Chuyến Thám Hiểm Của Humphry Clinker

Lượt đọc: 824 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kính Gửi Wat,

❊ ❊ ❊

Tôi đã nhắc đến trong bức thư trước về dự định của bác tôi là đến dự buổi tiếp kiến của công tước xứ N—; và dự định ấy nay đã được thực hiện. Ngài công tước đã quen với kiểu tôn sùng này từ lâu đến mức, dẫu cho chức vụ ngài đang nắm giữ hiện nay không còn cho thấy dù chỉ một phần mười ảnh hưởng từng có trong nhiệm kỳ trước, ngài vẫn để cho bè bạn hiểu rằng chẳng gì có thể khiến họ làm ngài hài lòng hơn là việc góp phần duy trì cái bóng của thứ quyền lực mà ngài thực chất đã không còn; và vì thế, ngài vẫn định ra những ngày thiết triều công khai để họ đến chầu chực.

Bác cháu tôi cùng đi đến đó với ông Barton, một người thuộc phe cánh của công tước, đã nhận lời làm người dẫn đường cho chúng tôi. Căn phòng khá đông người với đủ loại trang phục khác nhau; nhưng chỉ có đúng một người mặc áo choàng thâm và áo thụng của mục sư, dẫu tôi được bảo rằng khi còn làm bộ trưởng, ngài công tước đã từng ban chức tước cho hầu như mọi cá nhân hiện đang ngồi trên hàng ghế giám mục tại Thượng viện. Thế nhưng, rất có thể lòng biết ơn của giới giáo sĩ cũng giống như lòng bác ái của họ, đều là thứ luôn tránh né ánh mặt trời. Ông Barton lập tức được tiếp cận bởi một người đã có tuổi, cao gầy, xương xẩu, với chiếc mũi khoằm và nụ cười ranh mãnh, phảng phất sự khôn ngoan nhiều hơn là sự minh triết. Người dẫn đường của chúng tôi chào ông ta là đại úy C—, và sau đó cho chúng tôi hay ông ta là một kẻ có óc mưu lược, thỉnh thoảng được chính phủ trọng dụng trong những vụ việc bí mật. Nhưng tôi đã được nghe ngọn nguồn câu chuyện về ông ta từ một nguồn khác.

Nhiều năm trước, ông ta từng dính líu đến những hành vi gian lận với tư cách là một thương gia ở Pháp; và sau khi bị kết tội trong một số vụ, ông ta đã bị đày ra chiến thuyền lao động khổ sai, rồi nhờ vào thế lực của cố công tước xứ Ormond mà được cứu thích, kẻ mà ông ta đã viết thư ca tụng nhận là người cùng tên và họ hàng. Về sau, ông ta được bộ máy nhà nước của chúng ta tuyển làm gián điệu; và trong cuộc chiến tranh năm 1740, ông ta đã lang thang khắp Tây Ban Nha lẫn Pháp trong vỏ bọc của một tu sĩ dòng Capuchin, đối mặt với hiểm họa tột cùng khi triều đình Madrid thực sự đánh hơi được tung tích và ra lệnh bắt giữ ông tại San Sebastian – nơi ông đã may mắn rời đi chỉ vài giờ trước khi lệnh đến. Vụ việc này cùng những lần chết hụt trong gang tấc khác đã được ông viện ra để cầu ơn với chính phủ Anh một cách vô cùng hiệu quả, đến mức họ ban cho ông một khoản lương hưu hậu hĩnh mà nay ông đang tận hưởng lúc tuổi già. Ông ta vẫn có lối ra vào gặp gỡ mọi bộ trưởng, và người ta đồn rằng ông được họ tham vấn trong rất nhiều vấn đề như một con người có hiểu biết uyên bác và giàu kinh nghiệm.

