Cách đây vài ngày, chúng tôi được một phen hoảng hồn vì bác tôi ngất xỉu ngay tại buổi vũ hội. Kể từ lúc đó, bác cứ luôn miệng nguyền rủa sự dại dột của bản thân vì đã nể lời một người đàn bà phiền nhiễu mà đặt chân đến chốn ấy. Bác lớn tiếng tuyên bố thà ghé vào một ngôi nhà đang nhiễm dịch hạch còn hơn là tự đày ải bản thân vào cái bệnh xá nồng nặc mùi hám lợi như thế trong tương lai, bởi bác thề rằng tai nạn vừa rồi hoàn toàn do thứ mùi xú uế của đám đông gây ra; và rằng chẳng có gì minh chứng rõ ràng hơn cho việc chúng ta được tạo nên từ những chất liệu thô kệch bằng việc chúng ta có thể chịu đựng nổi bầu không khí ngột ngạt từng khiến bác khốn khổ đến vậy. Về phần mình, tôi vô cùng cảm tạ tạo hóa vì các giác quan của tôi vốn dĩ thô ráp, chẳng mảy mai có nguy cơ phải bỏ mạng vì cái mũi quá đỗi nhạy cảm. Ông Bramble lại là người cực kỳ mẫn cảm trong mọi cảm giác, từ tâm hồn cho đến thể xác. Bác tiến sĩ Lewis cho tôi biết rằng bác tôi từng đấu tay đôi với một sĩ quan cận vệ hoàng gia chỉ vì người này ghé vào bức tường công viên để giải quyết nỗi buồn khi đang đi cùng một tiểu thư mà ông có trách nhiệm bảo vệ. Máu huyết bác sôi lên trước mọi hành vi xấc láo và tàn nhẫn, dẫu cho bản thân chẳng dính líu gì tới câu chuyện; và sự vong ân bội nghĩa khiến hàm răng bác phải nghiến ken két. Ngược lại, mỗi khi nghe kể về một nghĩa cử hào hiệp, nhân từ hay biết ơn, bác chẳng bao giờ kìm được những giọt nước mắt tán thưởng — thứ mà bác luôn trầy trật mới giấu giếm được.
Hôm qua, một kẻ tên là Paunceford mở tiệc trà theo lời mời riêng. Gã này, sau một thời gian dài bị dòng đời vùi dập, đã bôn ba xứ người; và Nữ thần May mắn, quyết định bù đắp cho sự lạnh nhạt trước kia của bà, bỗng chốc đẩy gã ngập ngụa trong vinh hoa phú quý. Gã giờ đây đã bước ra từ chốn tối tăm, rực lên thứ ánh hào quang lòe loẹt của thời đại. Tôi không thấy ai buộc tội gã có những việc làm mà luật pháp coi là bất lương, hay việc giàu sang đã khiến gã trở nên ngạo mạn, xa cách; trái lại, gã rất cố ra vẻ niềm nở, ân cần. Thế nhưng, người ta đồn rằng gã nổi tiếng là kẻ quay lưng với những bạn bè thuở hàn vi — những mối quan hệ vốn dĩ quá mộc mạc, tầm thường để có thể xuất hiện giữa những vòng giao kết lấp lánh hiện tại của gã; và gã có vẻ bứt rứt khi giáp mặt một vài ân nhân cũ, những người mà một kẻ có liêm sỉ đáng ra phải lấy làm vinh hạnh khi nhận ơn — Dù thế nào đi nữa, gã cũng đã chinh phục trọn vẹn đám đông ở Bath, đến nỗi khi tôi cùng bác tôi bước vào quán cà phê vào buổi tối, trong phòng chẳng còn một bóng người ngoại trừ một vị khách trông có tuổi đang ngồi bên lò sưởi đọc báo. Ông Bramble liền tiến đến sát bên, cất giọng: "Đông đúc và bát nháo những ghế với kiệu ở lối rẽ vào tiệm Simpson quá, chúng tôi suýt nữa chẳng lách qua nổi. — Tôi ước gì những kẻ cưng chiều của vận may ấy biết nghĩ ra cách nào tiêu tiền đáng ngợi khen hơn... Chắc ngài cũng chán ngấy cái trò giải trí kiểu này giống tôi chứ?" "Tôi không dám nhận là mình có mấy hứng thú với những chốn vui chơi thế này," người kia đáp mà không rời mắt khỏi tờ báo. "Thưa ông Serle," bác tôi tiếp lời, "tôi xin lỗi vì đã làm phiền ông; nhưng tôi không sao cưỡng lại được sự tò mò muốn biết liệu ông có nhận được thiệp mời trong dịp này không?"
