Tôi đánh một dấu sao kế bên số điện thoại của Quintana.
“Bạn anh tên gì?” Tôi hỏi, áp sát ống nghe vào tai mình. Nhưng bất ngờ Quintana lảng tránh.
“Tôi không muốn nói, phòng hờ trường hợp đó không phải là anh ta. Tôi có một tấm hình. Cô có thế ghé qua xem, nếu như cô đến ngay bây giờ. Nếu không thì để lúc khác, vì hôm nay tôi có rất nhiều việc phải làm”.
“Anh không được đi đâu hết! Chúng tôi tới ngay đây!”
Tôi bước ra ngoài gian phòng làm việc chung của toàn đội, nói với mọi người: “Tôi có manh mối mới, một địa chỉ trên đường San Carlos”.
Conklin bảo: “Tôi muốn tiếp tục điều tra thêm qua điện thoại. Nhiều đoạn băng quay cảnh nổ súng được gửi tới tấp vào website của chúng ta qua email”.
Jacobi đứng dậy, mặc áo khoác vào rồi nói: “Để tôi chở cô nhé, trung úy”.
Tôi quen biết Jacobi đã mươi năm, từng là đồng sự với anh khoảng ba năm trước khi tôi thăng chức Trung úy. Trong suốt khoảng thời gian chúng tôi còn làm cùng nhóm, chúng tôi đã có được một tình bạn thân thiết và sâu sắc, đồng thời giữa chúng tôi dường như có được sự thần giao cách cảm vậy. Tuy nhiên không ai trong số chúng tôi nhận thức được mình thân thiết với người kia như thế nào, cho đến cái đêm mà chúng tôi bị mấy đứa trẻ ranh điên loạn bắn bị thương nặng. Việc cận kề cái chết khiến chúng tôi xích lại gần nhau hơn.
Giờ thì ông đang lái xe đưa tôi đến một khu đổ nát nằm ngoài rìa Tenderloin.
Chúng tôi nhìn lên cái địa chỉ mà Ike Quintana cung cấp, một tòa nhà hai tầng có hình dạng nhà thờ phía trước ở tầng trệt và một vài căn hộ ở bên trên.
Tôi nhấn chuông, và một âm thanh như tiếng còi báo động chợt vang lên. Tôi kéo cái nắm cửa kim loại mờ đục ra, rồi Jacobi và tôi tiến vào một căn phòng bỏ ngỏ tối tăm. Chúng tôi leo lên thang bộ, tiến vào một dãy hành lang trải thảm bốc mùi ẩm mốc.
Có một cái cửa ở mỗi bên dãy hành lang.
Tôi gõ nhẹ vào cánh có đánh dấu 2R. Một lát sau, nó cót két mở ra.
Ike Quintana là một gã da trắng, khoảng ba mươi lăm tuổi, mái tóc đen bù xù và trông khá kỳ cục với bộ quần áo dày nhiều lớp. Chiếc áo lót lộ ra ngoài qua chiếc áo cổ chữ V bằng vải flanen, một chiếc áo len không tay được tròng vào thêm nữa, rồi một chiếc áo đan len màu gỉ sét được để hở thả xuống tận hông.
Anh ta mặc một cái quần pijama vải xanh và mang một đôi dép xẹp màu nâu, đón chúng tôi bằng nụ cười khá dễ thương cùng hàm răng sún. Anh ta đưa tay ra, bắt tay từng người và mời chúng tôi vào.
Jacobi bước vào trước, tôi theo sau. Hai người đàn ông đi vào một hành lang dán đầy giấy báo và túi nhựa đầy ắp những vỏ chai nước ngọt, chất từ sàn đến nóc. Vào đến phòng khách, chúng tôi thấy la liệt hộp các-tông, tiền xu, hộp đựng chất tẩy rửa đã sử dụng hết, và mấy cây bút bi đầu tròn.
“Tôi đoán là anh đã sẵn sàng cho mọi chuyện”, Jacobi nói khẽ.
“Đúng rồi đấy”, Quintana trả lời.
Chúng tôi tiến vào nhà bếp. Xoong chảo nằm lung tung khắp nơi. Một tấm khăn trải bàn che vội lên chồng báo đã bị xé nham nhở. Dưới đó là nhiều xấp báo khác và một tấm khăn trải bàn chồng chất lên nữa. Trông như một cái ụ cao ba chục xăng-ti-mét.
“Tôi sống như vậy quen rồi”, Quintana có vẻ hơi ngại. Anh ta đề nghị chúng tôi uống café, nhưng cả Jacobi và tôi đều từ chối.
Tuy vậy, Quintana vẫn bật lửa bếp ga và đặt một ấm nước nhỏ lên nấu.
“Anh có hình cho chúng tôi xem chứ?” Tôi hỏi. Quintana nhấc lên bàn một cái hộp đựng xà phòng cũ, bằng gỗ, từ dưới sàn nhà. Anh ta cào trong mấy đống hình ảnh, thực đơn và vô số những món đồ lưu niệm mà tôi không tài nào nhìn ra kịp, bàn tay anh ta như bay giữa hàng đống giấy tờ.
“Đây rồi”. Anh ta kêu lên và đưa ra một tấm hình mờ mờ khổ 10x15. “Tôi nghĩ nó được chụp khoảng năm 1988”.
Năm thanh thiếu niên - ba nam hai nữ - đang xem tivi trong một căn phòng sinh hoạt chung, nhìn có vẻ như trong bệnh viện.
“Tôi đó”, Quintana nói, chỉ vào anh ta trong tấm hình đang ngồi thượt ra trên cái ghế bành màu cam. Thậm chí ngay lúc đó, anh ta cũng đã mặc quần áo tầng tầng lớp lớp rồi.
“Thấy cái gã ngồi trên cái ghế sát cửa sổ không?”
Tôi săm soi tấm hình. Một thằng bé trai gầy gò, tóc dài và lún phún râu. Mặt hắn được chụp nghiêng. Hắn có thể là kẻ giết người hoặc cũng có thể là bất kỳ một ai đó.
“Thấy hắn đang giật mấy sợi lông trên tay không?” Quintana nói.
Tôi gật đầu.
“Đó là lý do tại sao tôi nghĩ đó là hắn. Hắn từng làm như vậy hàng giờ liền. Tôi thích gã đó. Chúng tôi gọi hắn là Fred a-lito-lindo. Đó là lời một bài hát mà hắn thường hay ngân nga”.
“Tên thật của hắn là gì?” Tôi hỏi.
“Hắn bị trầm cảm nặng lắm”, Quintana nói, “Đó là lý do hắn phải vào bệnh viện công Nata. Để chữa trị đó, cô biết không. Một tai nạn. Em gái hắn chết. Có chuyện gì đó xảy ra trên chiếc thuyền buồm, tôi nghĩ vậy”.
Quintana tắt bếp ga, bước đi. Một ý nghĩ chợt thoáng qua đầu tôi: Phép lạ nào đã ngăn không cho cái tòa nhà này cháy trụi ra tro nhỉ?
“Anh Quintana, đừng để chúng tôi phải hỏi anh thêm lần nữa nhé”. Jacobi làu bàu. ‘Tên hắn là gì vậy?’ Quintana quay trở lại bàn với ly cafe bị mẻ trên tay, ăn mặc như một kẻ đầu cơ quần áo và mang phong thái tự tin của một gã giàu có từ trong trứng nước.
“Tên hắn ta là Fred. Alfred Brinkley. Nhưng tôi không hiểu được sao hắn lại có thể là kẻ giết người”, Quintana nói, “Fred là gã trai lịch thiệp nhất trên đời”.