Chuyến Thám Hiểm Của Humphry Clinker

Lượt đọc: 795 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kính Gửi Ngài,

❊ ❊ ❊

Cách sinh hoạt ở Harrigate hợp với tính tôi đến mức tôi rời nơi đó với đôi chút tiếc nuối. Dì Tabby của chúng tôi có lẽ đã phản đối việc chúng tôi ra đi sớm như vậy, nếu không có một tai cố khiến dì xích mích với ông Micklewhimmen, vị luật sư người Xéc-ốt mà dì đã nhắm đến từ ngày thứ hai sau khi chúng tôi tới nơi. Con người kỳ dị đó, dường như bị liệt chân tay, lại biết cách xoay sở tài tình để mưu lợi cho bản thân. Nói ngắn gọn, bằng cách rên rỉ và than van, hắn đã khơi gợi lòng trắc ẩn của mọi người hiệu quả đến mức một bà cụ chiếm căn phòng đẹp nhất trong nhà đã nhường lại nó để hắn được thoải mái và tiện nghi. Khi người hầu dìu hắn vào Phòng Lớn, tất cả phụ nữ lập tức xôn xao: người đặt ghế bộc-bành, người xốc lại đệm, người mang ghế đẩu, người mang gối để kê chân cho hắn. Hai quý bà (trong đó dì Tabby lúc nào cũng góp mặt) dìu hắn vào phòng ăn, sắp xếp chỗ ngồi tử tế cho hắn; và khẩu vị của hắn được chiều chuộng bằng hàng loạt món ngon do chính đôi tay ngọc ngà của họ chắt chiu chọn lựa. Tất cả sự chăm sóc ấy được hắn đền đáp bằng vô số lời khen ngợi và chúc phúc, nghe lại càng thú vị hơn khi được phát âm bằng giọng Xéc-ốt. Riêng với bà Tabitha, hắn dành những lời thăm hỏi đặc biệt, lại khéo léo đan xen vào đó những suy ngẫm tôn giáo về ân sủng tự do, vì biết dì có khuynh hướng theo giáo phái Giám lý, thứ mà hắn cũng giả bộ theo đuổi theo khuôn mẫu Can-vin.

Phần tôi, tôi không sao kìm được ý nghĩ rằng tay luật sư này chẳng hề bệnh nặng như hắn cáo giấu. Tôi quan sát thấy hắn ăn uống rất thịnh soạn ba bữa một ngày; và mặc dù chai thuốc của hắn được dán nhãn là cồn thuốc bổ dạ dày, hắn lại dùng nó thường xuyên đến mức và có vẻ nuốt nó với một sự thích thú đặc biệt đến nỗi tôi nghi ngờ nó không hề được bào chế trong hiệu thuốc hay phòng thí nghiệm của dược sĩ. Một hôm, nhân lúc hắn đang mải trò chuyện say sưa với bà Tabitha và người đầy tớ của hắn đi đâu vắng, tôi liền nhanh tay tráo nhãn và vị trí chai thuốc của hắn với chai của tôi; và sau khi nếm thử cồn thuốc của hắn, tôi nhận ra đó là một loại rượu vang đỏ xuất sắc. Tôi liền chuyền tay cho mấy người hàng xóm quanh đó, và chai rượu đã cạn sạch trước khi ông Micklewhimmen có dịp uống tiếp ngụm nữa. Cuối cùng, quay người lại, hắn với lấy chai của tôi thay vì chai của chính mình, rồi rót đầy một ly lớn chúc sức khỏe bà Tabitha. Ly rượu vừa chạm môi thì hắn đã nhận ra trò bịp bợm vừa giáng xuống đầu mình, và thoạt đầu có chút lúng túng. Hắn có vẻ thu mình lại để suy tính, và chỉ nửa phút sau là đã quyết định xong. Hướng về phía chúng tôi, hắn lên tiếng: “Tôi xin thán phục sự hóm hỉnh của ngài đây; đó là một trò đùa thực tế khá thú vị, nhưng đôi khi những trò đùa như thế lại dẫn đến hậu quả nghiêm trọng — tôi chỉ mong vì lợi ích của chính ngài ấy mà ngài ấy chưa uống hết chỗ rượu; vì đó là một thứ thuốc sắc cực mạnh pha thuốc xổ jalap vào rượu vang Bordeaux, và rất có thể ngài ấy sẽ phải lãnh một liều thuốc gây ra thảm họa kinh hoàng trong ruột gan mình đấy—”