Thực chất, ông ta là một kẻ có tài vặt và sự trơ trẽn vô đối; trong lời ăn tiếng nói, ông ta tỏ ra tự mãn đến mức dễ dàng qua mặt những chính trị gia cạn nghĩ hiện đangèo lái con thuyền chính quyền. Nhưng nếu người ta không vu khống cho ông ta, thì đây không phải là trò bịp bợm duy nhất mà ông ta nhúng tay vào. Người ta đồn rằng suy cho cùng, ông ta chẳng những là một tín đồ Công giáo La Mã mà thực chất còn là một linh mục; và trong khi ra vẻ phơi bày cho các hoa tiêu chính trị của ta thấy mọi dây mơ rễ má chi phối nội các Versailles, ông ta thực chất lại đang thu lượm tin tức để phục vụ cho bộ trưởng Pháp. Dù thế nào đi nữa, đại úy C— cũng đã bắt chuyện với chúng tôi một cách hết sức thân mật và đả kích danh tiếng của ngài công tước chẳng màng kiêng dè gì.

“Tên ngốc nghếch này (ông ta nói) vẫn còn đang nằm trên giường; và tôi nghĩ, việc tốt nhất hắn có thể làm là cứ ngủ li bì cho đến lễ Giáng sinh; bởi vì hễ cứ nhổm dậy là hắn ta chỉ tổ vạch trần cái sự ngu xuẩn của chính mình. Kể từ khi Grenville bị đá văng, chẳng còn vị bộ trưởng nào ở đất nước này đáng giá bằng nhúm bột mì làm trắng chiếc tóc giả của hắn cả. Lũ chúng nó dốt nát đến độ chẳng phân biệt nổi củ ấu với cây súp-lơ; rồi thì chúng lại đần độn tới mức chẳng tài nào nhét nổi vào đầu những mệnh đề hiển nhiên nhất. Vào đầu cuộc chiến tranh, cái sinh vật kém cõi ngớ ngẩn này từng hoảng hốt chạy đến bảo tôi rằng ba mươi ngàn quân Pháp đã hành quân từ Acadie đến Cape Breton. ‘Họ tìm đâu ra tàu chở quân? (tôi hỏi)’. ‘Tàu chở quân ư (ông ta kêu lên), tôi bảo anh là họ đi bộ cơ mà’. ‘Đi bộ đến tận đảo Cape Breton ư?’. ‘Sao nào! Cape Breton không phải là một hòn đảo hay sao?’. ‘Chắc chắn rồi’. ‘Hả! anh chắc chứ?’. Khi tôi chỉ cho hắn thấy trên bản đồ, hắn săm soi nó một cách cực kỳ nghiêm túc qua cặp kính lão; rồi ôm chầm lấy tôi và kêu lên: ‘C— thân mến của tôi ơi! Anh luôn mang lại cho chúng ta tin tốt lành – Chết tiệt thật! Ta sẽ đi thẳng đến chỗ nhà vua để tâu rằng Cape Breton là một hòn đảo’.”

Ông ta dường như còn muốn tiếp đãi chúng tôi bằng thêm nhiều giai thoại kiểu này để bêu riếu ngài công tước, thì bỗng bị ngắt lời bởi sự xuất hiện của viên đại sứ xứ Algiers; một vị Thổ Nhĩ Kỳ đáng kính với bộ râu dài trắng muốt, đi cùng với thông dịch viên của ông và một viên quan cận vệ trong triều không hề mang tất ở chân. Đại sứ C— lập tức cất giọng bề trên ra lệnh cho một tên đầy tớ đang đứng đợi, bảo hắn đi gọi ngài công tước dậy vì có rất nhiều khách khứa đã đến, và trong số đó có cả vị đại sứ từ Algiers. Đoạn, quay sang chúng tôi, ông ta nói: “Tên người Thổ tội nghiệp này, dẫu cho bộ râu bạc phơ, vẫn chỉ là một kẻ non tay. Hắn đã cư trú ở Luân Đôn vài năm nay rồi mà vẫn mù tịt về những cuộc cách mạng chính trị của chúng ta. Chuyến viếng thăm này vốn dành cho vị thủ tướng nước Anh; nhưng các ông cứ chờ mà xem vị công tước thông thái này sẽ đón tiếp nó như một minh chứng cho lòng trung thành dành riêng cho cá nhân ngài ấy thế nào.”

