Xuân Thu Ngã Vi Vương

Lượt đọc: 1600 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 295
Gò đất của Ni Phụ (Hạ)

❊ ❊ ❊

“Vũ Cống từng nói: Đại Dã đã hồ, Đông Nguyên để bình, hôm nay tận mắt nhìn thấy quả nhiên danh bất hư truyền!”

Sau khi rời khỏi Vận Thành được một ngày, khi những con sóng biếc vô tận và vùng đất ngập nước trải dài không dứt hiện ra trước mắt, Triệu Vô Tuất không khỏi cất lời tán thán.

Vào thời viễn cổ, vùng sơn địa Lỗ Trung lấy núi Thái Sơn làm chủ thể, từng là một hòn đảo giữa đại dương. Nhờ phù sa bồi đắp từ cao nguyên Hoàng Thổ do sông Hoàng Hà mang theo, một vùng đồng bằng khoáng đạt dần hình thành ở phía Tây Nam núi Thái Sơn, mới xuất hiện bình nguyên Lỗ Tây Nam ngày nay, giúp Thái Sơn nối liền với đại lục.

Hàng ngàn năm qua, Duyện Châu vùng Lỗ Tây Nam là trung tâm hoạt động của người Đông Di. Người Di từ núi cao đi ra phía Tây, thấy vùng đồng bằng trải dài này, gọi là Đại Dã. Sông Bộc, sông Tế đổ vào trong đó, hình thành Đại Dã Trạch dài ba trăm dặm hướng Nam Bắc, rộng hơn một trăm dặm hướng Đông Tây.

Triệu Vô Tuất biết, hồ lớn đầm sâu này mãi đến đời Tống vẫn còn di tích, đó chính là Lương Sơn Thủy Bạc nổi tiếng.

Dọc đường đi, dân chúng Vận Thành cũng có không ít người tiến vào phía Bắc Đại Dã Trạch. Nơi đây nhân khói thưa thớt, cây trồng ngắn hạn không kịp thu hoạch, chỉ có thể trông chờ vào việc săn bắn hái lượm xung quanh đầm. Dẫu sao nơi đây rau dại khắp nơi, thỉnh thoảng còn có thể thấy đàn hươu chạy nhảy giữa chốn này, ăn cỏ thương nhĩ, trong nước lại có vô số cá lội cùng với nga, hến, đủ để cầm cự qua cơn đói.

Những năm trước khi Vận Thành gặp binh tai hoặc cơ đói, người Vận Thành thường đi về phía Đông đến đây tìm đường sống, đợi khi chiến loạn lắng xuống mới quay về. Có người thậm chí ở lại không đi, từ đó trở thành dân lưu vong trong đầm lầy, cuối cùng biến thành những toán cướp có tính dã thú ngày càng mạnh, tính công kích ngày càng dữ dội.

Tuy nhiên cũng có một bộ phận lưu dân không dừng lại, mà tiếp tục đi về phía Đông, số lượng còn nhiều hơn cả những người đi về phía Tây để tới Lẫm Khâu. Triệu Vô Tuất dừng xe hỏi thăm, mới biết họ là đi nương nhờ Trung Đô ấp.

“Trung Đô tể có tiếng là người nhân đức, đến đó, liền có thể tìm được một con đường sống!”

Tử Phục Hà tán thán: “Đa tạ Khổng Tử chấp chính, mới có thể khiến cho người dân miền Tây bỉ có được một mảnh đất lành!”

Triệu Vô Tuất khi ở nước Tấn, nước Tống, tuy nghe Tử Cống tán dương Khổng Tử không ít, nhưng tận mắt nhìn thấy lại là một chuyện khác. Chàng không khỏi càng thêm tò mò về cách đối nhân xử thế và việc trị quốc của Khổng Tử, bèn hướng Tử Phục Hà hỏi han cặn kẽ.

