Đó là buổi sáng thứ hai, khi bình minh vừa ló dạng.
Conklin và tôi đến công trường xây dựng bên dưới mũi Fort, một pháo đài bằng gạch khổng lồ được xây dựng trên rìa của bán đảo San Fraincisco trong suốt cuộc nội chiến, giờ đây đứng dưới bóng của chiếc Cầu Kim Môn kỳ vĩ.
Một cơn gió nhẹ mang đầy hơi nước thổi tới vịnh, làm gợn lên những con sóng bạc đầu nối tiếp xô đẩy nhau, giúp cho cái oi nồng của không khí giảm đi khiến ta có cảm giác nhiệt độ lúc này chỉ là ba mươi lăm chứ không phải là năm mươi độ F nữa.
Người tôi chợt run rẩy, có thể vì cơn gió làm mình ớn lạnh hoặc cũng có thể là linh tính mách bảo về thứ mà chúng tôi sắp sửa tìm ra.
Tôi kéo phéc-mơ-tuya áo khoác len lên một tí, cho hai bàn tay vào trong túi khi cơn gió mang đầy hơi nước quất tới tấp vào mắt tôi.
Một người thợ hàn đang làm việc trên phần móng cầu tiến về phía chúng tôi, mang theo mấy bình café từ '“xe rác”, một chiếc xe chở thức ăn nằm ngoài hàng rào lưới sắt ngăn cách công trường xây dựng với bên ngoài.
Người thợ hàn tên là Wayne Murray, anh ta kể với tôi và Conklin về việc sáng hôm đó khi đến chỗ làm, anh ta thấy một vật gì đó có vẻ kỳ lạ nằm mắc trên mấy tảng đá bên dưới pháo đài.
“Lúc đầu tôi cứ tưởng đó là một con hải cẩu”, anh ta buồn bã nói. “Khi đến gần hơn, tôi thấy một cánh tay buông thõng xuống nước. Tôi chưa bao giờ thấy xác chết nào trước đây cả”.
Cửa xe hơi đóng sầm sập, tiếng người bước vào cảnh cổng lưới sắt, nói chuyện, cười đùa - mấy công nhân xây dựng, người của Dịch vụ y tế khẩn cấp và hai cảnh sát viên của khu Park Service.
Tôi nhờ họ giăng dây rào quanh hiện trường.
Rồi tôi đưa mắt về phía cái bóng đen sì nằm trên mấy tảng đá bên dưới bờ kè, một bàn tay, chân trắng toát xoãi dài trong bọt biển li ti của con sóng nhấp nhô chỉ chực kéo ra đại dương xanh thẳm.
“Cô ấy không phải bị xô ngã tại đây”, Conklin nói. “Dễ bị phát hiện lắm vì xung quanh có người”.
Tôi nheo mắt nhìn lên bóng của anh bảo vệ cầu đang đi tuần tra quanh công trường với khẩu súng trường bán tự động hiệu AR-15.
“Ừ, tùy thuộc vào thời gian và thủy triều, có thể cô ấy đã bị đẩy xuống từ một chiếc cầu dẫn ra biển nào đó. Kẻ sát nhân ắt hẳn đã nghĩ cô ấy sẽ bị sóng cuốn trôi ra biển.
“Bác sỹ G đến rồi kìa’, Conklin nói.
Vị bác sỹ pháp y trông tươi tỉnh hơn vào buổi sáng hôm đó, mái tóc bạc ướt nước vẫn còn hằn những vết lược chải, bộ quần áo liền ủng chống nước kéo cao lên tới giữa ngực, mũi hồng lên dưới bộ phận cố định kính.
Ông ta và một phụ tá đi trước dẫn đường, chúng tôi theo sau, bước đi lúng túng trên những hòn đá lởm chởm, dốc bốn mươi lăm độ, cao khoảng bốn mét rưỡi so với mép vịnh.
“Đứng yên tại đó. Cẩn thận đấy”, Bác sỹ Germaniuk nói khi chúng tôi tiếp cận cái xác. “Không muốn bất kỳ ai ngã và chạm vào thứ gì đó”.
Chúng tôi giữ khoảng cách khỏi hiện trường khi bác sỹ G trườn xuống mấy tảng đá mòn, tiến đến gần tử thi, đặt bộ dụng cụ hành nghề bên cạnh, sử dụng chiếc đèn soi, ông bắt đầu bước kiểm tra sơ bộ.
Tôi có thể thấy cái xác khá rõ trong ánh sáng của chiếc đèn. Gương mặt của nạn nhân bị thâm sì và trương phình ra.
“Có hiện tượng da bị phù ở đây”, Bác sỹ G nói với tôi. “Cô ấy bị ngâm dưới nước khoảng hai ngày rồi. Đủ lâu để trương lên như một cái phao”.
“Cô ấy có vết thương nào ở đầu do bị súng bắn không?’
“Không thể nói được. Cô ấy trông giống như bị va đập mạnh vào đá. Tôi sẽ chụp X-quang từ đầu đến chân khi chúng tôi mang cô ấy trở về phòng xét nghiệm.
Bác sỹ G chụp hình tử thi hai lần từ mỗi góc cạnh ánh đèn nháy lên chỉ trong một hai giây.
Tôi vội vàng ghi nhớ phục trang của cô gái - áo khoác sẫm màu, áo len cổ lọ, mái tóc ngắn, gần giống với kiểu tóc úp cái bát để phân biệt mà tôi thấy trong tấm hình trên giấy phép lái xe khi tôi kiểm tra ví của cô ấy hai ngày trước.
“Cả hai chúng ta đều biết đó là Paola Ricci”, Conklin nói, nhìn chằm chằm xuống cái xác.
Tôi gật đầu đồng ý. Chỉ không đồng ý việc ngày hôm qua chúng tôi kết luận quá vội vàng khiến gia đình Tyler thất vọng cùng cực.
“Đúng rồi”, tôi nói. “Nhưng tôi sẽ tin vào điều này hơn khi chúng ta có được giấy xác nhận chính thức”.