Quả thực, ngài công tước có vẻ rất sốt sắng muốn ghi nhận cử chỉ tốt đẹp ấy. Một cánh cửa bật mở, ngài bất thình lình lao vọt ra; với chiếc khăn cạo râu dưới cằm, khuôn mặt sủi bọt xà phòng trắng xóa đến tận mắt; và chạy bổ tới chỗ ngài đại sứ, nhe răng cười nhăn nhở vào mặt ông: “Mahomet thân mến của tôi ơi! (ngài nói) Chúa phù hộ cho bộ râu dài của ngài, tôi hy vọng đức vua xứ Alger sẽ ban cho ngài một cái đuôi ngựa trong đợt thăng chức tới, ha, ha, ha! Xin ngài hãy kiên nhẫn một chút, tôi sẽ cho người sang gặp ngài ngay tức khắc!”. Nói đoạn, ngài rút lui về cái hang ổ của mình, để lại vị người Thổ trong vẻ ngơ ngác đôi phần. Tuy nhiên, sau một thoáng ngập ngừng, ông ta nói gì đó với người phiên dịch của mình, mà tôi vô cùng tò mò muốn biết ý nghĩa ra sao, khi ông ngước mắt lên trời lúc nói, biểu lộ sự kinh ngạc pha lẫn lòng sùng kính.

Chúng tôi đã được thỏa mãn tò mò nhờ vị đại úy C— lắm điều, người đã trò chuyện với viên thông dịch như một vị khách quen lâu năm. Ibrahim, ngài đại sứ – người đã nhầm ngài công tước với gã hề của thủ tướng – vừa được viên phiên dịch giải thích cho vỡ lẽ liền thốt lên đại ý thế này: “Hỡi vị tiên tri thánh thiện! Ta chẳng lấy làm lạ khi quốc gia này hưng thịnh, hóa ra là vì nó được cai trị bởi những lời khuyên rẫy của bọn đần độn; một chuỗi những kẻ mà mọi tín đồ Hồi giáo chân chính đều tôn kính như những cơ quan truyền đạt cảm hứng trực tiếp từ thần linh!”. Ibrahim được ân sủng diện kiến riêng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi; sau đó ngài công tước tiễn ông ra tận cửa rồi quay lại để ban phát những ánh nhìn từ bi của mình giữa đám đông những kẻ tôn sùng.

Khi ông Barton tiến lên để giới thiệu tôi với ngài công tước, thật may mắn làm sao khi tôi lọt vào mắt xanh của ngài trước cả khi được xướng tên. Ngài lập tức sấn sổ tiến ra hơn nửa quãng đường, túm chặt lấy tay tôi và kêu lên: “Trời ơi, ngài Francis thân mến! Thật là quá chu đáo. Tôi thề với Chúa là tôi mang ơn ngài biết bao! Sự quan tâm nhường này dành cho một vị bộ trưởng tàn tạ. Nào... Xin hỏi khi nào thì tạ uy của ngài nhổ neo lên đường? Vì ơn trên, xin hãy giữ gìn sức khỏe và nhớ ăn mận hầm trong suốt chuyến hải trình. Cạnh bên trân thể quý giá của ngài, xin ngài đại sứ kính mến hãy chiếu cố đến Ngũ Đại Bộ Tộc – Những người bạn tốt của chúng ta thuộc Ngũ Đại Bộ Tộc: bọn Toryrories, bọn Maccolmacks, bọn Out-o’the-ways, bọn Crickets và bọn Kickshaws. Cứ cho chúng thật nhiều chăn ấm, thuốc xông và vỏ ốc xâu chuỗi; và ngài đại sứ nhất định phải cọ rửa cái ấm nước, đun sôi sợi dây chuyền, chôn vùi cái cây và trồng xuống chiếc rìu chiến nhé – Ha, ha, ha!”.

