Ông Etienne không ra khỏi phòng mấy ngày liền sau khi bà Manec mất. Marie-Laure hình dung ông khom người trên sô pha, lẩm bẩm bài vè và nhìn những bóng ma bay qua bay lại trên tường. Đằng sau cánh cửa phòng quá yên ắng đến nỗi cô lo rằng ông cũng từ bỏ thế giới này mà đi theo bà.
“Ông ơi? Ông Etienne ơi?”
Bà Blanchard cùng Marie-Laure đi đến nhà thờ St. Vincent để làm lễ tưởng niệm cho bà Manec. Bà Fontineau nấu nhiều xúp khoai tây đủ để ăn cả tuần. Bà Guiboux mang mứt đến. Bà Ruelle, không biết bằng cách nào, nướng một cái bánh crumb.
Quãng thời gian mệt mỏi và suy sụp. Buổi tối Marie-Laure đặt một đĩa thức ăn đầy ngoài cửa phòng ông Etienne và sáng hôm sau thu dọn đĩa trống. Cô đứng một mình trong phòng bà Manec, ngửi mùi dầu bạc hà, mùi sáp nến, sáu mươi năm trung thành. Hầu gái, bảo mẫu, mẹ, đồng minh, cố vấn, đầu bếp - bà Manec có hàng nghìn vai trò gì nữa với ông Etienne? Với tất cả bọn họ? Mấy tên thủy thủ Đức say xỉn nghêu ngao hát trên đường, một con nhện mỗi đêm lại chăng thêm một tấm lưới mới phía trên bếp lò và với Marie-Laure điều này còn tàn nhẫn gấp bội: rằng mọi thứ khác vẫn sống, rằng trái đất vẫn không ngừng quay, dù chỉ là một khắc, quanh mặt trời.
Tội nghiệp con bé.
Tội nghiệp ông LeBlanc.
Cứ như họ bị nguyền rủa.
Giá như cha cô có thể bước qua cánh cửa bếp. Cười với những người phụ nữ đó, đặt tay lên má Marie-Laure. Năm phút với cha. Chỉ một phút thôi.
Ông Etienne ra khỏi phòng sau bốn ngày. Cầu thang cọt kẹt khi ông đi xuống và những người phụ nữ trong bếp im bặt. Ông đề nghị mọi người vui lòng ra về bằng giọng nói từ tốn. “Tôi cần thời gian để nói lời tiễn biệt, giờ tôi phải tự chăm sóc cho mình và cháu gái. Cảm ơn mọi người.”
Ngay khi cửa bếp đóng lại, ông chốt khóa cố định và nắm tay Marie-Laure. “Giờ chẳng có chút ánh sáng nào. Rất tốt. Nào, đứng yên ở đây nhé.”
Tiếng ghế dịch qua. Bàn bếp kéo qua. Cô nghe được tiếng ông dò dẫm vòng tròn ở giữa sàn bếp: cửa hầm mở ra. Ông đi xuống hầm.
“Ông ơi? Ông cần gì vậy?”
“Cái này”, ông nói.
“Đó là gì ạ?”
“Một cái cưa điện.”
Cô cảm thấy có thứ gì đó sáng ngời nhen lên trong lòng. Ông Etienne bắt đầu đi lên cầu thang, Marie-Laure lầm lũi đi theo sau. Tầng hai, tầng ba, tầng bốn, tầng năm, tầng sáu, rẽ trái vào phòng của ông nội cô. Ông mở mấy cánh cửa của tủ quần áo khổng lồ, nhấc chỗ quần áo cũ của anh trai ông ra, đặt chúng lên giường. Ông kéo một sợi dây điện trên sàn và cắm nó vào ổ điện. Ông nói, “Sẽ ồn lắm đấy.”
Cô trả lời, “Hay lắm.”
Ông Etienne trèo vào trong lưng tủ quần áo và tiếng máy cưa rít lên. Âm thanh dội lên tường, lên sàn, lên ngực Marie-Laure. Cô tự hỏi không biết bao nhiêu người hàng xóm có thể nghe thấy tiếng cưa, liệu có tên lính Đức ở đâu đó đang dùng bữa sáng và ngẩng đầu lên lắng nghe.
