Conklin, Jacobi và tôi vừa ngồi xuống quanh chiếc bàn làm việc của tôi nằm trong góc phòng thì thanh tra viên Paul Chi và Cappy McNeil bước vào. Cái không gian làm việc tối tăm mấy mét này là nơi tập kết của mười hai thành viên trong đội trọng án của chúng tôi.
Cappy nặng dễ hơn một trăm mười ký, và chiếc ghế dựa kêu cót két khi anh ta ngồi vào. Chi thì yểu diệu, ẻo lả. Anh ta đặt cái mông lép xẹp của mình lên bàn tôi kê bên Jacobi, người đang rũ rượi ho không dứt.
Khi mọi người đã yên vị, Conklin chọn đứng phía sau tôi, lưng anh hướng ra cửa sổ, nơi tấm bảng chỉ đường đến xa lộ ngoài kia. Trông anh ta rất ngộ nghĩnh khi đứng chân này chéo qua mắt cá chân kia.
Phòng làm việc của tôi chật chội quá mức, giống như khi ai đó cố nêm chặt một nắm đầy bút chì màu vào một chiếc ly thủy tinh vậy.
Tôi có thể cảm nhận được hơi nóng tỏa ra từ người Conklin, điều này làm tôi chú ý hơn về người đàn ông cao khoảng 1.85 m này, vóc dáng cân đối hoàn hảo, mái tóc màu hạt dẻ rũ xuống đôi mắt nâu, dáng vẻ của một chàng trai hai mươi chín tuổi, gợi tôi nhớ về một người em họ của Kenedy trong trang phục Hải quân.
Chi đặt tờ “Tin tức hàng ngày” số chủ nhật lên bàn trước mặt tôi.
Hình kẻ sát nhân, được chụp lại rất mờ nhạt từ đoạn băng quay không được chắc tay lắm của Jack Rooney, nằm trên trang nhất, và bên dưới là dòng chữ “CÓ AI BIẾT NGƯỜI TRONG ẢNH NÀY KHÔNG?”
Chúng tôi dựa sát vào nhau, xem xét cẩn thận gương mặt lông lá đó thêm một lần nữa.
Bộ râu của hắn tủa ra tận quai hàm và che đi tất cả mọi thứ từ môi trên cho đến trái cổ của hắn.
“Jesus Christ”, Cappy kêu lên. Tất cả chúng tôi nhìn chằm chặp vào anh ta.
“Gì vậy? Tôi chỉ muốn nói là hắn ta trông giống Chúa Jesus thôi mà”.
“Chúng ta chẳng thu nhận được gì từ phòng khám nghiệm vào sáng chủ nhật đâu, nhưng chúng ta có thứ này”, tôi nói và lấy từ trong ngăn kéo bàn làm việc của mình ra một gói thuốc lá Turkish Specials được bọc màu nâu.
“Và chúng ta có tất cả những thứ này nữa”.
Tôi đặt tay lên chồng giấy dày cộp ghi lời khai cùng vô số tin nhắn điện thoại, email của các nhân chứng, được Brenda - thư ký riêng của chúng tôi - in ra từ website của Phòng cảnh sát San Francisco vào hôm qua.
“Chúng ta có thể dựa vào đó để tìm ra manh mối” Jacobi bảo.
Cuộc thảo luận sôi nổi vẫn diễn ra cho đến khi Chi đột ngột cắt ngang một cách dứt khoát, “Này, kinh doanh thuốc lá rất khá khẩm đấy nhé. Bất kỳ nơi nào có bán thuốc lá hiệu Turkish Specials này đều có thể là một trong những cửa hàng nhỏ lẻ do các ông già bà lão đứng bán. Và có thể một trong những ông già bà lão chủ tiệm có thể nhận ra kẻ sát nhân này”.
“Được rồi, các anh cứ theo hướng này’, tôi chỉ đạo.
Jacobi và Conklin lấy khoảng hai phần ba xấp giấy lời khai của nhân chứng về bàn làm việc của mình rồi bắt đầu gọi điện. Trong khi đó, Chi và McNeil cũng gọi vài cú điện thoại trước khi lao ra đường đi thu thập tin tức.
Một mình trong góc phòng làm việc, tôi xem xét lại những gì mà Brenda thu thập được về những người bị hại - tất cả bọn họ đều là thường dân, từng người một.
Có mối liên hệ nào giữa kẻ sát nhân và bất kỳ ai trong số những người bị bắn không?
Tôi bắt đầu gọi theo những số điện thoại được ghi kèm với bản lời khai của nhân chứng, nhưng mấy cuốc điện thoại đầu chẳng có cái nào khiến tôi phải nhổm dậy khỏi ghế cả. Rồi đến lúc tôi nói điện thoại với một anh lính cứu hỏa, người đứng cách Andrea Canello chỉ chừng ba, bốn mét khi kẻ cuồng sát bắt đầu nã đạn.
“Cô ta đang mắng con thì tên đó nổ súng thẳng vào cô ấy”. Nhân chứng kể lại. “Tôi vừa định bảo cô ấy thôi hãy bỏ qua đi. Tôi chưa kịp nói thì cô ấy đã chết”.
“Cô ấy đã nói gì? Anh có nhớ không?”
“Con làm mẹ tức điên lên được, có biết không?” Ừm, đại loại là như vậy. Nghĩ thật là khủng khiếp... Thế thằng bé có qua khỏi không?”
“Thật đáng tiếc là... thằng bé đã không qua khỏi”. Tôi ghi chú thêm vài chi tiết, cố sắp xếp các mảng thông tin lại với nhau sao cho ăn khớp. Tôi hớp hết mấy ngụm café còn lại và gọi tiếp cho nhân chứng khác.
Tên anh ta là Ike Quintana, anh ta có gọi đến vào hôm qua, nói rằng có lẽ anh ta từng là bạn với kẻ sát nhân khoảng hơn mười lăm năm về trước.
Quintana bảo: “Có vẻ như trùng hợp, chắc chắn là vậy. Nếu đó là hắn thì chúng tôi đã cùng ở Bệnh viện công Napa vào cuối những năm 80”.
Tôi ghì chặt điện thoại, ép sát tai mình vào ống nghe. Không muốn bỏ sót bất kỳ một âm tiết nào.
“Cô có hiểu tôi đang nói gì không?” Quintana hỏi tôi. “Cả hai chúng tôi cùng bị nhốt trong cùng một cái chuồng cu đó nhé”.