Phần lớn dung dịch trong chai đã rơi vào tay một chàng trai buôn vải trẻ tuổi đến từ Leeds, kẻ đến Harrigate để chưng diện và thực chất là một tên công tử bột chính hiệu theo cách của hắn ta. Chính với ý định chế nhạo những vị khách cùng trọ cũng như để bẽ mặt tên luật sư, hắn đã nốc cạn chai rượu khi đến lượt mình, và hắn đã cười hả hê; nhưng giờ đây niềm vui ấy đã nhường chỗ cho sự hoảng sợ. Hắn bắt đầu khạc nhổ, nhăn mặt và oằn mình quằn quại. “Mẹ kiếp cái thứ này! — hắn kêu lên — Ta cứ tưởng nó có vị quái quỉ nào chứ — phì! Kẻ nào muốn lừa bịp một tên Xéc-ốt thì phải dậy thật sớm và rước cả Quỷ Satan làm mưu sĩ thôi —” “Thật tình thưa ngài cái-ông-gì-đấy-nhỉ (lãnh tụ luật sư đáp), sự thông minh của ngài đã tự đẩy ngài vào vũng bùn nhơ nhớp rồi đấy. Tôi thật sự ái ngại cho hoàn cảnh đáng thương của ngài; lời khuyên chân thành nhất tôi có thể dành cho ngài trong tình thế tiến thăng lưỡng nan này, là hãy lập tức cho người phóng ngựa phi nhanh đến Rippon gọi bác sĩ Waugh tới, và trong lúc chờ đợi, hãy nuốt hết mọi thứ dầu mỡ có thể tìm thấy trong nhà, để bảo vệ cái dạ dày và ruột gan tội nghiệp của ngài khỏi sự kích ứng của các hạt thuốc xổ jalap, vốn cực kỳ dữ dội ngay cả khi dùng với liều lượng ôn hòa.”

Những cơn thống khổ của anh chàng buôn vải khốn khổ đã bắt đầu: hắn lủi thủi rút lui về phòng mình trong tiếng kêu la vì đau đớn; dầu đã được nuốt và bác sĩ đã được mời; nhưng trước khi ông ấy đến, bệnh nhân khốn khổ ấy đã nôn thốc nôn tháo từ trên xuống dưới đến mức chẳng còn gì có thể hành hạ anh ta thêm được nữa, và sự tống xuất kép ấy chỉ do trí tưởng tượng mà ra mà thôi; bởi vì thứ hắn uống thực chất là rượu vang Bordeaux hảo hạng mà vị luật sư đã mang từ Xéc-ốt sang để dùng riêng. Nhận thấy trò đùa hóa ra lại quá đắt đỏ và phiền toái, anh chàng buôn vải liền rời khỏi nhà trọ vào sáng hôm sau, để lại chiến thắng cho Micklewhimmen — kẻ tận hưởng nó âm thầm bên trong mà không hề lộ ra chút biểu hiện đắc thắng nào ra bên ngoài; trái lại, hắn còn ra vẻ thương cảm cho những gì chàng trai trẻ đã phải chịu đựng, và nhờ vẻ ngoài ôn hòa này mà hắn càng ghi thêm điểm tín nhiệm.

