Bái học Lão Tử và Trang Tử, chúng ta sẽ có tầm cao để vượt lên trên những cạm bẫy đã được đề cập ở trên.
Ở đây, tôi muốn dùng một vài trải nghiệm tiêu cực của bản thân để chia sẻ đôi chút cảm nhận.
Để tránh ân oán cá nhân, tôi chỉ xin nói về những cái bẫy khi giao thiệp với một vài cơ quan truyền thông.
Hơn hai mươi năm trước, khi tôi còn đang đảm nhiệm chức viện trưởng tại Thượng Hải, tôi từng dành cho một tạp chí kịch và một tờ báo văn học thứ tình cảm vượt ngoài mức thông thường. Tôi đã đồng ý với đề nghị của một vị phó viện trưởng, trích một khoản kinh phí hỗ trợ tờ tạp chí kịch đang trên đà phá sản đó, đồng thời hứa sẽ tiếp tục tài trợ lâu dài, khiến các tạp chí cùng loại khác trong nước vô cùng khó hiểu; gần như cùng lúc đó, giữa sự tranh giành quyết liệt của nhiều báo đài khác trên cả nước, tôi lại đem bài viết dài mới sáng tác mang tên "Người Thượng Hải" trao cho tờ báo văn học vốn đang trong cảnh hiu quạnh kia. Kết quả, bài viết được Thị trưởng tán dương hết lời, tạo nên một sự náo nhiệt kinh ngạc khi hầu như toàn bộ quan chức và văn nhân Thượng Hải đều tìm đọc. Hai lần bày tỏ tấm lòng ấy, đã đủ đậm đà rồi phải không?
Thế nhưng, tôi không tài nào ngờ được rằng, chỉ một thời gian ngắn sau khi tôi từ chức, mình lập tức bị tờ tạp chí kịch và tờ báo văn học nọ tấn công bằng những tin đồn thất thiệt, lại còn với thanh thế rất lớn. Những tin đồn ấy nhanh chóng bị vạch trần, thế nhưng chỉ có hai cơ quan này là không hề cải chính, không sửa sai, cũng chẳng một lời xin lỗi. Đặc biệt là tờ báo văn học kia, sau đó đã không ngừng nghỉ duy trì những đợt tấn công suốt hơn hai mươi năm trời. Chuyện này, nếu dùng logic thông thường thì vĩnh viễn không sao giải thích nổi.
Rất nhiều bạn bè trong và ngoài nước đều bảo tôi rằng, tình huống này trên thế gian chỉ có thể xảy ra ở Thượng Hải, chỉ có thể xảy ra trong giới văn hóa Thượng Hải, và chỉ có thể xảy ra ở những góc khuất suy tàn của giới văn hóa Thượng Hải ấy. Tôi không đồng tình với quan điểm này, tôi cho rằng ở đây đã xuất hiện một thứ "phản logic" sâu sắc: sự hung bạo vượt mức của họ, thực chất chính là đang báo thù cho sự đậm đà vượt mức ban đầu của tôi.
Phân tích thứ "phản logic" này, ta sẽ hiểu thêm được tầng ý nghĩa sâu xa của câu "Quân tử chi giao đạm như thủy" (Tình bạn của người quân tử nhạt như nước).
Một tình bạn đậm đà đến mức phi thường thường mang theo một "sức nặng không thể chịu đựng nổi". Đã là không thể chịu đựng mà vẫn phải gánh vác, thì theo quy luật vật lý và tâm lý, tất yếu sẽ tạo ra một sự mất cân bằng lớn, khiến con người ta không thể đứng vững.
Đối mặt với sự mất cân bằng này, cũng giống như đang đối diện với một món nợ không thể chi trả, chỉ có hai cách giải quyết: một là dùng sự phục tùng để bù đắp, hai là dùng việc trở mặt để chối bỏ.
Vốn dĩ họ đều đã định chọn cách đầu tiên, nhưng đúng lúc đó tôi lại từ chức, hoàn toàn đánh mất sự cần thiết lẫn khả năng "phục tùng", thế nên họ buộc phải chọn cách thứ hai. Dường như họ coi tôi như kẻ đối đầu, chẳng hề thừa nhận việc từng nhận được sự giúp đỡ đặc biệt từ tôi.
Từ đó tôi cuối cùng cũng hiểu ra, sự vong ân bội nghĩa nảy sinh ở đây, trước hết không phải là vấn đề đạo đức, mà là vấn đề cơ học. Nguyên nhân gây ra vấn đề cơ học này chính là do tôi, vì vậy đây là chuyện "tự làm tự chịu".
Về chuyện này, tôi cũng đành bất lực. Cách giải quyết khả dĩ là khôi phục hoặc nâng cao chức vị, dùng sự đậm đà tích cực gấp bội để đối phó với sự hung bạo tiêu cực kia. Dù đó chỉ là chuyện trong tầm tay, tôi vẫn chọn làm theo lời dạy của Lão Tử và Trang Tử, chọn đi ngược lại với sự đậm đà. Đó chính là, giống như nước, hướng về nơi thấp, hướng về phía dưới, hướng về sự yếu ớt, sự mềm mại, mà tuyệt nhiên không hề tranh giành.
Vừa "không tranh chấp" trong phương thức, lại vừa "không tranh thắng" trong mục đích.
Kết quả thì sao?
Lão Tử từng nói, nhu có thể thắng cương. Rốt cuộc tôi đã "thắng" được chưa?
