người Syrie, người đã lợi dụng lúc suy tàn chung để vơ vét “phần béo bở”, như họ vẫn thường bảo nhau. Những người khác hơi khinh bỉ ông ta một chút, nhưng ủng hộ ý của ông ta: thành lập một hiệp hội phụ để buộc Nhà cầm quyền ban cho vùng Amazonie một địa bạ thực sự. Một chiến dịch không vô tư, Walid độc quyền nhập lưới sắt và dây thép gai, nhưng không có địa bạ, nghĩa là không có quyền sở hữu rạch ròi, làm sao xây dựng được bước tiến bộ?

Thật xót xa thấy giữa ban ngày ban mặt, hội họp không cần dè dặt, những thành viên các hội kín, trước đây, trong thời hỗn loạn của cuộc lộn xộn đã phải ngụy trang còn bây giờ trong thời suy tàn lại hội họp công khai như những chú cá lớn bị mắc cạn… Chúng tôi cùng nhau bình luận về các tin tức. Ở châu Âu, cuộc chiến sắp bùng nổ. Theo tôi, có lẽ cũng do lòng yêu thương nước Pháp, họ có vẻ mệt mỏi.

- Anh có tin rằng sẽ có rất nhiều người bị chết không, anh Gabriel?

Nhưng một nhà thực chứng là một nhà thực chứng. Tất cả các cuộc chiến tranh đều có tác dụng thúc đẩy việc sản xuất nguyên liệu, nhất là cao su. Do đó tôi bắt gặp ở họ những cử chỉ cho thấy rõ tâm trạng hồ hởi, những phản xạ bộc phát như đột nhiên xoa mạnh hai tay. Hoặc mỉm cười, ánh mắt nhìn lơ đãng như tôi mỗi khi nhớ tới căn phòng 212.

Người ta có thể ngạc nhiên trước việc lựa chọn quán giải khát nổi Byron làm nơi hội họp đám bè bạn của địa bạ. Như vậy là chẳng hiểu gì lịch sử chủ nghĩa lãng mạn ở Amazonie.

Lúc ở châu Âu, vào năm 1820, thị hiếu đương thời xuất phát từ các cơn sốt, sự xanh xao đột ngột, các đêm run bần bật, đám trẻ ở nhiệt đới kêu gào: những triệu chứng đó, thì đấy cũng chính là cuộc sống của chúng ta! Căn bệnh thế kỷ của các bạn chỉ là một dạng nhẹ của bệnh sốt rét. Nhiệt liệt chào mừng bạn đến với gia đình của những người run lập cập. Và những lớp trẻ có văn hóa ở Bombay, La Havana, Belem đổ xô tìm đọc các bài của thời sương mù, Ossian, Chateaubriand, Musset, Byron và bắt đầu viết: xin hãy nghe chúng tôi, họ khẩn nài, đừng sao nhãng làn sóng tâm hồn của chúng tôi, chúng tôi cũng xứng đáng với danh hiệu lãng mạn. Nhưng châu Âu cứ tảng lờ. Từ phía Nam tới chỉ có thể là nô lệ, gia vị hoặc đường hoa mơ và những bản thảo nhiệt đới nằm mốc trong kho của các nhà xuất bản ôn hòa… Lòng nặng trĩu nỗi khinh bỉ này, lớp trẻ đó xem xem nên chết theo ai, khi hiểu rõ đấy là lá đơn gia nhập câu lạc bộ lãng mạn. Và gương thì sờ sờ ra trước mắt: tháng Ba năm 1823 – ngày 19 tháng Tư năm 1824, George Geordon huân tước Byron rắp tâm giải phóng Hy Lạp. Chỉ còn đợi thời cơ… Sự chờ đợi thật là lâu. Thế mà chủ nghĩa lãng mạn châu Âu đã chết từ lâu lắm rồi, hồi tháng Ba năm 1899 con tàu quân sự Mỹ Wilmington, không hề được phép, đã chạy ngược con sông Amazonie. Lạ thật, những người theo phái lãng mạn tự bảo, đây là mối lợi bất ngờ à?

