Thời gian bước vào tháng 5 năm 1678, khói lửa chiến tranh kéo dài suốt mấy năm đã gây ra tổn thất to lớn cho dân sinh các nước, ngay cả một đại quốc hàng đầu lục địa Âu như Pháp cũng không thể tránh khỏi tai ương, huống hồ họ còn trực tiếp tham gia vào cuộc chiến thảm khốc, hao tài tốn của đến tột cùng này. Sau khi thuyền của Lý Tình, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Hoa Hạ Đông Ngạn tại châu Âu cập cảng Calais, khung cảnh dân sinh điêu tàn mà ông nhìn thấy khiến ông vô cùng kinh ngạc.
Phải biết rằng, cảng Calais từ thời Trung cổ đã là thương cảng quan trọng ở phía bắc nước Pháp, là trọng trấn mậu dịch với Anh quốc. Các loại sản phẩm kim loại, len, vải vóc, da thuộc, giấy, thủy tinh, vũ khí từ bên kia eo biển liên tục được vận chuyển tới đây, sau đó lại đưa lúa mì, rượu, trái cây, vật dụng hàng ngày, thậm chí cả hàng xa xỉ sản xuất tại Pháp vận chuyển ngược về London phân phối. Thuế quan thu vào mỏi cả tay, mức độ giàu có của thành phố đứng đầu thiên hạ.
Về sau, dù gia tộc Capet dẹp yên các chư hầu khác, Vương quốc Pháp hoàn thành việc thống nhất trên thực tế, các cảng như Le Havre, Nantes, La Rochelle lần lượt trỗi dậy khiến tầm quan trọng của Calais có phần giảm sút, nhưng nhờ vị trí địa lý đắc địa, một phần mậu dịch với Anh quốc, các tỉnh Liên hiệp và vùng biển Baltic vẫn hoàn tất giao dịch tại đây, cho nên thực lực kinh tế vẫn không thể coi thường, mức độ giàu có của cư dân vẫn rất cao.
Nhưng hiện tại thì sao? Theo những gì Lý Tình nhìn thấy ở gần bến tàu, thương nhân giảm mạnh, ngược lại ăn mày lại tụ tập thành từng nhóm, ngoài ra còn có một số tiểu thương, môi giới trông có vẻ rảnh rỗi đang chờ đợi làm ăn, khiến người ta cứ ngỡ nơi đây vừa phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng kinh tế nào đó.
Tất nhiên nói là khủng hoảng kinh tế cũng không sai, bởi vì sau khi trò chuyện với Hầu tước Montespan – người đã đợi Lý Tình ở đây nửa tháng – ông đã biết được rất nhiều tình hình ở đây. Hầu tước Montespan với cái đầu xanh lét chẳng hề bận tâm mà nói cho Lý Tình biết, vì khó khăn tài chính, nên hiện tại hầu hết hàng hóa xuất khẩu của Vương quốc Pháp đều bị áp mức thuế quan nặng hơn trước rất nhiều. Theo lời của Hầu tước Montespan thì là "gây ra sự hỗn loạn cực lớn cho mậu dịch", về lâu dài, chỉ làm tổn hại đến công nghiệp và thương mại của Pháp, khiến thu nhập của chính phủ ngày càng giảm sút.
"Một khi mức thuế quá nặng, chỉ khiến các thương nhân nước ngoài buộc phải vì muốn học hỏi kỹ thuật chế tạo của chúng ta mà lôi kéo công nhân của chúng ta ra nước ngoài (chỉ riêng một nước Tây Ban Nha đã có hơn bốn vạn thợ thủ công Pháp đang làm việc), đồng thời đến các quốc gia hoặc khu vực khác với giá rẻ hơn để mua các loại hàng hóa vốn dĩ phải tới quốc gia chúng ta mới mua được. Lấy rượu vang làm ví dụ, theo tôi biết vài năm gần đây doanh số rượu vang của Ý và Bồ Đào Nha tăng mạnh, ngay cả người Ottoman hàng năm cũng bắt đầu xuất khẩu một lượng rượu vang không nhỏ, bởi vì Hy Lạp là nơi sản xuất nhiều nho và dầu oliu. Những hành vi này, thực ra đều làm tổn hại quốc gia chúng ta mà làm giàu cho người Ý, người Bồ Đào Nha, hơn nữa họ còn nhờ quy mô sản xuất mở rộng mà đào tạo được nhiều nhân tài, học được cách quản lý sản xuất, còn chúng ta thì do sản xuất co cụm mà không còn am hiểu quản lý nữa." Hầu tước Montespan dường như có chút bất mãn với chính sách kinh tế của Colbert, và điều này thực ra cũng nhất quán với thông tin tình báo mà người Đông Ngạn thu thập được. Chỉ nghe gã này tiếp tục bô bô cái miệng: "Chúng ta thực ra đã sớm nên cố gắng tránh sự hỗn loạn do mức thuế quan cao ngất ngưỡng này gây ra rồi, hơn nữa chuyện đáng chết còn không chỉ dừng lại ở đó, vài đại thần của chúng ta lại còn hạ lệnh thu thuế quan cao đối với nhiều loại hàng hóa nhập khẩu, điều này thậm chí còn dẫn đến vài cuộc chiến tranh thương mại! Thậm chí ngay cả người Bồ Đào Nha vốn dĩ nhu nhược cũng vì chúng ta áp thuế nặng lên các loại hàng hóa nhập khẩu từ nước họ như trái cây khô, dầu oliu, mỡ động vật... mà cũng áp mức thuế cao tương tự đối với một số hàng hóa nhập khẩu từ nước ta ở Lisbon để trả đũa. Ôi, lạy Chúa, điều này thật kinh khủng, nhìn Calais mà xem, những người bao thuế e rằng sắp không chịu đựng nổi nữa rồi, cứ tiếp tục thế này thì Quốc vương bệ hạ lấy tiền từ đâu? Tôi cảm thấy rất hoang mang!"