Người đàn ông có vẻ ngạc nhiên trước lời bắt chuyện ấy, ngập ngừng giây lát như thể đang phân vân không biết nên đáp lại thế nào. "Tôi thừa nhận sự tò mò của mình là bất lịch sự," bác tôi nói thêm, "nhưng tôi có lý do riêng khi muốn thỉnh cầu điều này." "Nếu đã vậy," ông Serle đáp, "tôi xin sẵn lòng làm thỏa mãn ông bằng cách thừa nhận rằng tôi chẳng có thiệp thiếc gì sảng. Nhưng xin phép ông cho tôi được hỏi ngược lại, ngài nghĩ tôi có lý do gì để trông đợi một lời mời từ cái tay thết tiệc trà kia?" "Tôi có lý do của riêng mình," ông Bramble thốt lên với chút xúc động, "và tôi càng lúc càng đinh ninh rằng cái tên Paunceford này quả là một kẻ đê tiện." "Thưa ngài," người kia vừa nói vừa đặt tờ báo xuống, "tôi không có vinh hạnh được quen biết ngài; nhưng lời lẽ của ngài có phần kỳ bí và có vẻ cần phải giải thích rõ. Nhân vật mà ngài đang thản nhiên đem ra châm chọc ấy là một người có thế giá trong cộng đồng; và biết đâu đấy, tôi cũng có những lý do riêng để bảo vệ thanh danh của gã" — "Nếu không chắc chắn về điều ngược lại," bác tôi nhận xét, "thì tôi đã chẳng đẩy câu chuyện đi xa đến thế" — "Tôi phải nói thật với ngài thế này," người lạ mặt cất cao giọng, "ngài đã đi quá xa khi dám đưa ra những lời lăng mạ như vậy rồi đấy."
Đến đây, lời ông bị ngắt quãng bởi bác tôi; bác bực bội hỏi rằng liệu ở cái tuổi này mà ông ta còn đóng vai Don Quixote để đứng ra thách đấu làm hiệp sĩ bảo vệ cho một kẻ đã đối xử với mình bằng sự vong ân bội nghĩa đến thế cơ à. "Về phần tôi," bác nói thêm, "tôi sẽ chẳng bao giờ vì chuyện này mà đôi co với ông nữa; và những gì tôi vừa thốt ra bắt nguồn từ sự quan tâm dành cho ông cũng nhiều như từ lòng khinh miệt của tôi đối với kẻ kia." — Lúc bấy giờ ông Serle mới tháo kính ra, đăm đăm nhìn bác tôi rồi dịu giọng bảo: "Quả là tôi mang ơn ngài nhiều lắm... Ơ kìa, anh Bramble! Giờ thì tôi đã nhận ra nét mặt của anh rồi, dẫu chúng ta không gặp nhau từ bao nhiêu năm nay." "Chúng ta đã chẳng phải là người dưng nước lã," điền chủ đáp, "nếu như tình giao hảo của đôi bên không bị cắt đứt bởi một sự hiểu lầm do chính cái tên... à mà thôi, chẳng bận tâm làm gì — Thưa ông Serle, tôi rất trọng nhân cách của ông; và tình bằng hữu của tôi, dẫu có thế nào đi nữa, ông cứ hoàn toàn có thể tín nhiệm." "Lời đề nghị này thật đáng hoan nghênh để không thể chối từ," ông đáp; "tôi xin đón nhận nó một cách chân tình; và như là thành quả đầu tiên của mối quan hệ ấy, tôi xin ngài hãy đổi chủ đề khác, bởi với tôi, chuyện này mang tính tế nhị đặc biệt."