Vào tháng Sáu, một người thích chuyện mạo hiểm, Luiz Galvez Rodrigues de Arias, nhân viên lãnh sự quán Bolivi ở Belem đã bán cho báo Provincia do Pasa văn bản hiệp định mật giữa La Paz và Washington: người Mỹ đã phản bội Brésil và đảm bảo với Bolivia các quyền của mình về tỉnh Acre, một mảnh lớn của Amazonie ở chân dãy núi Andes. Con tim những nhà lãng mạn Brésil rộn đập. Liệu họ có phải đương đầu, với Bolivia, với nước Mỹ bá quyền không? Từ đây, họ rời khỏi các căn phòng đầy khói của mình, tập thể dục, tập bơi, đi bộ, để khi mà…. Vào tháng Bảy, Luiz Galvez tự tôn xưng là hoàng đế của Quốc gia độc lập Acre. Các nhà lãng mạn Brésil suýt chết vì thất vọng. Lẽ nào cơ hội đã mất? Lẽ nào một tên nhà báo lưu vong tầm thường đã xoáy mất cuộc phiêu lưu của họ? Đến tháng Chín, họ thở phào: một ngàn lính Bolivia chiếm Acre. Giờ của các thi sĩ đã điểm. Phải đi bảo vệ hoàng đế Galvez. Họ đổ bộ lên một ụ nổi, chính chiếc ụ nổi này, mà vào tháng Một, người ta xây cất quán giải khát Byron. Và trong thời gian đi ngược Rio Purus, họ đọc tờ Childe Harold và người nọ trách người kia là đã không báo cho các báo lớn ở châu Âu. Họ gồm 132 người. Họ đều bị tàn sát hết.

Ba tháng sau sự việc khủng khiếp, trang bốn tờ Times và trang sáu tờ Figaro, cùng đăng ở mục nhỏ với nội dung như nhau: cao su làm điên đầu? Đã xảy ra một cuộc ẩu đả dữ dội trong rừng giữa các bộ lạc tình địch: 132 người bị thiệt mạng.

Tôi rất thích châu Âu, ông chủ tịch nói với tôi, nhưng phải thú thực…

Ông ta sáng lập một Hiệp hội để công bố tên tuổi các nhà thơ của Acre và hàng năm, vào thời kỳ phân mùa, một đám phụ nữ ném hoa xuống dòng sông đen, ngay trước quán giải khát.

Ngày 27 tháng Bảy

Qùa tặng của ông chủ tịch: Đại lịch thực chứng.

-       Sự thiết lập địa bạ ở Amazonie là một hoạt động hữu ích, anh Gabriel, thậm chí là cần thiết. Nhưng chỉ là một bước tiến rất nhỏ so với dự kiến thực sự của chúng tôi. Lịch Thiên chúa chẳng nói được gì ngoài cả đống những thánh và những họ đưa vào một cách không chủ định. Phải thay nó, đấy là cách suy nhất nếu người ta muốn từng ngày từng ngày tạo cho con người tình cảm thắm thiết với tiến bộ. Trong cuốn lịch của chúng tôi anh thấy đấy, chẳng hạn, Byron ở ngày thứ 27, tháng thứ Tám. Anh thấy nước Pháp không cô đơn trong cuộc chiến đấu cho Lẽ Phải.

Ngày tháng bao nhiêu?

Biết ghi những giấc mơ này vào ngày tháng bao nhiêu? Thời gian của họ có như của chúng ta không, với những tháng Bảy, ngày có số, năm nhuận? Hoặc họ từ một nơi khác tới, từ một thiên hà khác không có đồng hồ, không có nhãn ở quanh cổ?

Gabriel, mặc áo dài trắng, đối mặt với một ban hội thẩm, ban tham mưu thực chứng mặc y phục đỏ và đầu đội tóc giả theo kiểu các thẩm phán. Anh. Anh đàm phán cải cách một phần Đại lịch. Không biết tôi có dám mạn phép yêu cầu ông, thưa ông chủ tịch thay nhạc sĩ Bacchini bằng Knight Markus, nữ thánh Pulquérie bằng Clara và Cromwell bằng Ann, ông biết rồi, đây là em gái người vợ rất trẻ của tôi? Ông chủ tịch lầm rầm với các bạn đồng nghiệp của mình, lâu vô tận… Walid người Syrie xem ra có thái độ rất ngập ngừng. Cuối cùng họ chấp thuận, gật, gật đầu cứ như thể bị một cơn gió lớn quất từ phía sau không bằng. Tiếng bút lông ngỗng kêu sào sạo trên văn bản sửa đổi cuối cùng làm tôi tỉnh dậy…

Tháng Tám

Màu xanh, màu của Hy vọng. Bước vào lực lượng dữ trữ lớn của thế giới các màu Hy vọng.