“Khổng Tử vốn là cháu sáu đời của Tống khanh Khổng Phụ Gia. Sau khi dòng họ Khổng từ nước Tống lưu vong sang nước Lỗ thì dần dần sinh sôi. Cha ngài tên là Thúc Lương Hột, là một dũng sĩ nổi tiếng của nước Lỗ, được xưng tụng ngang hàng với Đốc Nhung, Phi Báo của nước Tấn. Vào thời Tấn Đạo Công, trong trận chư hầu vây đánh Bị Dương, từng dùng sức nâng cổng thành, được Mạnh Hiến Tử khen ngợi là có sức mạnh như hổ.”

“Thúc Lương Hột mất sớm, mà Khổng Tử khi ấy còn nhỏ, cho nên bần tiện. Lúc còn bé khi chơi đùa, ngài thường bày ra các loại khí cụ như trớ đậu (thổ đậu) bằng gốm, diễn tập các động tác lễ nghi. Sau khi trưởng thành nổi tiếng là người trẻ tuổi mà hiếu lễ. Danh tiếng thậm chí truyền đến tai nhà Mạnh thị. Năm Khổng Tử ba mươi tuổi làm tiểu lại cho Quý thị, cân đối thu chi chính xác không sai sót; lại từng làm mục lại, khiến cho gia súc chăn nuôi sinh sôi nảy nở. Lúc này danh vọng dần vang xa, từng làm lễ khoa phu tử cho đích tử và thứ tử của nhà Mạnh thị, mang theo Nam Cung Kính Thúc cùng vào Chu thất bái kiến Lão Tử.”

Cuộc sống thời niên thiếu của Khổng Tử, Vô Tuất ngược lại không nghe Tử Cống nói quá nhiều, có lẽ vì quá bần tiện nên không muốn nhắc đến nhiều.

Chàng tiếp lời: “Ta ngược lại có biết, sau khi Chiêu Công bị Quý thị trục xuất, nước Lỗ đại loạn. Khổng Tử cũng theo Chiêu Công đến nước Tề, làm gia thần cho Cao Chiêu Tử. Ngài từng được Tề Cảnh Công triệu kiến, có ý định phong ban cho ngài ruộng đất ở Lẫm Khâu và Ni Khê, để ngài làm công thần nước Tề, nhưng lại vì ý niệm của Án Tử và Khổng Khâu không hợp mà thôi.”

“Đúng thế, sau đó nước Lỗ từ đại phu trở xuống đều tiếm vượt lễ pháp, trái với đạo chính. Cho nên Khổng Tử không làm quan, ẩn lui về biên soạn <Kinh Thi>, <Kinh Thư>, <Lễ>, <Nhạc>, đệ tử càng đông đảo, lũ lượt từ phương xa tìm đến, không ai là không nhận sự truyền thụ học nghiệp của Khổng Tử. Cho đến khi bị Dương Hổ bức ép, mới ra làm quan chức Trung Đô tể...”

Nói đến đây Tử Phục Tử nhớ tới mình từng ám chỉ Triệu Vô Tuất đừng làm bè phái của Dương Hổ, hiện nay Khổng Tử mà ông tôn sùng lại cũng nhờ phúc của Dương Hổ mới được làm ấp tể. Ông bèn vội vàng giải thích: “Khổng Tử khác với một con báo bốn con chó của Dương Hổ, là bị ép ra làm quan. Hơn nữa sau khi làm Trung Đô tể, trị lý có phương pháp, cũng là phúc của người trong nước.”

Triệu Vô Tuất lại cười mà không đáp. Ánh mắt đặt trên những lưu dân lẻ tẻ, bước chân vội vã, đang hướng về phía Trung Đô ấp.

Điều chàng nghĩ trong lòng là, Khổng Tử một mặt là đại phu được Dương Hổ cất nhắc, nghe nói còn qua lại với Phí tể Công Sơn Bất Nữu. Nhưng mặt khác, ngài lại là phu tử của gia chủ Mạnh thị và Nam Cung Kính Thúc, cũng giao du rất mật thiết với Tử Phục Hà đại diện cho nhà Mạnh thị.