Những kẻ tung tin đồn ấy, ban đầu vì sự "không tranh" của tôi mà cảm thấy an tâm, về sau lại vì sự "không tranh" của tôi mà cảm thấy bất mãn. Họ luôn chờ đợi tôi bước ra tranh biện, tranh luận, tranh chấp, còn tôi thì trước sau vẫn không tranh giành. Họ vì điều đó mà tức tối hồi lâu, khiêu khích hồi lâu, khích tướng hồi lâu, tôi vẫn cứ không tranh. Thế là, họ dần dần xì hơi, không còn kiên nhẫn, trở nên cáu bẳn. Hóa ra, thứ họ mong đợi nhất chính là sự đậm đà, thứ họ sợ hãi nhất lại là sự lạnh nhạt. Họ nâng chén rượu mạnh lên thách đấu, tôi lại tựa vào suối lạnh mà ngủ quên. Cuối cùng, họ lần lượt rút lui, tan biến vào chốn cỏ hoang.
Trải qua việc này, cuối cùng tôi cũng có được sự thấu hiểu căn bản đối với chữ "Đạm" này.
Bản chất của sự giao tiếp giữa người với người là sự thanh đạm. Nếu quá đậm đà, làm sao có thể giữ được sự độc lập của cá thể? Làm sao có thể "nhược tức nhược ly" (như gần như xa)? Làm sao có thể lưu chuyển tự do? Làm sao có thể linh hoạt thay đổi tùy thời thế?
Trong nước sạch, nếu nồng độ dưỡng chất quá cao sẽ trở thành ô nhiễm; trong mạch máu, nếu độ nhớt quá cao sẽ thành bệnh tật. Quan hệ giữa người với người cũng như vậy.
Sự "đậm đà" trong các mối quan hệ thường phần lớn được tạo ra từ sự khoa trương, trói buộc và kích động. Lúc thì nóng bỏng, cuồng hỉ, lúc lại đau khổ, phẫn nộ, thực chất đều là sự tiêu hao tiêu cực được tạo ra bởi một cái cớ tự lừa mình dối người. Những việc phê phán, đấu tranh, tranh luận, dư luận,... cũng đại khái là như vậy. Sở dĩ tôi không bao giờ ưa các chính khách, những người nổi tiếng, hay những người định hướng dư luận, cũng vì họ luôn cố tình thổi phồng "nồng độ" ấy. Nhìn suốt chiều dài lịch sử, sự khoa trương này tuy có để lại những huyền thoại về nghiệp lớn, những câu chuyện về thời thịnh thế, nhưng chủ yếu vẫn là gây ra tai họa, mà còn là vô số tai họa thực sự hiện hữu.
Khi tôi dùng đôi mắt của Lão Tử và Trang Tử để nhìn nhận sự vật xung quanh một cách thanh đạm, mọi thứ đều trở nên bình thường, tầm thường và giản đơn, ngay cả những cuộc tấn công đầy khí thế hung hăng cũng chỉ biến thành trò chơi trên sa bàn hay những con rối bị giật dây mà thôi. Cơn giận ở đâu? Nỗi hận ở đâu? Chỉ gói gọn trong một cái mỉm cười nhẹ nhàng, tựa như làn gió thổi qua khóm lau sậy mà thôi.
Từ đó có thể thấy, "Đạm như thủy" (nhạt như nước) không chỉ là thuật giao thiệp, mà còn là một thế giới quan.
Việc đời mịt mù, chẳng khác nào mực nước, nếu bị người đời tô đậm thêm thì lại mất đi trạng thái vốn có. Từ đậm đà trở về thanh đạm, chính là quay về với tự nhiên, từ đó mới đạt được sự thản nhiên.
Khi đã thanh đạm rồi, việc gì cũng có thể chấp nhận, điều gì cũng có thể thứ tha, thế nên mới có thể thốt lên rằng: "Tứ hải chi nội, giai huynh đệ dã" (Trong bốn biển đều là anh em). Vì vậy, đức tin tốt đẹp này cũng được gửi gắm nơi sự thanh đạm.
Thực ra, ngay cả "chí nghị" (tình bạn thân thiết) theo điển tích Cao Sơn Lưu Thủy cũng vô cùng thanh đạm. Một khúc đàn, gặp gỡ ngắn ngủi, rồi lại kẻ còn người mất, chẳng phải là quá thanh đạm sao? Tuy thanh đạm, nhưng không hề mất đi sự cao quý, thật vừa vặn khớp với bốn chữ: Thiên cao vân đạm (Trời cao mây nhạt).
Lời bạt: Bài viết này cùng một vài bài sau đó được tuyển chọn từ tập sách cũ mang tên "Sương lãnh trường hà" (Sương lạnh sông dài), trong đó có những bài được tôi viết lại hoàn toàn, có những bài đã qua chỉnh sửa đáng kể. Lý do tôi chọn những bài này là vì chúng bàn về "Nhân sinh chi đạo", vốn là sự chuẩn bị quan trọng cho quá trình nghiên cứu về "Quân tử chi đạo" của tôi sau này. Lý do cần chỉnh sửa là vì văn phong nguyên bản quá chậm rãi, quá cầu kỳ, đã không còn phù hợp với nhịp đọc ngày nay. Tôi không khỏi vừa sửa vừa cảm thán: chỉ mới hơn mười năm, mà dường như đã cách biệt cả một ngưỡng cửa thế kỷ.