Thuyền trưởng của chúng tôi là người có bản chất thiếu nhẫn nại. Ông không thể chịu đựng nổi những tình tiết lắt léo.

- Đừng ngại, tôi biết một con đường tắt. Vừa khởi hành, ông ta đã xoay ngay hết bánh lái sang trái. Và con tàu thủy nhỏ xíu gaiola, lợi dụng lúc nước dâng cao, đã rời lòng sông và lao mũi thẳng vào rừng, chọc thủng thành lũy gồm lá cây và dây leo giữa tiếng ầm ầm như một chú hươu vụt chạy qua. Từ lúc đó là cảnh tranh tối tranh sáng, cây cối ngổn ngang, cảnh ngự trị của màu xanh lục, của nước bốc mùi hôi thối, của rêu phong và cây súng to tướng, của sương mù vương trên các cành cây, côn trùng trôi nổi. Chúng tôi lênh đênh giữa những cây bị nhận chìm, ngay dưới các ngọn cây có bầy khỉ vô hình đang chí chóe đánh nhau. Cư dân bị ngập lụt nhìn chúng tôi đi ngang qua không hề bày tỏ vẻ gì, cũng chẳng hề có cử chỉ biểu lộ gì: những người lai chân đứng ngập nước ngay trước nhà họ, những người trồng rau sà lách trên thuyền đổ đất gần lưng khoang, trẻ con trú trong những ổ đại loại như tổ cò, bò có lông thú vục đầu xuống nước gặm cỏ dưới đáy rồi bơi về các bè – chuồng, và một cha cố; một mình đứng trên đỉnh gò nhỏ xíu: cha đang đọc kinh trước một đám thuyền độc mộc. Tàu kéo theo một đám cỏ, hai con cò bạch và lũ cò thìa đang đậu mổ…

Ban đêm phải áp chặt lòng bàn tay vào hai tai. Cả khu rừng rậm gầm thét hoảng hốt. Nó run rẩy, khắp cả cơ thể nứt toác, răng va vào nhau lập cập. Cư dân ở dưới các tán cây đã mất đi vẻ lộng lẫy của mình, những con vật mà suốt cả ngày chẳng thấy ló ra, hàng ngàn con, những sâu bọ, rắn rết, các con mèo hoang có đốm, các con gặm nhấm, lũ vẹt Ara đỏ, lũ ở ẩn, bầy dọa dẫm, tất tật, chúng thi nhau gầm gào đến rách phổi, vỡ họng, mỗi loài một giọng điệu, con quàng quặc, con chiêm chiếp, con gầm rú cứ như thể chúng cố thoát khỏi lũ ma quỷ… Đột nhiên chúng im bặt, chúng nghỉ lấy hơi. Chúng im lặng suy ngẫm. Cảnh vật chỉ bị khuấy động trước tiếng nước chảy, tiếng con cá đớp mồi, những tiếng chim kêu dài, tiếng chim gù ở ngay kề sát bên con tàu, tiếng mỏ chim mổ thân cây. Và rồi nỗi sợ lại nổi lên, dữ dội hơn, một cơn sóng ngầm, những tiếng sủa, tiếng kêu thất thanh, có kẻ ra tay tàn sát ngay đâu đây, nó xé tan đôi cánh, thế gian bị phanh thây… một cảnh hỗn loạn thực sự của chúng sinh. Rừng để lộ rõ bản chất thực sự của nó, về ban đêm còn ghê rợn hơn cảnh hãi hùng ban ngày. Phải vỗ an nó. Nhưng biết tìm đâu ra lời, những điệu hát ru vỗ về Amazonie? Sáng ra, cảnh vật lại trở nên tĩnh lặng.