Ông Etienne nhấc ra một miếng ván hình chữ nhật từ lưng tủ quần áo, rồi cắt qua cánh cửa gác mái ở phía sau. Ông tắt máy cưa và lách người qua cái lỗ vừa làm, trèo lên cái thang ở đằng sau và lên gác mái. Cô theo sau. Ông Etienne bò dọc trên sàn gác mái suốt buổi sáng với dây cáp, kìm và những dụng cụ mà cô chẳng biết chúng là gì, cô tưởng tượng ông ở giữa một mạng điện rắc rối mà ông đang dệt ra. Ông lẩm bẩm một mình; ông mang theo một cuốn sách nhỏ dày hoặc những linh kiện điện tử từ nhiều phòng khác nhau ở các tầng dưới. Gác mái kêu cọt kẹt; mấy con ruồi nhà bu quanh ngọn đèn treo màu xanh ánh chớp trên gác mái. Khuya muộn, Marie-Laure đi xuống cầu thang, ngủ trên giường ông nội trong tiếng ồn ông Etienne phát ra ở trên đầu.
Lúc cô tỉnh, lũ chim nhạn bụng trắng đang kêu bên dưới mái hiên và tiếng nhạc như mưa đang rơi trên trần.
“Clair de Lune”, một bản nhạc làm cô liên tưởng đến những chiếc lá rung rinh trong gió và những dải cát dày dưới chân khi thủy triều rút. Tiếng nhạc du dương, trầm bổng và đều đều quay trở lại mặt đất, sau đó giọng nói trẻ trung của ông nội cô vang lên: có chín mươi sáu nghìn ki-lô-mét mạch máu trong cơ thể con người, các em ạ! Đủ để quấn quanh Trái đất hai vòng rưỡi...
Ông Etienne đi xuống bảy thanh thang, lách qua lưng tủ quần áo và nắm lấy tay cô. Cô biết ông sẽ nói gì trước cả khi ông lên tiếng. “Ba cháu nhờ ông đảm bảo an toàn cho cháu.”
“Cháu biết ạ.”
“Việc này sẽ nguy hiểm. Đó không phải trò đùa.”
“Cháu muốn làm việc này. Bà sẽ muốn...”
“Hãy kể cho ông nghe. Hãy kể cho ông nghe toàn bộ quá trình.”
“Đi xuống đường Vauborel hai mươi hai bước chân thì đến đường Estrées. Rồi rẽ phải đi qua mười sáu nắp cống. Rẽ trái qua đường Robert Surcouf. Thêm chín nắp cống nữa là đến cửa hàng bánh mì. Cháu sẽ đến quầy thu ngân và nói, ’Vui lòng cho cháu một ổ bánh thường’.”
“Bà ấy sẽ trả lời như thế nào?”
“Bà ấy sẽ ngạc nhiên. Nhưng cháu sẽ phải nói tiếp là, ‘Một ổ bánh thường’ và bà ấy sẽ phải đáp lại, ‘Ông cháu thế nào rồi?’”
“Bà ấy sẽ hỏi về ông à?”
“Bà ấy phải hỏi thế. Đó là cách để bà ấy biết là ông sẵn lòng giúp. Đó là những gì bà Manec gợi ý. Một phần của quy trình.”
“Và cháu sẽ trả lời sao?”
“Cháu sẽ nói, ‘Ông cháu ổn, cảm ơn bà’. Cháu sẽ nhận ổ bánh mì, cất nó vào ba lô và về nhà.”
“Thậm chí giờ việc đó cũng diễn ra như vậy à? Mà không có bà ư?”
“Tại sao lại không chứ?”
“Cháu trả bằng gì?”
“Một phiếu lương thực ạ.”
“Chúng ta có cái phiếu nào không?”
“Trong ngăn kéo tầng dưới. Ông có tiền không hả ông?”
“Có. Chúng ta có ít tiền. Làm cách nào cháu quay về nhà?”
“Đi thẳng về nhà ạ.”
“Đi đường nào?”
“Đi qua chín nắp cống trên đường Robert Surcouf. Rẽ phải qua đường Estrées. Qua mười sáu nắp cống thì quay lại đường Vauborel. Cháu biết rõ đường, ông à, cháu thuộc lòng rồi. Cháu đã đến tiệm bánh mì ba trăm lần.”
“Cháu không được đi đâu khác. Cháu không được ra bãi biển.”
“Cháu sẽ đi thẳng về nhà ạ.”
“Cháu hứa chứ?”
“Cháu hứa ạ.”
“Vậy thì đi đi, Marie-Laure. Hãy đi nhanh như cơn gió nhé.”