Đó là vào khoảng giữa đêm tiếp nối cuộc phiêu lưu này, vì ống khói nhà bếp bị bám đầy muội nên bùng cháy, và tiếng báo động vang lên một cách kinh hoàng. Mọi người đều tung chăn nhảyổm dậy khỏi giường trong tình trạng khỏa thân, và chỉ trong tích tắc, toàn bộ ngôi nhà ngập tràn tiếng gào thét cùng sự hỗn loạn. Trong nhà có hai chiếc cầu thang, và chúng ta theo bản năng lao về phía đó; nhưng cả hai đều bị chặn kín bởi dòng người chen chúc xô đẩy nhau, đến mức tưởng chừng không thể qua nổi nếu không xô ngã và dẫm đạp lên phụ nữ. Giữa cảnh vô luật pháp ấy, ông Micklewhimmen, với một chiếc va-li bằng da trên lưng, chạy nhanh như một con hươu đực dọc theo hành lang; và dì Tabby trong chiếc váy lót mỏng manh, đang cố bám lấy khuỷu tay hắn để hòng trốn thoát nhờ sự bảo vệ của hắn, liền bị hắn phũ phàng xô ngã lăn quay, miệng la lớn: “Không, không, thưa lòng tốt, từ thiện phải bắt đầu từ nhà mình đã!” Mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến những tiếng gào thét và van xin của các bà các cô, hắn càn quét qua giữa đám đông, hất văng mọi vật cản đường và thực sự chiến đấu mở đường máu xuống tận chân cầu thang. Lúc này Clinker đã tìm thấy một chiếc thang để trèo qua cửa sổ phòng người cậu của tôi — nơi gia đình chúng ta đang quần tụ — và đề xuất rằng chúng ta nên lần lượt thoát thân bằng lối đó. Bác địa chủ giục người em gái bắt đầu việc leo xuống; nhưng trước khi bà kịp quyết định, cô hầu gái của bà là cô Winifred Jenkins, trong cơn hoảng loạn tột độ, đã lao mình qua cửa sổ ra chiếc thang, trong khi Humphry ngã nhịp xuống mặt đất để đỡ cô trong cú tụt xuống. Người thiếu nữ ấy vẫn y nguyên như lúc vừa bật dậy khỏi giường, ánh trăng chiếu rọi rất sáng, lại thêm một luồng gió mát thổi lồng lộng, thế là chẳng có nét đẹp nào của cô Winifred có thể lọt khỏi tầm mắt của anh chàng Clinker may mắn — trái tim anh ta vốn không đủ sức chống lại sức mạnh tổng hợp của ngấy ngây bấy nhiêu vẻ đẹp; ít ra thì tôi đoán không lầm, từ khoảnh khắc ấy anh ta đã trở thành nô lệ khiêm nhường của cô nàng. Anh ta đón cô vào lòng, nhường cả áo khoác để che chắn gió sương cho cô, rồi lại trèo ngược lên với sự khéo léo đáng nể.

Ngay lúc ấy, người chủ nhà cất cao giọng thông báo rằng ngọn lửa đã được dập tắt và các quý bà không còn gì phải sợ nữa; đây là một thông tin đáng mừng đối với tất cả những người có mặt, và mang lại hiệu quả tức thì; những tiếng thét chói tai ngưng bặt, thay vào đó là những âm thanh tranh cãi hỗn độn. Tôi dẫn bà Tabitha và em gái về phòng riêng, nơi Liddy ngất lịm đi nhưng nhanh chóng tỉnh lại. Sau đó tôi đi sang để ngỏ lời hỗ trợ các quý bà khác — những người có lẽ đang cần giúp đỡ. Tất cả bọn họ đang túa chạy dọc hành lang về phòng riêng của mình; và vì lối đi chung được thắp sáng bởi hai ngọn đèn, tôi có dịp quan sát khá rõ họ trong lúc di chuyển; nhưng vì hầu hết đều trần trụi trong bộ váy lót và đầu đội những chiếc mũ ngủ khổng lồ, tôi chẳng thể phân biệt nổi mặt mũi ai với ai, dẫu tôi nhận ra giọng nói của một vài người. Phần lớn những giọng nói ấy đều ai oán; người thì khóc lóc, kẻ mắng mỏ, người lại cầu kinh. Tôi đỡ một bà cụ khốn khổ bị đám đông xô ngã bầm giập cả người; và tình trạng tương tự cũng xảy ra với người thọt đến từ Northumberland mà ông Micklewhimmen đã xô ngã trên đường tháo chạy, dẫu kẻ đó không phải chịu đựng suôn sẻ, bởi vì gã tật nguyền trong lúc ngã đã giáng cho hắn một cú trời giáng vào đầu bằng chiếc nạng khiến máu tuôn xối xả.

