Quân tử trọng danh.
Điều minh chứng rõ nhất cho sự coi trọng này chính là câu nói của Khổng Tử:
"Quân tử tật một thế nhi danh bất xưng yên."
("Luận Ngữ · Vệ Linh Công")
Dùng lời lẽ hiện đại mà nói: Điều khiến quân tử hối tiếc, là khi lìa đời, danh tiếng của bản thân vẫn chưa được người đời tán tụng.
Nghĩa là, "danh" chính là niệm tưởng cuối cùng của quân tử về giá trị cuộc đời, có thể gọi đó là "nỗi bận tâm tối hậu".
Dường như ai cũng rất bận tâm về điều này. Ví dụ, Tuân Tử từng nói "Danh tiếng như nhật nguyệt" ("Tuân Tử · Vương Bá"), ngay cả Mặc Tử cũng từng nói "Dùng danh dự để vang danh thiên hạ" ("Mặc Tử · Tu thân"). Mục tiêu nhân sinh mà đa số quân tử cổ đại theo đuổi chính là "Công thành, danh toại, thân thoái" (Tô Thức, "Chí Lâm"). Chữ "Danh" ấy luôn lơ lửng ổn định trên đỉnh đầu của các bậc quân tử.
Quân tử trọng danh, mục đích mỗi người mỗi khác, nhưng xét từ căn bản, chúng ta không thể quá nhấn mạnh lý do tư lợi của họ. Nếu cho rằng trọng danh tức là trọng cái tôi cá nhân, thì quả thực là "lấy lòng tiểu nhân đo lòng quân tử" vậy.
Trong lòng Khổng Tử và những bậc quân tử khác, danh dự là sự thị phạm mang tính cá nhân để xây dựng trật tự tinh thần xã hội. Danh dự không chỉ bao hàm quy phạm hành vi đạo đức của một con người, mà còn bao hàm khả năng quy phạm ấy được quần chúng chấp nhận và ngưỡng vọng. Vì thế, danh dự là một loại giáo trình xã hội hóa mang hơi thở sự sống, vừa có tính khai ngộ vừa có sức lan tỏa. Một bậc quân tử có thể khiến bản thân trở thành thứ giáo trình mang tính sống động ấy, vừa là vinh diệu, cũng vừa là trách nhiệm. Một xã hội có thể bảo vệ được một nhóm quân tử sở hữu danh dự, đó là một nền văn minh, cũng là một sự cao quý.
Theo tôi, xã hội loài người từ khu rừng hoang dã tiến bước tới bình nguyên văn minh, thay đổi lớn nhất chính là biết ngẩng đầu nhìn lên. Một là ngẩng nhìn thiên địa thần linh, hai là ngẩng nhìn anh kiệt nhân gian. Con người dựng nên totem cho kiểu ngẩng nhìn thứ nhất, và dựng nên danh dự cho kiểu ngẩng nhìn thứ hai.
Cả hai kiểu ngẩng nhìn ấy đều là nấc thang để nhân loại thực hiện sự thăng hoa tinh thần. Điểm khác biệt là, nấc thang totem lạnh lẽo khó phạm, còn nấc thang danh dự lại cực kỳ dễ hủy hoại.
Do đó, việc danh dự thoạt nhìn chỉ liên quan đến từng cá nhân nổi tiếng, nhưng thực chất lại liên quan đến cấp độ văn minh của toàn bộ lịch sử xã hội.
Một xã hội, một đoạn lịch sử, bản thân nó cũng có vấn đề về danh dự. Danh dự của xã hội và lịch sử phụ thuộc vào việc chúng xử trí định hướng danh dự giữa người với người ra sao. Chúng ban danh dự cho kiểu nhân vật nào, thì bản thân chúng cũng sở hữu thứ danh dự tương xứng ấy. Chúng để cho kiểu nhân vật nào mất đi danh dự, thì đẳng cấp danh dự của chính chúng cũng theo đó mà thay đổi.
