Tôi nghỉ trực sáng thứ bảy một ngày đầu tháng mười một, nhưng vẫn bị gọi đến hiện trường vụ án mạng vì danh thiếp của tôi được tìm thấy trong túi của nạn nhân.
Tôi đứng trong phòng khách tối tăm của một căn nhà trên đường số 17, cùng một gã đáng ghét tên là Jose Alonzo. Hắn ở trần, bụng phệ, ngồi sụp xuống chiếc ghế sofa bị lún, hai cổ tay bị trói quặt ra sau lưng. Hắn cúi gằm mặt, nước mắt chảy tràn xuống cằm.
Tôi chẳng thấy tội nghiệp cho hắn chút nào cả. “Hắn đã được thẩm vấn rồi phải không?” Tôi hỏi thanh tra Warren Jacobi, đồng nghiệp cũ và hiện đang làm dưới quyền tôi. Jacobi mới vừa năm mươi mốt tuổi và suốt hai mươi lăm năm trong nghề từng thấy nhiều nạn nhân của các vụ án mạng hơn bất kỳ người cảnh sát viên nào có thể gặp trong đời.
“Ừ, tôi đã làm xong. Trước khi hắn thú nhận”. Jacobi siết chặt hai bàn tay thành nắm đấm đưa ngang hông mình. Cơn thịnh nộ hiện lên trên gương mặt hằn dấu vết thời gian của Jacobi.
“Anh hiểu về quyền lợi của mình chứ?” Tôi hỏi Alonzo.
Hắn ta gật đầu và lại bắt đầu nức nở “Đáng lẽ ra tôi không nên hành động thế này, nhưng cô ấy đã làm tôi phát điên lên”.
Một đứa bé chập chững biết đi, tóc cài một cái nơ con bướm màu trắng cáu bẩn, cái tã lót ướt mèm trũng xuống hai đầu gối con bé, nó níu chặt lấy chân bố mình. Tiếng khóc của con bé như muốn làm trái tim tôi tan nát.
“Rosa đã làm gì khiến anh giận dữ?” Tôi hỏi Alonzo. “Tôi thật sự muốn biết điều này”.
Rosa Alonzo nằm trên sàn nhà, gương mặt xinh đẹp hướng về phía bức tường màu nâu nhạt bị bong tróc, đầu cô ấy bị vỡ do người chồng lấy cái bàn là để đánh và tước đi mạng sống của cô.
Cái bàn dùng để đặt quần áo lên ủi đổ sập xuống xung quanh cô ấy, tê liệt như một con ngựa nằm giãy chết, mùi khét lẹt khuếch tán và vương vãi khắp không gian.
Lần cuối cùng tôi gặp Rosa, cô ấy nói với tôi rằng cô ấy không thể rời bỏ chồng mình vì hắn sẽ lùng ra và giết chết cô.
Tôi đã cầu mong cô ấy sẽ đem đứa bé trốn đi thật xa.
Thanh tra Richard Conklin, đồng sự của Jacobi, thành viên mới nhất và trẻ nhất trong tổ chúng tôi, đi vào nhà bếp. Anh đổ thức ăn cho mèo vào một cái chén cho một con mèo mướp lông màu cam nhạt đang kêu meo meo trên cái bàn phoocmica. Thú vị thật.
“Nó có thể sẽ phải ở đây một mình khá lâu đây”. Conklin nói vọng ra.
“Gọi cho tổ chức bảo vệ động vật đi”.
“Họ nói là họ bận rồi, trung úy ạ”.Conklin vặn vòi nước cho đầy cái chén.
Alonzo lên tiếng
“Thanh tra, cô có biết vợ tôi đã nói gì không? Cô ấy bảo tôi “Đi kiếm việc gì làm đi”. Tôi chỉ quá tức giận thôi, cô hiểu không?”
Tôi nhìn trừng trừng vào hắn cho đến khi hắn quay mặt đi chỗ khác, khóc nức nở bên xác người vợ đã chết, “Anh không cố ý làm như thế đâu Rosa ơi. Xin em, hãy cho anh một cơ hội nữa đi”.
Jacobi với lấy cánh tay Alonzo, xốc hắn đứng dậy rồi nói “ừ, cô ấy tha thứ cho cậu rồi, anh bạn ạ. Đi nào”.
Đứa bé bắt đầu gào toáng lên khi Patty Whelk của Tổ chức Bảo trợ trẻ em xuất hiện ngoài cửa.
“Lindsay”, cô ấy gọi, bước vòng qua xác nạn nhân, “Bé cưng đâu rồi?”
Tôi bế đứa bé lên, gỡ dây ruy-băng ra khỏi mái tóc xoăn tít của bé rồi trao bé cho Patty.
“Anita Alonzo”, tôi buồn bã nói, ‘Tiếp nhận con bé nhé”.
Patty và tôi bất lực nhìn nhau khi cô ấy xốc con bé lên trên hông mình, rất gọn gàng.
Tôi để Patty lục tung phòng ngủ để tìm một cái tã lót sạch. Trong khi Conklin lưu lại phía sau để chờ bác sỹ pháp y, tôi theo sau Jacobi và Alonzo bước ra đường.
Tôi chào tạm biệt Jacobi rồi leo lên chiếc xe Explorer ba năm tuổi của mình đậu ngoài garage cách sáu thước bên ngoài đường. Tôi vừa vặn chìa khóa thì chiếc điện thoại Nextel, đeo trên thắt lưng, kêu bíp bíp. Trời ơi, hôm nay là thứ bảy mà. Để cho tôi yên với chứ.
Tôi bắt máy khi chuông đổ tiếng thứ hai.
Đó là sếp tôi, Anthony Tracchio. Một sự căng thẳng khác thường lộ rõ trong giọng nói của ông ấy khi ông cố nói to lên, át đi âm thanh chói tai của còi báo động.
“Trung úy”, Ông ấy nói, “Có một vụ bắn súng loạn xạ xảy ra trên một chiếc phà, chiếc Del Norte. Ba người chết. Hai người bị thương nặng. Tôi cần cô đến đây. Ngay tức khắc”.