Khi ngài vừa tuôn ra tràng văn bất tuyệt ấy với cái vẻ hấp tấp quen thuộc của mình, ông Barton liền cho ngài rõ rằng tôi không phải là ngài Francis, cũng chẳng phải là thánh Francis, mà đơn giản chỉ là cậu Melford, cháu của ông Bramble – người lúc ấy đang bước lên phía trước và cúi đầu chào cùng lúc. “Ô kìa! Chẳng phải ngài Francis gì sất – (vị chính trị gia thông thái này thốt lên) – Cậu Melford, tôi rất vui được gặp cậu! Tôi đã cử một kỹ sư đến để cất lũy kiên cố cho ụ tàu của cậu đây. Ông Bramble – xin chào ông, ông Bramble – khỏe không, thưa ông Bramble kính mến? Cháu trai của ông là một thanh niên khôi ngô đấy – Thật lòng và danh dự là một chàng trai rất khôi ngô! Cha cậu ấy là bạn cũ của tôi – Cậu ấy dạo này thế nào? Vẫn còn bị cái chứng bệnh chết tiệt ấy hành hạ chứ, hả?”. “Thưa ngài (bác tôi đáp), mọi phiền muộn của anh ấy đã chấm dứt rồi; anh ấy đã qua đời được mười lăm năm nay.” “Qua đời ư? Sao cơ... Ờ phải! Giờ thì tôi nhớ ra rồi: quả thực là cậu ta đã chết – Nào, và... vị thanh niên trẻ tuổi này có ra tranh cử ở Haverford West không? Hay là... ừm, thế nào nhỉ. Cậu Milfordhaven thân mến của tôi ơi, tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng để giúp cậu – Tôi hy vọng mình vẫn còn chút ít uy tín”.

Bác tôi bèn thổ lộ để ngài hiểu rằng tôi vẫn chưa đến tuổi trưởng thành, và chúng tôi chẳng có ý định làm phiền ngài vì bất cứ ân huệ nào vào lúc này. “Tôi đến đây cùng cháu trai mình (ông nói thêm) để bày tỏ lòng kính trọng với ngài công tước; và tôi dám khẳng định rằng mục đích của nó và của tôi ít ra cũng vô tư lự như bất kỳ cá nhân nào có mặt trong căn phòng này.” “Cậu Brambleberry thân mến! Cậu ban cho tôi vinh dự vô bờ bến – Tôi sẽ luôn hân hạnh được gặp lại cậu và người cháu trai đầy triển vọng của cậu, cậu Milfordhaven – Uy tín của tôi, dẫu có ra sao, cậu cứ việc sai bảo – Ước gì chúng ta có thêm nhiều bạn bè cùng chí hướng như các cậu.”

Đoạn, quay sang đại úy C—, ngài cất giọng: “Nào, C—! Có tin gì mới không, C—? Thế thái nhân tình dạo này ra sao hả?”. “Thế thái nhân tình vẫn diễn ra theo cung cách cũ thôi, thưa ngài – vị đại úy đáp – Các chính trị gia ở Luân Đôn và Westminster lại bắt đầu chĩa lưỡi vào ngài rồi đấy; và sự nổi tiếng ngắn ngủi của ngài lúc này cũng bay bổng tựa chiếc lông vũ, chỉ cần một đợt gió phất phơ tiếp theo của những lời vu khống chống đối chính quyền là sẽ thổi bay đi mất.” “Lũ khốn kiếp (ngài công tước kêu lên) – Bọn Tory, bọn Jacobite, bọn nổi loạn; một nửa số chúng đáng lẽ phải được ngoáy gót chân trên giá treo cổ Tyburn nếu chúng nhận được đúng phần trừng phạt của mình.”

Nói đoạn, ngài quay phắt người đi; rảo bước quanh phòng tiếp kiến và trò chuyện với từng cá nhân bằng một vẻ thân mật nhã nhặn nhất; nhưng ngài hiếm khi mở miệng mà không mắc phải vài lỗi lợ ngớ ngẩn liên quan đến thân thế hoặc công chuyện của người mà ngài đang đối thoại, khiến ngài trông chẳng khác nào một diễn viên hài được thuê đến để nhại lại hình tượng của một vị bộ trưởng. Cuối cùng, khi một người có diện mạo vô cùng dễ mến bước vào, ngài công tước liền chạy bổ tới, ôm chầm lấy anh ta với tiếng gọi “Ch—s thân mến của tôi!” và dẫn thẳng người ấy vào căn phòng bên trong, hay còn gọi là Nơi Thánh Nhất của ngôi đền chính trị này.

“Đó (đại úy C— nói) chính là người bạn của tôi, C— T—, hầu như là con người có tài năng duy nhất dính dáng đến chính quyền hiện tại. Thật ra, anh ta sẽ chẳng màng dính líu gì đến chuyện này nếu nội các không thấy hoàn toàn cần thiết phải tận dụng tài năng của anh ta trong một vài dịp đặc biệt. Còn về công việc thông thường của quốc gia, chúng được vận hành theo một guồng quay đều đặn bởi các viên chức ở các bộ phận khác nhau, nếu không thì những bánh xe của chính phủ đã sớm bị đình trệ hoàn toàn giữa sự thay đổi chóng mặt của các đời bộ trưởng, mà người sau thì lúc nào cũng dốt nát hơn người trước. Tôi đang tự hỏi chúng ta sẽ rơi vào cái đống lầy lội tồi tệ thế nào nếu tất cả các nhân viên tài chính, các thư ký của bộ chiến tranh và bộ hải quân bỗng nổi hứng từ chức noi gương vị đại cựu thần kia.”