Lý Tình nghe vậy cười khẽ. Thực ra, đối với cuộc chiến thương mại giữa Pháp và một số quốc gia khác, ông cũng từng nghe nói qua. Hai bên đều trả đũa lẫn nhau đối với hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia của đối phương, khiến những người bao thuế trong nước của mỗi bên thực sự dở khóc dở cười. Lý Tình nhẩm tính, mười mấy người bao thuế ở cảng Calais kia, hiện tại thu nhập đã giảm mạnh, thu không đủ chi là chuyện khả năng cao xảy ra. Tuy phía chính phủ vương quốc không hề nâng cao giá thầu của những người bao thuế này, nhưng lâu dần việc những người bao thuế này phá sản cũng là chuyện khó tránh khỏi, mà khi họ xong đời cả rồi, không tìm được người bao thuế quan mới, thì Quốc vương lại lấy tiền từ đâu?
Có lẽ sẽ có người hỏi, đã là Quốc vương ký hợp đồng bao thuế quan nhập khẩu rồi, vậy thì nâng cao thuế quan nhập khẩu hàng hóa nước ngoài có ý nghĩa gì? Vừa không thu thêm được một xu, ngược lại còn làm lượng hàng hóa vào Pháp giảm đi, làm trầm trọng thêm mức độ lạm phát trong nước, cần gì chứ? Khổ sở làm gì chứ?
Vấn đề này thực ra rất dễ giải thích, đó là nếu quân chủ lúc nào cũng giữ được bình tĩnh, thì chuyện đó quả thực là điều không thể tưởng tượng nổi, đặc biệt là đối với những quân chủ kiêu ngạo tự phụ như Louis XIV hay Thân vương Orange thì càng như vậy. Thực tế, Louis XIV hạ lệnh tăng thuế quan nhập khẩu phần nhiều là xuất phát từ mục đích trừng phạt. Lấy ví dụ như Bồ Đào Nha, phía Paris từng cử sứ giả tới ba lần, mời họ tham gia phe Pháp, tác chiến cùng Liên minh chống Pháp, đáng tiếc là cả ba lần đều thất bại, vì vậy Louis XIV cảm thấy mình bị xúc phạm, thế là liền tiến hành "trừng phạt" người Bồ Đào Nha, mặc dù kiểu trừng phạt này khiến những người bao thuế ở nhiều cảng mậu dịch trong nước kêu trời trách đất.
Tiếp theo, Hầu tước Montespan kể một câu chuyện vừa xảy ra ở cảng Calais. Do thuế suất thuế quan nhập khẩu quá cao, một con tàu chở đầy hàng lụa dệt từ Ý đã tranh thủ đêm tối chạy đến dưới một mỏm đá lớn gần đường bờ biển để thả neo, trốn ở đó. Sau đó trên mỏm đá, nhiều người nghèo Pháp dùng dây thừng kéo những kiện hàng này lên, rồi dùng xe ngựa chở đi, nhằm né tránh gánh nặng thuế quan nhập khẩu nặng nề.
Không còn nghi ngờ gì nữa, hành vi buôn lậu này làm tổn hại to lớn đến lợi ích của người bao thuế mặt hàng lụa, khiến thu nhập của họ giảm mạnh, dù những gia đình này gia sản to lớn, nhưng không tới vài năm cũng sẽ phá sản. Mà kết cục của họ đã bày ra trước mắt, người phía sau dù có muốn thay thế vị trí của họ cũng sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng. Hầu tước Montespan thậm chí còn cười nói, một người bao thuế sắt ở địa phương, thậm chí đã thương lượng với đám thuyền trưởng kia, ngầm trả lại cho họ một nửa tiền thuế (vì thuế suất do Quốc vương định ra không thể thay đổi, có sự giám sát của thanh tra thuế quan, họ chỉ có thể thu trước rồi trả sau), bảo họ đừng buôn lậu nữa, thông qua con đường chính ngạch để vào cảng giao dịch. Nghe nói phương pháp này khá hiệu quả, quả thực đã lôi kéo được không ít thương nhân nhát gan đi theo con đường mậu dịch chính ngạch, cải thiện tình cảnh của những người bao thuế này, nhưng dường như vẫn có cảm giác muối bỏ bể.