Về phần vị luật sư này, hắn nấp ở tầng dưới cho đến khi cơn náo động qua đi, rồi mới lẻn thật êm ái về phòng mình, và không dám bén mảng xuất hiện lần thứ hai cho đến tận mười một giờ trưa hôm sau, lúc hắn được chính tên đầy tớ và một người phụ tá dìu vào Phòng Công cộng, rên rỉ vô cùng thảm thiết với chiếc khăn ăn dính đầy máu quấn quanh đầu. Nhưng cục diện đã đổi thay hoàn toàn. Sự ích kỷ tàn nhẫn trong hành vi của hắn trên cầu thang đã làm chai sạn trái tim mọi người trước mọi mánh khóe và sự khéo léo của hắn. Chẳng có lấy một linh hồn nào thèm nhường cho hắn một chiếc ghế, cái đệm hay chiếc ghế kê chân; thế nên hắn đành phải ngồi phịch xuống một chiếc ghế băng cứng ngắc. Ở tư thế đó, hắn đảo mắt nhìn quanh với vẻ mặt thảm hại, và cúi đầu thật thấp, cất giọng rên rỉ: “Kẻ tôi tớ khiêm nhường nhất xin kính chào các quý bà — Hỏa hoạn quả là một thảm họa khủng khiếp—” “Lửa thử vàng, và nó gắn kết tình bạn,” bà Tabitha vừa lừ mắt vừa đáp lời. “Phải thưa phu nhân (Micklewhimmen đáp lại); và nó cũng thử thách cả sự khôn ngoan nữa chứ—” “Nếu sự khôn ngoan nằm ở việc bỏ rơi một người bạn trong lúc hoạn nạn, thì ngài quả là bậc đại thụ về đức tính ấy rồi” (dì chúng tôi đốp chát lại). “Không thưa phu nhân (vị luật sư biện bạch), tôi thừa biết mình chẳng thể đòi hỏi chút công trạng nào từ cách thức rút lui của bản thân — Các quý bà vui lòng lưu ý cho rằng có hai nguyên lý độc lập chi phối bản năng của chúng ta — Một là bản năng, thứ mà chúng ta có chung với loài muông thú, và hai là lý trí — Nào, trong những trường hợp khẩn cấp tột cùng, khi năng lực lý trí bị đình chỉ, bản năng sẽ chiếm thế thượng phong, và khi nó ngự trị, do chẳng có chút dây mơ rễ má nào với lý trí, nó chẳng màng đếm xỉa gì đến các mối liên kết; nó chỉ hoạt động nhằm bảo tồn cá nhân, và bằng những phương thức nhanh gọn và hiệu quả nhất; do đó, xin phép các quý bà cho tôi được nói, tôi hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm trước tòa án lương tâm về những gì tôi đã làm, khi nằm dưới ảnh hưởng của thứ sức mạnh không thể kháng cự ấy.”

Đến đây người cậu tôi xen vào: “Tôi rất muốn biết (ông nói) liệu có phải bản năng đã thúc giục ngài rút lui mang theo đầy đủ hành lý không; vì theo tôi nhớ, ngài hình như còn vác cả một chiếc va-li trên vai nữa cơ mà.” Vị luật sư đáp không chút do dự: “Nếu tôi được phép giãi bày suy nghĩ của mình một cách cởi ngỏ mà không vướng phải sự nghi ngờ là kiêu ngạo, tôi cho rằng có một thứ gì đó siêu việt hơn cả lý trí lẫn bản năng đã gợi ý biện pháp ấy, và điều này xuất phát từ hai lẽ: thứ nhất, chiếc va-li ấy chứa đựng các văn khố điền trang của một vị quý tộc đáng kính; và việc chúng bị thiêu rụi sẽ gây ra một tổn thất không thể bù đắp nổi; thứ hai, vị thiên thần hộ mệnh của tôi dường như đã đặt chiếc va-li lên vai tôi, như một thứ vũ khí phòng thủ để chống lại lực đánh vô cùng tàn nhẫn từ chiếc nạng của một vị giáo sĩ đáng kính, thứ mà dẫu có qua tấm lá chắn ấy, vẫn giáng cho tôi một vết thương trầm trọng xuyên tận vào xương sọ.” “Theo đúng học thuyết của chính ngài đây (vị mục sư tình cờ có mặt lên tiếng), tôi cũng chẳng phải chịu trách nhiệm về cú đánh vốn là hệ quả của bản năng ấy.” “Xin thứ lỗi cho tôi, thưa ngài mục sư đáng kính (kìa kia đáp), bản năng chỉ hoạt động nhằm mục đích bảo tồn cá nhân; nhưng sự bảo tồn của ngài thì chẳng liên quan gì ở đây cả — ngài đã lãnh trọn tổn hại rồi, và vì thế cú đánh đó phải quy kết cho sự trả thù, một thứ tình cảm tội lỗi chẳng mào đầu chút nào cho một tín đồ Cơ đốc giáo, nhất là một vị thần học phái Tin lành; và tôi xin nói cho ngài hay, thưa tiến sĩ vô cùng đáng kính, giả như tôi có nhã ý kiện tụng, luật pháp sẽ tuyên bố cáo trạng của tôi là hoàn toàn hợp lệ.” “Chà, thiệt hại chia đều cho cả hai phía thôi (vị mục sư kêu lên); đầu ngài rách và nạng tôi gãy đôi. Nào, nếu ngài chịu sửa cái đầu, tôi sẽ đền tiền chữa lành cái nạng.”