Nhện chăng tơ suốt đêm, tàu, gaiolo bị cuốn trong những mạng nhện bất kỳ động tác nào đều phải lọt qua những tấm màn đó và những tấm màn trong mờ. Cuộc sống, đã bất động, lại còn chậm rãi hơn nữa, mềm yếu. Bươm bướm ló ra vào đầu buổi chiều, hàng trăm con, vàng óng và xanh lơ. Chúng bay quanh đầu thuyền trưởng, tựa một chiếc mũ rộng vành sombrero di động khổng lồ, sau đó chúng bay đi mất. Thuyền trưởng đứng thẳng người lên và mỉm cười:

- Đây là một dấu hiệu đấy, anh Gabriel, ta đã chọn đúng con đường tắt.

Con tàu gaiolo dừng một lúc ở giữa đại loại một dòng suối. Nước sạch và trong veo có thể nhìn xuyên suốt tám hoặc mười mét dưới đáy, nền đất của rừng, một gốc cây bị đốn, một nút búi rễ…

- Nghe này, nghe này. (Nhà ham thích những đoạn đường rút ngắn thò đầu ra ngoài bờ thành tàu. Người  ta nghe thấy những tiếng rì rầm, tựa như từ dưới nước vọng lên).

Ông bắt liên lạc với các thế giới ở bên dưới kia. Theo ông các làng mạc bị chìm ngập vẫn tồn tại, gà mái vẫn cục cục, chó vẫn sủa, nghe này, chỉ cần dỏng tai lên.

Nhưng trên tàu chẳng ai quan tâm đến các thế giới ở bên dưới kia. Một người cao lừng lững không hề nhúc nhích rời khỏi chỗ suốt ngày, cứ đứng dán chặt mắt vào ống nhòm. Chốc chốc, ông ta giật nảy người, giơ ngón tay chỉ một điểm giữa các đám lá. Ông ta tìm kiếm các cây phong lan dại, cây biểu sinh, mọc trên những ngọn cây và đem về London bán đấu giá ở Christie và Sotheby vớ bẫm. Mỗi lần thấy một loại đang cần tìm, ông ta cứ những muốn con tàu quay lại. Thuyền trưởng từ chối: đường tắt là đường tắt.

Hai hành khách khác là người Anh, các chuyên gia về tôn giáo cổ (Christ College), các nhà sưu tầm những vật sáng tạo ra thế giới.

a) Tupan sinh ra mặt rời, mặt trời sinh ra trái đất.

b) Tupan thổi trái đất bay vào cõi vô biên.

c) Mặt trời không muốn xa con gái mình nài nỉ Tupan đừng đẩy mình đi quá xa.

d) Chúa chấp nhận và ra lệnh cho trái đất dừng lại chỗ hiện nay của nó

đ) Trái đất, con gái mặt trời, tạo nên từ lửa. Tupan dội mưa xuống cô ta suốt một ngàn năm để cô ta nguội lạnh. Sau đó yêu cầu mặt trời rọi vào cô ta cứ sau mười hai giờ lại rọi mười hai giờ, để sưởi ấm cho cô ta…

Suốt ngày mấy người Anh chỉ ru rú trong ca bin của họ sắp xếp các phiếu và chỉ chiều tối mới bước ra để nhờ tôi làm chứng:

- Không gì đẹp hơn một tạo vật tạo nên thế giới, ông có nhận thấy vậy không, ông Gabriel?

Ngày 12 tháng Tám

Đột nhiên giữa các đám cây xuất hiện một con tàu trắng. Những tiếng gọi. Anh thủy thủ trẻ Ze Alphonso kéo chuông. Không có hiệu quả. Không một tiếng trả lời nào ngoài tiếng cánh vỗ xào xạc, tiếng ồn áo lớn của bầy chim. Chúng tôi ngoằn ngoèo tiến lại gần. Con tàu nằm im bất động, mắc cạn trên một loại ụ đất. Những con diệc và dang màu đỏ đậu trên bờ thành tàu, đứng thật nghiêm bồng súng chào đón chúng tôi.