“Nhưng, quay trở lại với C— T—; anh ta chắc chắn hiểu biết nhiều hơn toàn bộ các thành viên nội các và phe đối lập cộng lại nếu đem cái đầu của họ ghép vào nhau, và ăn nói uyên bác chẳng khác nào thiên sứ về đủ mọi chủ đề mênh mông. Anh ta thực sự sẽ là một vĩ nhân nếu có được sự kiên định hay vững vàng trong tính cách. Khi ấy, phải thừa nhận rằng anh ta lại thiếu đi can đảm, bằng không thì chẳng bao giờ anh ta chịu để cho tên ác bá chính trị vĩ đại kia – kẻ mà anh ta hoàn toàn có lý khi coi thường trí tuệ – làm cho khiếp sợ. Tôi từng thấy anh ta sợ hãi trước kẻ hống hách áp đảo ấy chẳng khác nào học sinh sợ thầy giáo của mình; thế mà gã hống hách ấy, theo sự phỏng đoán tinh ranh của tôi, thực chất cũng chỉ là một kẻ hèn nhát mà thôi. Bên cạnh khiếm khuyết này, C— còn có một tật xấu khác mà anh ta chẳng mày may bận tâm che đậy: chẳng thể tin nổi bất kỳ lời khẳng định nào của anh ta, cũng chẳng thể phó thác niềm tin vào những lời hứa hẹn từ anh ta. Dù sao đi nữa, nói phải quấy thì anh ta rất tốt bụng; và thậm chí còn rất đỗi thân tình khi bị nài nỉ dồn dập trong chuyện xin xỏ. Còn về nguyên tắc đạo đức ư, đó là điều không tưởng. Tóm lại, anh ta là một người thông minh và có tài hùng biện, cực kỳ thú vị, và thường xuyên tỏa sáng ngay cả khi hạ nhục chính những vị bộ trưởng mà anh ta đang ăn lương phục vụ. Đó là dấu hiệu của sự thiếu cẩn trọng tột cùng, qua đó anh ta đã biến tất cả bọn họ thành kẻ thù của mình, dù bề ngoài họ có tỏ ra thế nào đi nữa; và sớm muộn gì anh ta cũng sẽ phải thầm ước gì mình giữ được cái miệng kín đáo hơn. Tôi đã nhiều lần cảnh báo anh ta về vấn đề này; nhưng chẳng khác nào nước đổ lá môn – sự kiêu ngạo đã cuốn phăng đi sự thận trọng của anh ta.”

Tôi không khỏi nghĩ rằng chính vị đại úy cũng sẽ được lợi nếu tiếp thu vài lời khuyên tương tự. Lời tán dương của ông ta, khi đã gạt bỏ nguyên tắc và lòng thành thật, khiến tôi liên tưởng đến một cuộc cãi vã đôi co mà tôi từng vô tình nghe được giữa hai bà hàng táo ở Spring-garden. Một trong những mụ đàn bà dữ dằn ấy khi lướt qua điều gì đó làm tổn hại đến phẩm hạnh đạo đức của đối phương, thì đối thủ của mụ liền chống nạnh đáp trả: “Nói cho rõ mặt vào, đồ khốn – tao khinh bỉ cái thói ác khẩu của mày! Tao thừa nhận tao vừa là đĩ vừa là trộm cắp đấy; mày còn muốn bới móc gì nữa nào? Khỉ gió nhà mày, mày còn dám nói gì nữa? Trừ những điều mà cả thế giới này đều biết mồn một ấy ra, tao thách mày chỉ ra được điểm nào đen tối trong nhân cách của tao đấy!”.

