Tôi gọi cho Rich Conklin khi đang ngồi trên xe, đưa anh ấy cái tên Brinkley để tra trên hệ thống của Trung tâm Thông tin tội phạm Quốc gia, thuộc hệ thống thông tin của Cục điều tra liên bang, trong lúc Jacobi lái xe trở về đường Bryan.
Chi và McNeil đang đợi chúng tôi tại Beers O’The World Pub của người chủ quán tên MacBain. Đó là một quán rượu tối tăm nằm kẹp giữa hai ngôi nhà sơ sài được xây kế bên nhau đối diện Trụ sở.
Jacobi và tôi tham gia vào nhóm và gọi bia tươi Foster được rót ra từ vòi, rồi tôi hỏi Chi và McNeil là có tin tức gì mới không.
“Chúng tôi phỏng vấn một người đàn ông bán thuốc lá trên đường Polk ở Vallejo”. Chi nói, đi thẳng vào vấn đề. “Một ông già, chủ tiệm đó, nói ‘Vâng, tôi bán thuốc loại Turkish Special. Một tháng khoảng hai gói cho một khách quen.” Ông ta lấy cái hộp các-tông ra khỏi cái kệ và cho chúng tôi xem - quả đúng là nó thiếu đi hai gói”.
Conklin bước vào, ngồi xuống và gọi bia Dos Equis cùng với một cái ham-bơ-gơ Angus, với thịt bò tái.
Trông như là anh ta đang suy tư, nghĩ ngợi điều gì đó trong đầu.
“Bạn đồng nghiệp của tôi phấn khích, chỉ vì một cái hộp đựng mấy bao thuốc lá”, Cappy nói.
“Vậy, anh nghĩ tôi khờ lắm chắc?” Chi hỏi McNeil.
“Thôi nào mấy cậu”, Jacobi càu nhàu.
Bia được mang ra, Jacobi, Conklin và tôi nâng ly lên mời Don MacBain, chủ quán bar, đồng thời là cựu cảnh sát trưởng của Phòng cảnh sát San Francisco, người có bức chân dung được lồng trong khung treo trên tường.
Chi tiếp: “Và ông lão nói rằng vị khách này là một người đàn ông Hy Lạp, khoảng tám mươi tuổi - nhưng rồi ông ta lại bảo ‘Đợi một chút. Cho tôi xem lại tấm hình nào.’
Cappy tiếp lời Chi. “Vì vậy tôi đưa tấm hình của tên giết người lên sát mặt ông ấy và rồi ông ta nói ‘Gã này hả? Tôi từng gặp hắn mỗi buổi sáng khi hắn mua báo. Hắn là tên giết người sao?’
Jacobi gọi cô phục vụ lại gần, “Mang cho tôi một cái bánh ham-bơ-gơ cỡ trung, thịt chín vừa thôi và khoai tây chiên nữa nhé”.
Chi đi sâu vào chi tiết hơn.
“Rồi ông chủ tiệm thuốc lá nói rằng ông ta không biết tên kẻ bị tình nghi nhưng ông ấy nghĩ là hắn từng ở đối diện bên kia đường, số 1513 Vallejo”.
“Vì vậy chúng tôi đến đó...” Cappy nói.
“Trời, tha cho tôi đi, gì mà dài dòng thế'’, Jacobi nói. Ông ta chống hai khuỷu tay xuống bàn, đưa lòng bàn tay ấn lấy hai hốc mắt, tỏ vẻ nóng lòng chờ câu chuyện đưa đến một kết quả nào đó hoặc đến hồi kết thúc cho nhanh.
“Và chúng tôi có được một cái tên”, Cappy chốt lại. “Người quản lý tòa nhà 1513 Vallejo đã nhận dạng được người trong hình một cách chính xác. Nói với chúng tôi rằng kẻ tình nghi đã bị đuổi đi cách đây hai tháng, sau khi hắn bị mất việc”.
“Khua chiêng gõ trống lên ăn mừng đi nào”, Chi nói. “Hắn tên Alfred Brinkley”.
Thật không hay khi thấy nét thất vọng trên gương mặt của McNeil và Chi, nhưng tôi phải ngắt ngang họ.
“Cám ơn Paul. Chúng tôi biết tên hắn rồi. Thế anh có tìm ra được nơi hắn từng làm việc không?”
“Đúng rồi, trung úy. Hiệu sách, à, đại siêu thị sách có thương hiệu Sam nằm trên đường Mason”.
Tôi quay qua Conklin. “Richie, sao trông anh giống Hội viên danh dự quá vậy? Anh đã tìm được gì?”.
Nãy giờ Conklin ngồi dựa lưng vào ghế, cố cân bằng bằng mấy chân ghế sau, rõ ràng là đang thích thú nghe mấy lời bông đùa. Lúc này thì chân ghế trước sụp xuống nên anh phải dựa hẳn vào bàn. “Brinkley không có giấy gọi nhập ngũ. Nhưng... hắn phục vụ trong quân đội, làm việc ở pháo đài trong hai năm. Xuất ngũ do bị thương vào năm 1994”.
“Hắn gia nhập quân đội sau khi ở bệnh viện tâm thần ra?” Jacobi hỏi.
“Hồi còn ở Bệnh viện công Napa, hắn vẫn còn là một đứa trẻ”, Conklin nói. “Hồ sơ bệnh án của hắn đã được duyệt. Nhưng dù sao đi nữa, các nhà tuyển quân cũng đã không có quá nhiều lựa chọn phải không?”
Chân tướng của kẻ sát nhân bắt đầu lộ rõ dần. Rùng rợn thật, giờ thì tôi đã biết được điều gì khiến tâm trí mình rối bời kể từ hôm xảy ra vụ án.
Brinkley là một tay súng thiện xạ vì hắn đã được quân đội đào tạo trong những ngày còn tại ngũ.