Lời bình luận của thuyền trưởng: chẳng nên đòi hỏi quá nhiều ở các đoạn đường tắt.

Ngày 14 tháng Tám

Ngày thứ mười bốn lao vào vùng cây xanh. Sự phục thù từ xa của các người vợ, các bà mẹ và mẹ vợ đã trách cứ biết bao cái giống đàn ông không thích rau tươi như họ đáng được hưởng. Tất cả các sắc độ của Màu Xanh, từ kim cương đến vật nhơ nhớp, từ ngọc lục bào đến phân ngỗng, tất cả đều có Màu Xanh hoặc từ Màu Xanh mà ra cả, các thân cây, dây leo, các loài thực vật mọc trên mặt nước, nấm, côn trùng, thuyền độc mộc bỏ hoang. Nước chỉ còn là một chiếc lá rộng, sẫm màu và ẻo lả, khép chặt lại khi con tàu vừa đi qua, còn không khí ẩm ướt như thành phần chất lỏng để cũng chứng tỏ uy quyền của mình học đòi cây cối vươn lên trời. Màu Xanh, chứng khó tiêu, chứng buồn nôn Màu Xanh, sự khủng khiếp Màu Xanh. Thuyền trưởng biết rõ sự bất ổn định của hành khách khi lọt vào vùng này: ông cố hết sức trấn an họ, bằng cách chỉ tay về hướng các màu khác, ô! Các bạn hãy nhìn cánh đồng hoa nhài màu xanh lơ kia kìa, ô! Vẹt Macao màu đỏ, nhưng khi vừa ngước mắt nhìn, chúng đã bay biến. Màu Xanh đã ăn ngấu nghiến chúng, tấm màn màu xanh lục đã buông. Và ông đi săn hoa trở nên cáu bẳn. Ông ta chẳng rình mấy cây phong lan qua ống nhòm nữa, ông ta cố phát hiện những đường hầm qua các bãi cây nhỏ, những đường lạch có thể được đào bới. Ông ta luôn mồm vặn hỏi ông thuyền trưởng khốn khổ, cứ cầm ve áo bộ đồng phục cũ lắc lắc, cái con đường rút ngắn của anh, còn dài nữa không? Anh phải ăn tươi nuốt sống, cái con đường rút ngắn của anh!...

 Ngược lại, mấy người Anh rất thú vị. Họ cứ nghĩ mình đang ở trong Kinh thánh. “ Tinh thần của Chúa được chuyển xuống nước… Và chúa phân tách nước dưới bầu trời với tất cả những gì ở phía trên bầu trời”…

Ông nghĩ thế nào, ông Gabriel, đây là sách Sáng Thế, đúng không ông Gabriel? Đúng là chúng ta đang theo Sách Sáng Thế…. “ Mong rằng tất cả nước dưới bầu trời tụ lại một nơi và yếu tố khô cằn xuất hiện”… Không, Amazonie thậm chí có trước Sách Sáng Thế… Anh nghĩ sao Wolseley, khi viết lời nói đầu của Sách Sáng Thế? Và họ vỗ tay, đóng cửa ru rú trong ca bin của họ, tổ chức những lễ rất nghịch đạo để chào mừng sự kiện, ấy là như tôi được nghe nói.

Tôi chia sẻ nhiệt tình này. Tôi, tôi không ở trong Kinh thánh, tôi ở trong bụng. Khu rừng này là một cái bụng. Tôi lắng nghe mạch của cái bụng đó, tôi lắng nghe sự liên minh dữ tợn giữa các loài cây và nước để sản sinh, sản sinh, luôn luôn sản sinh. Tôi đang ở trong vùng thắt lưng của đất, tôi cảm nhận rõ những chấn động của nó rất chậm, rất nhẹ nhàng, tôi cảm nhận thấy rõ những sự co rặn của sản phụ, sản phụ có tuổi vừa kiên nhẫn lại đẻ dày. Tôi cứ những muốn ở lại trong bụng. Nơi đây không có sự chết, chỉ có sự sống, nơi đây cái chết chỉ là một khuôn mặt của sự sống, sự sống cứ tiếp diễn và tiếp diễn.

Ngày 16 tháng Tám.

