Đang là giữa buổi sáng, bốn ngày kể từ khi chúng tôi phát hiện ra cô gái trong chiếc Caddy chết ở gara Opera Plaza. Tôi vừa trở về sau cuộc gặp gỡ với sếp Tracchio, ông thông báo cho tôi biết đang thuyên chuyển nhân viên, ông sẽ chuyển vài người của tôi khỏi đội điều tra án mạng để bổ sung vào vị trí còn khuyết ở những bộ phận khác. Tracchio không hỏi ý kiến tôi mà chỉ thông báo như vậy.
Tôi treo áo khoác lên đằng sau cánh cửa, trong đầu vẫn lởn vởn hình ảnh của sếp, đang đánh dấu vào mục lý do bằng những ngón tay mũm mĩm.
Ngân sách cắt giảm. Quá nhiều giờ làm thêm. Phải bổ khuyết chỗ này chỗ kia. Chỉ là tạm thời, Boxer.
Thật là đồ con rệp điên rồ, quái gở, quan liêu.
Và giờ đây đầu tôi đau như búa bổ, ở phía sau mắt phải.
“Hãy báo cho tôi điều gì đó khả quan”, tôi nói với Jacobi khi ông bước vào phòng làm việc, đặt súng lên chồng tài liệu của tôi. Conklin vào sau ông, di chuyển nhanh nhẹn như một con linh miêu, khoanh tay đứng dựa vào khung cửa. Thật khó để không nhìn.
“Cứ giữ mong đợi của cô ở mức thấp nhất đi”, Jacobi lẩm bẩm.
“Được rồi, Warren. Tôi kín như bưng mà. Đưa nó cho tôi”.
“Chúng ta đã gửi một bức điện qua hệ thống NCIC tới tất cả cơ quan, luật pháp trong khu vực những thông tin chúng ta biết về cô gái trong chiếc Caddy”. Một cơn ho rũ rượi ngắt lời Jacobi, triệu chứng vẫn còn sót lại của vết thương đang lành do viên đạn mà ông đã lĩnh ở bên phổi phải.
“Chiều cao, cân nặng, độ tuổi, cách ăn mặc, màu tóc, mắt và nghề nghiệp”, cuối cùng ông tiếp tục.
“Đã kiểm tra tất cả những khả năng có thể trong diện đó”, Conklin nói, vẻ lạc quan lấp lánh trong ánh mắt.
“Và ?” Tôi hỏi.
“Chúng ta có một vài đối tượng phù hợp, nhưng cuối cùng họ lại chưa chết. Chỉ có chút ít tin tốt đó là phòng thí nghiệm đã tìm thấy dấu vân tay trên chiếc giày của cô gái”.
Tôi ngẩng đầu lên.
“Chỉ là một phần”, Jacobi đáp, “Nhưng còn điều này, liệu chúng ta có tìm thấy bất cứ cái gì hay bất cứ ai phù hợp với dấu vân tay hay không. Đó mới là vấn đề. Không có mối liên hệ nào cả”.
“Bước tiếp theo chúng ta nên làm gì ?”
“Tôi đang nghĩ đến mái tóc thời trang của cô gái Caddy”, Conklin trả lời. “Việc cắt và nhuộm tóc trị giá khoảng ba trăm đôla”.
Tôi gật đầu nói: “Nghe có vẻ đúng đấy”. Làm sao anh ta biết về những mái tóc cắt với giá ba trăm đôla nhỉ ?
“Chúng tôi sẽ thăm dò các thẩm mỹ viện. Ai đó có thể nhận ra cô ấy. Đồng ý chứ ?”
“Hãy để tôi xem qua bức ảnh”, tôi nói, chìa tay ra.
Conklin rướn lên trao cho tôi tấm ảnh người phụ nữ đã chết. Tôi quan sát chăm chú gương mặt đẹp như thiên thần của cô, những lọn tóc hoe vàng mềm mại rủ xuống như đối chọi với tấm thép không gỉ. Một tấm ga được kéo phủ lên xương đòn.
Lạy chúa tôi. Cô ta là ai ? Tại sao không có bất cứ ai báo cáo về sự mất tích của cô ? Và tại sao bốn ngày sau cái chết của cô, chúng tôi vẫn chưa có một manh mối nào ?
Hai viên thanh tra đã rời khỏi văn phòng có những bức tường làm bằng kính của tôi, còn tôi cho gọi Brenda, cô ngồi trên chiếc ghế tựa lật loạt xoạt tập giấy ghi chép để mở trên đầu gối. Tôi bắt đầu đọc cho cô viết thông báo gửi cho nhân viên, nhưng thấy khó mà tập trung được.
Hôm nay, tôi muốn làm một cái gì đó, một điều gì thật ý nghĩa. Tôi muốn ra ngoài phố với Conklin và Jacobi, đưa bức ảnh cô gái trong chiếc xe Caddy dạo quanh “thẩm mỹ viện được ưa thích” và khai thác những người hàng xóm tốt bụng để tìm đầu mối.
Tôi muốn đi mòn đôi giầy của mình trong vụ án này.
Tôi muốn làm việc theo cách làm cho tôi cảm thấy như được làm công việc của chính mình thay vì đọc cho thư ký viết một tờ thông báo vô nghĩa, chẳng có chút giá trị nào.