Chúng tôi không chờ ông T— bước ra; mà sau khi đại úy C— đã phác họa xong chân dung của tất cả những kẻ kỳ quặc đang chờ chầu chực, chúng tôi liền kéo nhau ra một quán cà phê để thưởng thức bánh xốp bơ và trà cho bữa sáng, và vị đại úy nọ vẫn tiếp tục ban ơn ngồi cùng bàn với chúng tôi. Thậm chí, bác tôi còn cảm thấy vô cùng thú vị trước những giai thoại của ông ta đến nỗi đã mời ông ở lại dùng bữa tối, và thết đãi một món cá bơn turbot tuyệt hảo mà ông ta đã chén tì tì không chừa một miếng. Buổi tối hôm đó, tôi la cà ở quán rượu cùng vài người bạn, và một trong số họ đã cho tôi thấu tỏ toàn bộ bản chất của C—; điều mà khi ông Bramble vừa hay biết liền bày tỏ sự lo ngại về mối quan hệ vừa thiết lập, và quả quyết sẽ dứt áo ra đi khỏi đó mà chẳng cần khách khí gì nữa.

Chúng tôi đã trở thành hội viên của Hội Khuyến Khích Nghệ Thuật, và từng tham dự vào một vài buổi thảo luận của họ – những phiên họp được điều hành bằng cả tinh thần hăng hái lẫn sự sáng suốt. Bác tôi vô cùng say mê tổ chức này, thứ chắc chắn sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho công chúng, nếu như vì hình thức mang tính dân chủ của nó mà không bị thoái hóa thành bè phái và nhũng lũng. Bạn đã biết rõ sự ác cảm của bác tôi đối với ảnh hưởng từ đám đông – điều mà ông khẳng định là không thể dung hợp với sự xuất chúng và chỉ phá họi trật tự xã hội. Quả thực, lòng căm ghét đám đông của ông càng trở nên trầm trọng hơn vì nỗi sợ, kể từ khi ông ngất xỉu tại căn phòng ở Bath; và sự lo lắng này đã ngăn cản ông đến với Nhà hát Nhỏ ở Hay-market cùng những chốn giải trí khác, nơi mà dẫu sao tôi vẫn có vinh dự được hộ tống các quý bà.

Lão già bảo thủ ấy cảm thấy vô cùng chướng tai gai mắt khi ngẫm lại rằng mình chẳng thể tận hưởng ngay cả những chốn vui chơi tao nhã bậc nhất của kinh thành mà không phải chung đụng với hạng dân dã; bởi vì giờ đây chúng chen chúc vào mọi buổi tụ họp, từ dạ hội hóa trang ridotto tại St. James’s cho đến buổi khiêu vũ bình dân ở Rotherhithe. Gần đây, tôi đã gặp lại người quen cũ Dick Ivy – kẻ mà chúng ta từng đinh ninh là đã chết vì chứng nghiện rượu mạnh; thế nhưng anh ta mới đây đã thoát khỏi nhà tù Fleet nhờ vào một cuốn tiểu thuyết ngắn mà anh ta viết rồi cho xuất bản đả kích chính quyền và đã gặt hái được chút thành công. Tiền bán tác phẩm này đã giúp anh ta sắm được những bộ đồ sạch sẽ, và giờ đây anh ta đang rảo bước khắp nơi để xin tiền mua báo trước cho tập Thơ của mình; chỉ có điều chiếc quần dạo phố trông vẫn chưa được chỉnh tề cho lắm.

Dick quả thực rất xứng đáng nhận được sự khích lệ vì lòng can đảm và sự kiên trì của mình. Chẳng có thất bại nào, thậm chí cả sự khốn cùng tột độ, có thể đẩy anh ta đến bờ vực tuyệt vọng. Sau một vài thử nghiệm thất bại trong lĩnh vực thơ ca, anh ta chuyển sang làm nghề buôn rượu mạnh, và tôi tin rằng toàn bộ vốn liếng của anh ta đã trôi tuột qua đường ruột của chính mình; rồi anh ta chung đụng với một người phụ nữ bán sữa có một cái hầm ở Petty France; nhưng anh ta chẳng thể giữ vững được địa bàn; cuối cùng bị tống cổ ra ngoài và đuổi thẳng lên lề đường bởi một hạ sĩ thuộc trung đoàn bộ binh cận vệ số hai. Sau đó, anh ta trở thành nhà thơ laureate của khu Blackfriars, từ đó có một sự chuyển dịch vô cùng tự nhiên sang nhà tù Fleet.