Bác tôi thừa nhận mình đã đúng, và câu chuyện chuyển hướng sang những vấn đề chung chung hơn. Ông Serle đã dành cả buổi tối ở phòng trọ cùng chúng tôi; ông tỏ ra là một người hiểu biết, thậm chí rất thú vị, chỉ có điều tính khí có phần u uất. Bác tôi bảo ông là một người có tài năng hiếm có và sự chính trực không thể chối cãi: rằng gia gia tài vốn dĩ mọn màng của ông đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi một tinh thần hào hiệp lãng mạn mà ông thường thể hiện, dẫu điều đó đôi khi trái ngược với sự khôn ngoan, nhằm che chở cho những kẻ chẳng ra gì — Rằng ông từng vực dậy Paunceford khỏi vũng lầy khốn cùng nhất khi gã khánh kiệt cả về tiền tài lẫn danh dự — Rằng ông đã dốc lòng vì lợi ích của gã với một sự nhiệt thành tột độ, đoạn tuyệt với nhiều bằng hữu, thậm chí từng rút gươm chống lại bác tôi — người có những lý do riêng để nghi ngờ phẩm chất đạo đức của cái tên Paunceford kia: rằng nếu không có sự che chở và giúp đỡ của Serle, gã chẳng bao giờ có thể chớp lấy cơ hội để vươn lên đỉnh cao của sự giàu sang như ngày nay; rằng Paunceford, trong những ngày đầu đắc chí nơi đất khách quê người, từng viết thư cho nhiều người quen, thừa nhận ơn nghĩa của ông Serle bằng những từ ngữ tri ân nồng nhiệt nhất, và tuyên bố gã chỉ coi mình là kẻ quản lý tài sản phục vụ cho nhu cầu của người bạn vong niên tốt nhất; rằng không còn nghi ngờ gì nữa, gã cũng từng bày tỏ những lời lẽ tương tự với chính ân nhân của mình, dẫu người sau luôn giữ thái độ im lặng và kín đáo về chuyện đó; thế nhưng ngót nghét mấy năm nay, những ẩn dụ và hoa mỹ hùng biện ấy đã không còn được dùng tới nữa; rằng khi trở về nước, gã lại hào phóng ban phát những cử chỉ vuốt ve dành cho ông Serle, mời ông đến nhà và nài nỉ ông coi đó như nhà mình; rằng gã ngập ngừng vây quanh ông bằng những lời tuyên bố chung chung, ra điều bày tỏ sự quan tâm nồng cháy nhất trước mặt những người quen chung; khiến ai nấy đều tin rằng lòng biết ơn của gã cũng hào phóng như gia tài của gã, và có người còn đi xa đến mức chúc mừng ông Serle về cả hai điều đó.
Suốt thời gian ấy, Paunceford vẫn cẩn trọng và ranh mãnh né tránh những cuộc trò chuyện riêng tư với người bảo trợ cũ của mình — một người có lòng tự ái quá lớn để có thể thốt ra dù chỉ là một lời bóng gió xa xôi nhằm sòng phẳng món nợ ân tình: rằng dẫu vậy, một người có lòng tự trọng như ông không thể không phẫn nộ trước cách trả ơn cay đắng cho mọi tử tế của mình; và vì thế, ông đã âm thầm rút lui khỏi mối quan hệ ấy mà chẳng thèm đưa ra bất kỳ lời giải thích nào hay thốt ra nửa lời về chuyện đó với bất kỳ ai trên đời; để rồi giờ đây, sự giao thiệp giữa họ chỉ còn thu gọn lại bằng một cái ngả mũ chào hờ hững khi vô tình chạm mặt ở nơi công cộng — một sự tình cờ hiếm khi xảy ra bởi đường đi lối bước của hai người vốn chẳng cùng hướng. Paunceford sống trong cung điện, ăn toàn sơn hào hải vị, khoác lên mình xiêm y lộng lẫy, xuất hiện giữa chốn phô trương với xe ngựa rền vang, và dành trọn thời gian bên những bậc vương tôn công tử. Còn Serle thì trọ ở phố Stall, tận căn phòng áp mái tầng hai nhìn ra phía sau, đi bộ trong chiếc áo choàng bằng vải dạ vùng Bath, ăn bữa cơm giá mười hai xu một tuần, và uống nước lọc để phòng bệnh gút cùng sỏi thận — Hãy nhìn xem sự đổi thay của thời thế. Paunceford từng trú ngụ trong một căn gác xép; nơi gã sinh nhai qua ngày bằng món chân cừu và móng giò bò, để rồi từ chốn đạm bạc ấy được rước tới bàn ăn của Serle — nơi lúc nào cũng ngập tràn những món ngon vật lạ; cho đến khi sự thiếu thốn chi tiêu và không biết giữ gìn đã đẩy gã vào một khoản niên kim còm cõi lúc xế chiều, chật vật lắm mới đủ mua nổi những nhu yếu phẩm tối thiểu cho cuộc sống. Thế nhưng, Paunceford vẫn ban cho ông cái vinh dự được nhắc đến ông bằng sự kính trọng phi thường; và không quên tuyên bố rằng gã sẽ sung sướng biết bao nếu được góp phần vào sự tiện nghi của ông dưới bất kỳ hình thức nào: "Nhưng ngài biết đấy," gã luôn miệng nói thêm, "ông ấy là kiểu người khép kín — Lại thêm tính triết gia đến mức nhìn mọi thứ dư thừa với thái độ khinh miệt tối thượng." Sau khi phác họa cho chị bức chân dung về điền chủ Paunceford ấy, tôi chẳng cần phải đưa ra lời bình phẩm nào về nhân cách của gã nữa, mà xin phó mặc nó cho sự suy ngẫm của chính chị; và tôi dám cá rằng nó cũng chẳng khá khẩm hơn khi nằm dưới sự phán xét của
Thân ái,
J. MELFORD
BATH, ngày 10 tháng 5.