Cho nên nói, đối mặt với hai thế lực này, thái độ của Khổng Tử có chút đáng suy ngẫm.

Vô Tuất thầm phỏng đoán: “Chẳng lẽ ngài ấy cũng giống như ta, đặt cược ở cả hai bên sao?”

Hình tượng đầu cơ thích ứng với thế tục này cực kỳ không khớp với hình tượng “thánh nhân” “nhân đức thủ lễ” trong ấn tượng kiếp trước của Triệu Vô Tuất, giữa ký ức và hiện thực như bị bao phủ một lớp sương mù, khiến người ta nhìn không rõ thật giả.

Cuối cùng, Triệu Vô Tuất vứt bỏ những phiền não: “Ta từng nghe Tử Cống nói một câu của Khổng Tử, phàm là thuật lấy người, xem lời nói của họ mà quan sát hành động của họ. Lời nói và sự tích của Khổng Tử ta đã nghe không ít, hiện nay phải đến Trung Đô ấp mới tận mắt nhìn thấy chính trị của Khổng Tử, mới có thể hiểu được người ấy rốt cuộc ra sao...”

Là bậc thánh hiền trong thế gian được Tử Cống và Tử Phục Hà tôn sùng, hay là “kẻ khéo léo dối trá” trong mắt Triệu Ưng!

---❊ ❖ ❊---

Tử Phục Hà thấy Vô Tuất trầm ngâm, chỉ nghĩ chàng đang suy ngẫm về học thuyết của Khổng Tử, nên cũng không nghĩ nhiều, vẫn tiếp tục huyên thuyên nói tiếp.

“Khổng Tử làm Trung Đô tể, một năm, bốn phương đều bắt chước theo, trong chiến tranh các ấp ở miền Tây bỉ đều chịu ảnh hưởng lớn, cũng chỉ có Trung Đô và Khảm ấp nơi có lăng mộ công thất nước Lỗ là được an ổn.”

Quả thực, Trung Đô ấp, ngày nay đã trở thành một ngọn hải đăng ở miền Tây bỉ nước Lỗ, thu hút những lưu dân không sống nổi hội tụ về.

Tuy nhiên điều khiến Triệu Vô Tuất có chút buồn phiền là, sự tồn tại của Trung Đô ấp cũng cấu thành một sự cạnh tranh về dòng người đối với Lẫm Khâu.

Cho nên nói, Tử Cống từng nói chàng hành sự trị quốc và Khổng Tử có chút tương đồng, điều này là thật, Vô Tuất vừa vào nước Lỗ, đã đụng độ với Khổng Tử trong phương diện lựa chọn chính trị và thu hút dân cư.

Đường dài đằng đẵng, sau đó hai người lại trò chuyện về đệ tử của Khổng Tử.

Tử Phục Hà lúc ở Khúc Phụ cũng từng ngồi dưới cửa Khổng Tử nghe giảng bài, nhưng lại không tính là môn đồ của Khổng Tử, vị thính giả không chính thức này giống như Tử Cống, là một fan cuồng của Khổng Tử.

“Sau khi Khổng Tử từ Lạc Ấp trở về nước Lỗ, đệ tử tìm đến cửa ngài ngày càng đông, thế là ngài lập tư học tại Khúc Phụ, truyền thụ Lục nghệ của quân tử: Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số.”

Thời Xuân Thu đã dần dần từ “học tại quan phủ” chuyển thành “học tại tứ di”, Tân Giáng Phán Cung nơi Triệu Vô Tuất từng theo học đã thành hư danh, trở thành nơi các con cháu quý tộc kéo bè kết phái, diễn kịch đấu tranh chính trị. Mà giáo dục công thất của các chư hầu, ấp, hương khác lại càng hoang phế không ra thể thống gì. “Nước của Chu Công” vốn xưng danh kế thừa trọn vẹn Chu lễ là nước Lỗ, Mạnh Hi Hi Tử, một trong Tam Hoàn, theo Lỗ Chiêu Công đi sứ nước Sở, lại vì học lễ không tinh mà không thể xử lý tốt các sự vụ ngoại giao.