Vì trước kia từng thất bại trong thể loại ca tụng, anh ta nay quay sang mảng trào phúng, và thực sự có vẻ sở hữu chút tài năng chửi rủa. Nếu anh ta có thể cầm cự cho đến khi nghị viện nhóm họp và chuẩn bị sẵn sàng cho một đợt tấn công mới, rất có thể Dick sẽ được leo lên cột bêu đầu hoặc giật lấy một suất lương hưu, và dù là trường hợp nào thì vận mệnh của anh ta cũng sẽ phất lên. Trong khi đó, anh ta đã tạo dựng được chút ít uy tín với những cây bút đáng kính trong giới; và vì tôi đã đặt mua trước các tác phẩm của anh ta, nên tối hôm nọ anh ta đã rộng lòng dẫn tôi ra mắt một hội nhóm gồm những thiên tài ấy; thế nhưng tôi lại thấy họ cực kỳ câu nệ và khách sáo.

Họ có vẻ dè chừng và ganh ghét lẫn nhau, ngồi lì trong một trạng thái bài xích đối phương tựa như những hạt hơi nước, mỗi hạt đều được bao quanh bởi một bầu không khí tích điện của riêng mình. Dick – người có thừa sự hoạt bát hơn là óc phán đoán – đã hơn một lần cố gắng làm bầu không khí sinh động hơn; lúc thì pha trò ngớ ngẩn, khi thì bắn ra một câu chơi chữ, đôi lúc lại tung ra một câu đố mẹo; thậm chí cuối cùng anh ta còn châm ngòi cho một cuộc tranh cãi về sự so sánh đã cũ rích giữa thơ tự do và thơ có vần, thế là các bậc thầy bắt đầu nhao lên tranh cãi với âm lượng inh ỏi. Thay vì bám sát chủ đề, họ lại lan man sang những bài diễn luận dài lê thê về thơ ca của người cổ đại; và một trong số họ, từng là một giáo viên trường làng, đã khoe ra toàn bộ kiến thức về luật ngâm vần nhặt nhạnh được từ Disputer và Ruddiman.

Cuối cùng, tôi đành liều mình lên tiếng rằng tôi chẳng thấy chủ đề đang bàn được làm sáng tỏ chút nào qua cung cách của người cổ đại, những người chắc chắn chẳng hề có thơ tự do hay thơ vần trong các tác phẩm của họ vốn được đo bằng các âm bước, trong khi thơ của chúng ta lại được tính bằng số lượng âm tiết. Nhận xét này có vẻ đã chọc giận vị giáo sư hách dịch, kẻ lập tức tự giấu mình trong một đám mây trích dẫn tiếng Hy Lạp và tiếng La-tinh mà chẳng một ai thèm đếm xỉa đến việc xua tan. Một thứ âm thanh vo ve hỗn độn những lời nhận xét và bình phẩm vô vị theo đó cất lên; và nói chung, chưa bao giờ tôi trải qua một buổi tối nào tẻ nhạt hơn thế trong đời. Thế nhưng, không thể chối cãi rằng một số người trong số họ đích thị là những bậc bác học, thông minh và tài hoa.

Vì họ quá sợ hãi việc suồng sã với nhau, có lẽ họ nên mang theo mỗi người một gã hề hoặc một hòn đá mài bên mình để giải trí cho cả nhóm. Bác tôi bảo rằng ông chẳng bao giờ muốn gặp quá một kẻ khôn ngoan tại cùng một thời điểm. Một kẻ khôn ngoan, giống như một mẩu dăm bông trong nồi súp, sẽ làm tăng thêm độ đậm đà và hương vị cho món ăn; nhưng nếu có nhiều hơn một thì chỉ tổ làm hỏng cả nồi cháo. Và giờ đây, tôi e rằng mình đã dọn cho anh một mớ hỗn độn vô phương cứu chữa, hoàn toàn nhạt nhếch chẳng có chút hương vị nào; và vì thế, chắc hẳn anh sẽ dành tặng những lời chúc phúc tốt đẹp nhất cho

Bạn và là đầy tớ trung thành của anh, J. MELFORD

LUÂN ĐÔN, ngày 5 tháng 6

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.