"Thanh tra thuế quan chắc hẳn rất hài lòng với tình hình hiện tại nhỉ, họ chẳng quan tâm đến lợi ích của người bao thuế, cũng không cần phải chịu trách nhiệm với tài chính vương quốc." Nghe xong lời lải nhải như lão nông của Hầu tước Montespan - nghe cứ như thể ông ta hoặc gia tộc ông ta đang kinh doanh việc xuất nhập khẩu quy mô không hề nhỏ vậy - Lý Tình tùy ý hỏi.
Lúc này họ cùng mười mấy tùy tùng lần lượt lên mấy chiếc xe ngựa trang trí xa hoa, sau đó hàng chục kỵ binh Pháp chia ra trước sau, đảm nhận nhiệm vụ hộ tống. Hầu tước Montespan đương nhiên ngồi cùng xe với Lý Tình, lúc này chỉ nghe ông ta nói: "Thanh tra thuế quan đều do Bộ trưởng Tài chính đích thân chỉ bổ nhiệm, họ tất nhiên chẳng quan tâm rồi. Bởi vì rất nhiều thương nhân sẽ cấu kết với họ, lấy việc làm tổn hại lợi ích của người bao thuế để thực hiện các thao tác ám muội; ngoài ra, nếu tàu buôn lậu bị bắt giữ, thì họ cũng có quyền tịch thu một phần ba hàng hóa trên tàu, đây là quyền mà luật pháp vương quốc ban cho họ. Đôi khi tôi tự hỏi, nếu bệ hạ tương lai thực sự vì chiến tranh mà dẫn đến tài chính quẫn bách, thì phái người kiểm tra gốc rễ của thanh tra thuế quan các cảng, chắc chắn có thể thu hồi một khoản tiền lớn đấy, ha ha."
Lý Tình nghe vậy cũng hơi thở dài một tiếng, đồng thời càng thêm cảnh giác. Tình cảnh hiện nay của Vương quốc Pháp, thực ra đều là do cuộc chiến tranh quy mô lớn kéo dài suốt mấy năm nay gây ra. Phải biết rằng, trước chiến tranh tài chính Pháp vốn dĩ thặng dư rất nhiều, Louis XIV cũng là nhân vật nổi tiếng vung tiền như rác, khi đó vung tay chi tiền can thiệp vào nội chính các nước, sảng khoái biết bao! Nhưng ai ngờ, mới đánh nhau vài năm, khoản chi phí nặng nề cho hai mươi vạn lục quân và hai hạm đội lớn đã khiến Vương quốc Pháp có cảm giác không thể gánh vác nổi, dù là quý tộc hay bách tính bình thường đều như vậy - sau hai lần tăng thuế, hiện nay mức thu thuế của Vương quốc Pháp đã là đỉnh điểm kể từ khi Louis XIV thân chinh đến nay, cách thời kỳ đỉnh cao nhất của thời Louis XIII cũng chỉ còn một bước chân mà thôi.
Vì vậy, Lý Tình cảm thấy, Cộng hòa Hoa Hạ Đông Ngạn thực sự phải tránh những cuộc chiến tranh lỗ vốn thế này, nhất là cuộc chiến tranh trên bộ với chi phí khổng lồ tựa như hố không đáy. Phải biết rằng huy động mấy chục vạn người thì dễ, nhưng chi phí lương bổng, tiêu hao vật tư, tiền tuất bồi thường các loại thì không biết bao giờ mới dứt, điều này đủ để kéo sập tài chính của một quốc gia. Gần thì có nước Pháp đang lún sâu vào vũng bùn chiến tranh, xa thì có khoản chi tiêu khổng lồ thời cuối triều Minh, tất cả đều đủ để khiến người Đông Ngạn phải tỉnh ngộ.
Nếu thực sự bắt buộc phải khai chiến với người khác, vậy thì chiến tranh trên biển với chi phí tương đối nhỏ hơn, có lẽ mới là lựa chọn kinh tế thiết thực nhất. Đặc biệt là hạm đội hiện đại hóa với số lượng thủy thủ ít như của Đông Ngạn, chi phí thấp hơn người châu Âu ít nhất một phần ba, cộng thêm một số ưu thế về kỹ thuật, cho nên đánh một trận chiến tranh trên biển quy mô không quá lớn với kẻ địch thì vẫn khá có lợi, hơn nữa cũng dễ kiểm soát chi phí chi tiêu.