Trong khi giáo dục quý tộc của khanh đại phu sa sút. Giáo dục tư học của sĩ nhân dân gian lại đang âm thầm trỗi dậy. Tư môn của các chư hầu quốc thậm chí các khanh đại phu đều cần sĩ phục vụ cho họ, tranh nhau nuôi sĩ. Ví dụ như Triệu Ưng nuôi hơn trăm sĩ nhân, và từ đó phát quật ra những người như Doãn Đạc, Trịnh Long, Hổ Hội.

Đường ra của sĩ ngày càng rộng, dần dần xuất hiện tầng lớp sĩ không bị ràng buộc nghiêm ngặt với huyết thống, tông pháp, mà việc bồi dưỡng “sĩ” cũng trở thành yêu cầu cấp bách, tư học liền ra đời, kẻ kiệt xuất trong đó, chính là Khổng Khâu.

Thế là sau khi Mạnh Hi Hi Tử vì không biết lễ mà cảm thấy vô cùng sỉ nhục, liền xuất hiện tình cảnh để đích tử và thứ tử tìm đến kẻ sĩ nghèo Khổng Tử để thỉnh giáo học vấn, thờ làm thầy.

“Khổng Tử giảng bài tuy có giáo vô loại, nhưng cũng chia đệ tử thành ba đẳng cấp: Tại tịch, Thăng đường, Nhập thất. Trong đó đệ tử tại tịch có gần ngàn người, đệ tử thăng đường học tập mà tinh thông Lục nghệ có vài chục người, đều là kẻ sĩ có tài năng dị biệt. Trong đó căn cứ theo sở trường khác nhau, chia thành bốn khoa: Đức hạnh, Chính sự, Ngôn ngữ.”

“Người nổi bật về đức hạnh: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung. Người giỏi xử lý chính sự: Nhiễm Hữu, Quý Lộ. Người có tài ăn nói là Tể Ngã, Tử Cống. Ngoài ra còn có không ít đệ tử văn chương bác học.”

Vô Tuất tò mò hỏi: “Dám hỏi đệ tử nhập thất có mấy người?”

“Khổng Tử từng nói: Do dã thăng đường hĩ, vị nhập ư thất dã. Tử Lộ tuy là học sinh gần gũi nhất của Khổng Tử, lại vẫn chưa nhập thất, Tử Cống cũng vậy. Hiện nay người nhập thất, duy chỉ có một mình Nhan Hồi mà thôi!”

Nếu nói đệ tử tại tịch là giáo dục phổ thông, đệ tử đăng đường là giáo dục tinh anh, thì đệ tử nhập thất, hẳn phải là người có thể tương tri với Khổng Tử mới có được vinh dự này...

Nhan Uyên, Quý Lộ là những cái tên mà Triệu Vô Tuất từng nghe nói ở kiếp trước, tên của Nhiễm Cầu thì lại xuất hiện trong một bài khóa ở thời trung học. Những người khác cũng nghe Tử Cống nói lẻ tẻ.

Chàng thầm nghĩ, người có đức hạnh xuất chúng có thể dùng làm vật phẩm cát tường thờ phụng ở triều đường, làm tấm gương cho muôn dân noi theo; người giỏi xử lý chính vụ có thể trị lý thành ấp địa phương; người có tài ăn nói làm ngoại giao hành nhân. Khác với hậu thế một chút, ở đây chỉ những người am hiểu lễ nhạc và văn hiến cổ đại, quan phủ muốn làm các loại điển lễ, không thể thiếu kiến thức phương diện này; quốc quân định ra chính sách muốn tìm căn cứ lịch sử, cũng không thể thiếu kiến thức phương diện này...