Sự thiếu vắng là màu xanh lá cây. Sự thiếu vắng như một khu rừng. Sự thiếu vắng như một sự thối rữa. Cũng màu xanh lá cây như dòng sông Amazonie. Cũng tục tĩu trong khả năng sinh sản. Mơ ước được yên thân với cuộc đời. Mơ ước một cái chết hoàn toàn, chết hẳn, VÔ ÍCH, một cái chết mà sẽ không được ai nuôi dưỡng, thậm chí cả dòi cũng không. Mơ ước cái chết của chiếc bụng xanh lá cây.

Ngày 17 tháng Tám.

Giữa đêm, ngạc nhiên thấy thuyền trưởng quỳ phục trên cầu tàu: Thánh Christophe Colomb xin Ngày cứu giúp con.

Ngày 18 tháng Tám.

Ước nguyện đã đạt. Quay về đột ngột với ánh sáng. Ánh sáng gấp đôi của con sông, màu trắng đục của nền trời mới phát hiện ra hơi nóng, đỏ quạch của dòng nước nơi bốc lên hơi nóng, trần và đáy của lò.

Thuyền trưởng rời bánh lái, yêu cầu chúng tôi chắp tay:

- Cảm ơn Thượng đế, xin hẹn sang năm.

Ông ta mỗi năm chỉ mạo hiểm vào một con đường tắt. Chúng tôi tiến gần tới đồn điền đầu tiên của tôi. Tuy hơi nóng cùng cực, tôi cảm thấy mình trần trụi và tôi rùng mình, tôi ở lại chưa lâu trong Màu Xanh, nơi mọi vật vã sinh vật sinh sản ra nhau, nơi chuẩn bị kỹ những cuộc phục sinh. Bầu trời trắng trơn, dòng sông trắng trơn. Tôi còn cần sáng tạo thế giới. Tôi để cả ngày cuối cùng của mình ngồi lì trong ca bin của mình, tai dán chặt vào vách, tôi chia sẻ với mấy người Anh. Và tôi nghe, tôi nghe, tôi thêm vững tâm lấy lại lòng can đảm.

Mặt trăng và mặt trời là hai anh em sinh đôi nhân từ uốn nắn lại những khuyết tật của Vũ trụ và chở che những người sáng tác ra những câu pha trò của Tạo hóa. Sự tưởng tượng được sùng bái của nó: cắm cái gậy của nó (một con rắn – rễ cây lách luồn rất tài tình) vào cái lỗ nhỏ nhất của con người đi ngang qua nằm trong tầm của nó…

Mặt trăng và Mặt trời, theo các nhà chuyên gia ở ca bin bên cạnh, đã mạo hiểm bứt khỏi đất những con rắn chết tiệt ấy, để ghép vào nơi như chúng ta đã biết, ghép vào nơi mà cậu rất thích mút biết bao. Wolseley, đừng nói bậy như vậy, William. Sự thụt lui thụt tới của cái hình trụ cường tráng này được nảy sinh như vậy…

Tôi nhìn giới vật của tôi với vẻ thích thú mới. Chà một nguyên mẫu thật là đẹp!

Phần tiếp theo tập ghi chép của Gabriel đã thô bạo tước bỏ mất tính chất trữ tình. Từ chối tháng Tám đến tháng Chạp, tập này chỉ là một bản báo cáo buồn tẻ của một kỹ sư, ngập các con số, sản lượng từng đồn điền một[2], tháng qua tháng, tổng số tiền nợ của những người đã chết và bỏ trốn (người ta biết nguyên quán của họ, ở Nordeste: công ty dự tính đánh thuế họ, theo cách liên đới), tài khoản các cửa hàng, những giả thuyết khả năng sinh lợi, tùy theo thị giá của cao su…

Khô khan và chính xác. Cứ như thể từ nay đã lọt được vào tâm thiên hướng của anh, cao su, Gabriel muốn tự bảo vệ. Hoặc anh tỏ vẻ quan trọng. Anh đã từ bỏ phận làm người CÓ THẨM QUYỀN.