Màn đấu khẩu này khơi mào tràng cười chế nhạo nhắm vào Micklewhimmen, kẻ bắt đầu làm ra vẻ mặt nghiêm nghị; đúng lúc ấy, người cậu tôi, nhằm muốn lái sang chuyện khác, bèn nhận xét rằng bản năng đã tỏ ra vô cùng tử tế với hắn ở một khía cạnh khác nữa; bởi vì nó đã trao trả lại cho hắn khả năng sử dụng chân tay, thứ mà trong lúc tháo chạy, hắn đã vận dụng với sự nhanh nhẹn đến ngạc nhiên. Hắn đáp lại rằng bản chất của sự sợ hãi là làm căng cứng các dây thần kinh; đồng thời viện dẫn một số kỳ tích về sức mạnh và sự nhanh nhẹn được thực hiện bởi những con người nằm dưới sự thúc đẩy của sự khủng hoảng — nhưng hắn phàn nàn rằng đối với riêng trường hợp của mình, những hiệu ứng đó đã tiêu biến ngay khi nguyên nhân chấm dứt. Bác địa chủ liền bảo rằng ngài sẵn sàng cá cược một chầu uống trà rằng hắn có thể nhảy một điệu Xéc-ốt mà không hề bước hụt một bước nào; và vị luật sư cười nhăn nhở, gọi ngay người thổi kèn túi đến. Có sẵn một tay kéo vĩ cầm gần đó, con người kỳ dị ấy liền chồm dậy, với chiếc khăn đẫm máu vắt trên mái tóc giả buộc đuôi ngựa màu đen, và trình diễn một màn vũ đạo khiến toàn bộ khách khứa cười nghiêng ngả; thế nhưng hắn vẫn không thể lấy lại được thiện cảm của dì Tabby, người hoàn toàn chẳng tài nào hiểu nổi cái nguyên lý bản năng ấy; và vị luật sư cũng chẳng buồn tiếp tục chứng minh thêm làm gì.