Tài năng của Tử Cống và Tử Phục Hà, Triệu Vô Tuất đều đã tận mắt chứng kiến, hai người họ có thể coi là nhân tài của một nước, Tử Cống nếu qua vài năm trưởng thành rèn giũa, có lẽ có thể trở thành nhân tài vương bá giống như Trương Mạnh Đàm! Nghĩ tới việc chư tử môn Khổng có thể khắc tên vào lịch sử, và có thể được hai người này công nhận, năng lực chắc chắn sẽ không tệ.

Cho nên Khổng Tử có một đám học sinh này phò tá, nếu ngay cả một ấp ngàn nhà cũng không trị lý tốt, vậy thì đúng là hư danh rồi.

Mặc dù mục đích ban đầu của việc Khổng Tử truyền bá tư học hẳn là ngôi trường bồi dưỡng quý tộc với mục đích đào tạo bình dân thành “sĩ”, nhưng nhìn xuyên suốt nửa đời trước của Khổng Tử, Triệu Vô Tuất mơ hồ cảm thấy danh tiếng, dưỡng vọng, lặng lẽ thu nhận đệ tử bồi dưỡng cán bộ nòng cốt của ngài đều khiến người ta khó lòng phát hiện, nhưng lại có dấu vết để lần theo.

Không biết đây là cố ý hay vô ý, nếu tất cả điều này đều có kế hoạch, vậy tâm cơ của Khổng Tử chắc không thua kém gì Lục khanh, Trần thị hiện nay, ngài có thể tỏa sáng giữa thời đại hai ngàn năm, có lẽ không phải là ngẫu nhiên.

Ngoài ra điều khiến Vô Tuất có chút bất đắc dĩ là, chàng buộc phải thừa nhận, xét về lâu dài, dàn cán bộ của Khổng Tử thậm chí hợp lý và sung túc hơn thuộc hạ của chàng nhiều. Ngay cả khi đám người Thành Hương đến nhập bọn, thuộc hạ của Triệu Vô Tuất vẫn lấy quân lại làm chủ, chỉ có Trương Mạnh Đàm, Tử Cống là có thể gánh vác một phương, những người khác đều là tài năng lệch lạc, người có dư địa phát triển cũng chỉ có lác đác vài người như Thành Đoàn, Hình Ngao.

“Ta cũng không cần phải tự ti, càng không cần vì cái danh ‘thánh nhân’ mà ngài ấy chưa có được mà lo được lo mất. Nền tảng mà hai mươi năm tư học của Khổng Tử bồi dưỡng lên, không phải là thứ mà ta trong vòng hai năm ngắn ngủi có thể đánh đồng. Tuy nhiên đợi kết thúc chuyến đi Khúc Phụ lần này, ta cũng có thể học theo Khổng Tử, đại hưng giáo dục tại lãnh địa, gián tiếp truyền bá lý niệm của ta, tất nhiên đối tượng tạm thời chỉ có thể hướng tới con cháu sĩ đại phu và quốc nhân, có chừng ba năm năm, là có thể thu hoạch được một đám nhân tài hợp ý ta rồi.”

Chàng lại nghĩ: “Không biết lần này ở Trung Đô, ngoài Khổng Tử ra còn có thể gặp được mấy người, vì Tử Cống có thể vì ta mà dụng, một số nhân tài trong môn đồ Khổng Tử, có lẽ cũng có thể chiêu mộ một hai người.”

Dẫu sao xét về thế lực, gia thế, chàng hiện tại mạnh hơn Khổng Tử không chỉ một phân nửa, nếu chư tử môn Khổng có thể làm gia thần cho các nhà khanh đại phu nước Lỗ, tự nhiên cũng có thể vì Triệu Vô Tuất mà dụng.

Triệu Vô Tuất đang cúi đầu suy nghĩ xem phải vào tay từ đâu, đoàn xe cũng dần dần tiến vào địa giới Trung Đô ấp, đúng vào lúc này, lại nhận được báo cáo của Ngu Hỉ phóng ngựa tới, cách đó mấy dặm phía trước có một nhóm người đang ẩu đả!(còn tiếp)

[Dịch từ bản hv] ChuongId:271
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.