Do đó những trang và những trang này không có tâm hồn, không một lời nào đả động đến những con người ấy, đã bị bứt ra khỏi bờ biển. Fortaleza, Pernambouc, São Luis, và bị Màu Xanh cầm tù suốt từ hồi đầu thời rối ren. Không một lời về cuộc đời màu xanh lá cây. Bốn tiếng đồng hồ cuốc bộ trong đêm tối để rạch thân cây, bốn tiếng đồng hồ cuốc bộ trong buổi sáng để lượm mủ cây, bốn tiếng đồng hồ đứng trong lều để hun khói nhựa mủ, đến hết ngày lại đeo thêm nợ, nợ chồng chất và trói cẳng vì phải mua ở cửa hàng của Công ty dao nhựa, rượu trắng, lưỡi câu… mà giá cả cứ vọt lên trong khi đó thị giá cao su lại cứ hạ….

Gabriel không đả động gì tới các giám đốc người Bretagne, Nedelec, Cleuziat, Corlouer. Tuy họ đón rước Gabriel như Chúa Cứu Thế. Đã hai năm nay, họ bảo với anh, tôi chưa được quay về thành phố… Họ đưa anh đi xem vật họ khám phá ra được, kẻ thì là một phát minh của nhà kế toán, người là một vườn rau làm lạnh có thể trồng củ cải… Như vậy là, họ hỏi anh, mắt sáng rực, chúng ta đóng cửa hiệu, tôi có thể lên đường về Pháp chứ?

Gabriel không đáp gì. Chỉ đến chiều tối anh mới ghi vào tập ghi chép: Đồn điền Gustave Eiffel. Giám đốc Nedelec Loic. Đánh giá: thất bại.

Gabriel cũng không ghi chép gì về cây cao su, cây cao chúa tể thân xám và cành lá xanh hàng hàng chạy xa tắp mù tít, cây bị thương, cây mang vết thương đó hàng ngày bị con người rạch ra để bị chảy mủ.

Ta thấy ngượng thay cho Gabriel. Ta nhớ lại tất cả. Họ chờ đợi một lời mà chẳng thấy phát ra. Ta chỉ thú nhận điều đó ra với con. Ngoài ra chẳng ai biết rõ. Tất cả cái phần “có thẩm quyền” đó, ta đã đốt sạch.

Và rồi đột nhiên ngày 12 tháng Giêng năm 1915, sẽ rõ tại sao (chắc hẳn Gabriel cho rằng cuộc thanh tra của mình đã kết thúc), anh tìm lại được tâm hồn. Anh bỏ luôn các con số và lại đắm mình vào rừng.

Ngày 12 tháng Giêng năm 1915

Trong rừng, mọi thứ đều mục rữa. Tất tật. Lá, cành, thân cây, dây leo. Ngay cả phong lan biểu sinh, loại bám trên các ngọn cây. Người ta cứ nghĩ rằng nó thoát được mọi tai họa trần tục vì luôn được trò chuyện với mặt trời. Nhưng mỗi lúc mình lại càng bắt gặp nhiều hơn, rơi rụng xuống đất, sào huyệt của mốc.

Ngày 17 tháng Giêng năm 1915

Cuộc điều tra về chim chóc đã kết thúc, chúng cũng bị thối rữa. Gồm cả loài nhẹ nhất, những con dang đỏ, những con vẹt unas pitangas gubas màu cầu vồng. Người ta không tin rằng nó được cấu tạo bằng lông, bằng những màu sắc tươi tắn và hơi gió. Vừa nằm xuống đất, chúng như các vật khác, chúng bốc mùi.

Ngày 1 tháng Hai năm 1915

Sáng nay Ze Alphonso đã giết chết một con báo tuyết. Nó chưa chết hẳn mà bộ lông nó đã điểm đốm từng mảng ruồi bâu.

Ngày 3 tháng Hai năm 1915

Đã giải quyết xong với lũ rắn, những thủ thuật  của chúng không thể bảo vệ được chúng, hoàn toàn ngược lại: rệp và kiến đánh nhau trong xác chúng.

❀ ❀ ❀

[1] Tiền Bồ Đào Nha và Braxin. (ND)

[2] Liệu có thể gọi những cây cối chỉ do Thượng đế trồng là “ đồn điền” không?

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.