Từ Harrigate, chúng tôi xuôi về đây theo ngả York, và sẽ lưu lại đây vài ngày, vì cả cậu tôi lẫn dì Tabitha đều quyết định sử dụng nguồn nước khoáng ở đây. Scarborough, dẫu chỉ là một thị trấn tồi tàn, lại mang vẻ đẹp nên thơ nhờ vị trí nằm trải dài dọc theo một vách đá sừng sững hướng ra biển. Bến cảng được hình thành bởi một dải đất nhô ra uốn lượn tự nhiên như một con đê chắn sóng, nằm đối diện trực diện với thị trấn; và ở phía bên đó là tòa lâu đài sừng sững trên cao, có quy mô khá lớn, và trước khi phát minh ra thuốc súng từng được xem là bất khả xâm phạm. Ở đầu bên kia của Scarborough có hai phòng sinh hoạt chung dành cho du khách đến đây nghỉ dưỡng vào mùa hè để uống nước khoáng và tắm biển; các hoạt động giải trí ở đây cũng tương đương như ở Bath. Khu Spa nằm cách xa thị trấn một đoạn, thuộc về phía này, dưới một vách đá và chỉ cách mặt biển vài bước chân, nơi những người đến uống nước khoáng tập trung vào mỗi buổi sáng trong trang phục thoải mái; tuy nhiên lối đi xuống phải qua rất nhiều bậc thang, điều này khiến những người bệnh cảm thấy khá bất tiện. Nằm xen giữa giếng nước và bến cảng là những cỗ xe tắm biển được xếp dọc theo bờ cát, đi kèm với đầy đủ các dụng cụ và nhân viên hỗ trợ thích hợp. Anh chưa từng nhìn thấy một cỗ xe nào như thế bao giờ — hãy hình dung một căn phòng nhỏ bằng gỗ ấm cúng, được cố định trên một cỗ xe ngựa kéo, có cửa ở hai đầu, mỗi bên có một ô cửa sổ nhỏ ở phía trên và một chiếc ghế dài ở phía dưới. Người đi tắm bước vào khoăn phòng này qua những bậc thang bằng gỗ, tự khóa mình bên trong và bắt đầu cởi quần áo, trong khi nhân viên đánh xe điều khiển ngựa vòng sang đầu phía biển rồi kéo cỗ xe tiến lên phía trước cho đến khi mặt nước ngang bằng với sàn của phòng thay đồ, sau đó anh ta di chuyển và cố định con ngựa sang đầu kia. Người ở bên trong sau khi đã cởi trần trụi liền mở cánh cửa hướng ra phía biển, nơi anh ta tìm thấy người hướng dẫn đang đứng đợi, rồi lao đầu mình xuống làn nước. Sau khi tắm xong, anh ta leo trở lại vào phòng qua những chiếc bậc thang đã được dịch chuyển cho mục đích đó, và thong thả mặc lại quần áo trong khi cỗ xe được kéo ngược trở lại bãi đất khô ráo; nhờ thế anh ta chẳng cần phải làm gì hơn ngoài việc mở cửa và bước xuống y như lúc bước lên. Giả sử anh ta quá yếu hoặc bệnh nặng đến mức cần có người phục vụ giúp thay quần áo, thì không gian trong phòng vẫn đủ rộng cho nửa tá người. Những người hướng dẫn phụ nữ tắm biển đều là người cùng giới với họ, và cả họ lẫn những nữ du khách đều mặc trang phục bằng vải nỉ khi xuống biển; hơn thế nữa, họ còn được trang bị các tiện ích khác để duy trì sự đoan trang. Một số lượng nhất định các cỗ xe được lắp thêm những tấm bạt che nhô ra từ đầu hướng biển, nhằm che khuất tầm nhìn của tất cả mọi người đối với những người đang tắm. Bãi cát ở đây cực kỳ thích hợp cho hoạt động này, với độ dốc thoai thoải nhẹ nhàng và lớp cát mềm mại như nhung; tuy nhiên những cỗ xe này chỉ có thể sử dụng vào những khung giờ thủyỷ triều nhất định, vốn thay đổi theo từng ngày; thế nên thỉnh thoảng những người đi tắm buộc phải thức dậy từ rất sớm vào buổi sáng. Về phần tôi, tôi rất thích bơi lội như một môn thể thao vận động, và có thể tận hưởng nó vào bất kỳ thời điểm nào của thủy triều mà không cần phải câu nệ nghi thức của những cỗ xe ấy. Anh và tôi đã từng không ít lần cùng nhau lao mình xuống dòng sông Isis; nhưng biển cả mới là một bồn tắm tuyệt vời hơn rất nhiều, tốt cho cả sức khỏe lẫn sự sảng khoái. Anh không thể hình dung nổi nó mang lại nguồn năng lượng dồi dào thế nào và làm cho từng thớ thịt trong cơ thể con người trở nên săn chắc ra sao đâu. Giả như tôi kể lể ra đây nửa số bệnh tật được chữa khỏi mỗi ngày nhờ việc tắm biển, anh có lẽ sẽ phải thốt lên rằng mình vừa nhận được một chuyên khảo y học thay vì một lá thư từ

Người bạn và người đầy tớ kính mến của anh, J. MELFORD SCARBOROUGH, ngày 1 tháng 7.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.