Yuki đứng giữa phiên tòa, cảm giác như mình thật non nớt, cứ như lần đầu tiên tranh tụng. Cô bám chặt lấy cạnh của cái bục dành cho luật sư có kích thước như một cái giá để bàn nhạc, thầm nghĩ về lúc Len đứng sau nó thì trông như thế nào. Cô đứng ngang chóp của nó như một học sinh tiểu học vậy.
Ban hội thẩm nhìn cô, hy vọng cô sẽ làm điều gì đó vượt ra ngoài tầm vóc mình.
Liệu cô có thể thuyết phục họ định Alfred Brinkley tội danh mưu sát thành lập không?
Yuki cho gọi nhân chứng thứ nhất, cảnh sát viên Bobby Cohen, người có mười lăm năm kinh nghiệm trong Sở cảnh sát San Francisco, vẻ ngoài và hành vi đầy vẻ đáng tin cậy kiểu tôi-sẽ-nói-sự-thật-và-chỉ-nói- sự-thật, tạo nên một phong thái vững chắc cho trường hợp của bên nguyên.
Yuki dẫn dắt viên cảnh sát nhớ lại những gì anh đã nhìn thấy khi bước lên chiếc phà Del Norte, và khi cô hoàn tất phần chất vấn của mình, Mickey Sherman chỉ hỏi Bobby một câu duy nhất.
“Anh có chứng kiến thảm họa trên phà không?”
“Không, không có”.
“Cảm ơn anh. Tôi chỉ hỏi bấy nhiêu thôi”.
Yuki thầm khen Cohen, nghĩ rằng dù Cohen không nhìn thấy vụ nã súng, nhưng anh đã tái hiện cảnh tượng ấy cho các thành viên hội thẩm, giúp họ hình dung ra bức tranh toàn cảnh của vụ thảm sát tang thương và từ điểm này cô sẽ lấy đà tăng tốc.
Cô cho gọi Bernard Stringer, một lính cứu hỏa đã nhìn thấy Brinkley bắn giết Andrea và Tony Canello. Stringer lê bước đến bục đứng và tuyên thệ trước khi ngồi xuống. Anh ta khoảng gần ba mươi tuổi, với vẻ mặt chân thật, thuần Mỹ của một cầu thủ bóng chày. Yuki hỏi “Anh Stringer, anh làm nghề gì?”
“Tôi là lính cứu hỏa thuộc trạm 14 nằm ở đường 26 và Geary”.
“Tại sao anh có mặt trên chuyến phà Del Norte vào ngày 1 tháng 11?”
“Tôi thường đưa các con tôi đi chơi vào cuối tuần”, Stringer mỉm cười, trả lời. “Các con tôi thích du ngoạn trên phà lắm”.
“Có điều gì bất thường xảy ra trên phà vào ngày hôm đó không?”
“Có, tôi thấy cảnh bắn giết trên khoang thượng”.
“Kẻ nã súng đó có mặt tại tòa ngày hôm nay không?” Yuki hỏi.
“Vâng, có”.
“Anh có thể chỉ cho chúng tôi xem đó là ai không?”
“Ngay đằng kia. Người đàn ông trong bộ com-lê xanh”.
“Xin thư ký tòa vui lòng ghi lại rằng anh Stringer đây đã chỉ đúng vào bị cáo, Alfred Brinkley. Anh Stringer, anh đứng cách Andrea và con trai của cô ấy, Anthony bao xa khi Brinkley nã súng vào họ?”
“Bằng khoảng từ chỗ tôi ngồi đến chỗ cô đứng thôi. Chừng một mét rưỡi, hai mét gì đó”.
“Anh có thể nói cho chúng tôi biết anh đã thấy gì không?”
Gương mặt Stringer dường như rúm lại khi anh hồi tưởng về cái ngày máu me và kinh hoàng đó. “Cô Canello đang rầy la cậu con trai mình, cũng khá gay gắt, tôi nghĩ vậy.
“Xin đừng hiểu nhầm ý tôi. Cô ấy không phải đang chửi rủa thằng bé đâu. Chẳng qua là thằng bé có vẻ bướng bỉnh, không nghe lời, và tôi định can ngăn. Nhưng tôi chưa kịp nói bất kỳ điều gì thì bị cáo đã bắn cô ấy. Và rồi hắn tiếp tục nã đạn vào thằng bé. Thế là mọi thứ trên phà rối tung cả lên”.
“Brinkley có nói bất kỳ điều gì với ai trong số hai nạn nhân trước khi ra tay hạ sát họ không?”
“Không. Hắn chỉ nã đạn liên tiếp hai phát. Pằng. Pằng. Rất lạnh lùng”.
Yuki để cho những lời của Bernard Stringer từ từ thấm vào những người dự khán, rồi nói “Để rõ ràng hơn nhé, khi anh nói ‘rất lạnh’, anh không phải nói về nhiệt độ đó chứ?”
“Không, đó là cách mà hắn giết người. Gương mặt hắn lúc ấy lạnh băng”.
“Cảm ơn anh, Stringer. Đến lượt bên bào chữa”, Yuki nói với luật sư biện hộ.