Tại sao thời đại Chư tử bách gia luôn khiến người ta ngưỡng mộ? Bởi thời đại đó đã trao cho những nhân vật như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử một danh dự rất cao. Tương tự, danh dự của Hy Lạp cổ đại tương ứng với danh dự mà thời đại đó trao cho Sophocles, Herodotus, Plato, Aristotle, và nơi mà nó đánh mất danh dự chính là khi nó cố gắng khiến Socrates đánh mất danh dự. Khác với Trung Quốc và Hy Lạp, văn minh Babylon và văn minh Ai Cập tập trung danh dự vào một số nhân vật chính trị, rất hiếm khi tìm ra được tên tuổi của các bậc trí giả văn hóa. Do đó, hướng đi sau này của chúng cũng dễ dàng đánh mất đi sự tôn nghiêm văn hóa vốn có.
Trong lịch sử dài đằng đẵng của Trung Quốc, ngoài thời đại Chư tử bách gia ra, thì đời Đường có thanh danh lịch sử tốt đẹp nhất, điều này liên quan đến sự hợp lý trong "phân phối danh dự" của triều đại đó. Ngay cả hoàng thất cũng sùng kính các vị đại sư tôn giáo, thi sĩ trứ danh, thư pháp gia, những con người này thời đó sở hữu thanh danh cực cao, cho nên triều Đường cũng sở hữu thanh danh cực cao trong lịch sử. So sánh mà nói, triều Hán quá chuộng võ, danh dự xã hội chủ yếu tập trung về phía thống soái, tướng quân, tuy cũng khiến người ta phấn chấn, nhưng quân sự so với văn hóa, xét về mặt thời gian rốt cuộc vẫn dễ tàn phai. Do đó, vinh dự tổng thể của triều Đường cũng cao hơn triều Hán.
Đáng suy ngẫm nhất là triều Tống, lại có lúc giao một phần lớn chức trách quản lý hành chính của quốc gia cho một thế hệ đại sư văn hóa, như Phạm Trọng Yêm, Vương An Thạch, Tư Mã Quang, v.v., hiếm thấy khi đặt chồng chéo danh tiếng hành chính đỉnh cao và danh tiếng văn hóa đỉnh cao lại với nhau. Chính kiến giữa họ không hề thống nhất, hơn nữa cũng lần lượt bị biếm trích, nhưng dù nhìn từ góc độ nào, họ đều là bậc quân tử. Ngay cả khi đối lập, cũng là cuộc tranh đấu của bậc quân tử. Do đó, họ đã giúp cho thời gian và không gian mà họ hiện diện giữ được thanh danh cao nhã.
Hai triều Minh - Thanh thực thi chế độ chuyên chế tư tưởng và khủng bố văn hóa, tức "văn tự ngục", thanh danh đáng có của các bậc quân tử bị tước đoạt tàn khốc, thay vào đó là "thời danh" của lũ văn nhân dung tục, nô tài văn hóa và đám tay sai văn hóa. Phần lớn thanh danh đều đổ dồn cho hoàng tộc cung đình và chế độ quan liêu. Cho dù là văn nhân có chút dáng vẻ trong đó, cũng nhất định phải móc nối với chế độ quan liêu mới được xác nhận danh tiếng. Nhưng xét nghiêm ngặt mà nói, đây đã chẳng còn là thanh danh văn hóa và thanh danh quân tử thuần túy nữa. Chính bầu không khí kéo dài hàng trăm năm này đã gây ra sự trượt dốc tổng thể của văn minh Trung Hoa.
Nghĩa là, do sự sai lệch và đảo lộn trong "phân phối danh dự" ở hai triều Minh - Thanh, Trung Quốc nhìn chung cũng bị vấy bẩn danh dự, rất khó sánh được với hai triều Đường, Tống. Mặc dù về quốc lực và cương thổ, hai triều Minh - Thanh mạnh hơn, lớn hơn hai triều Đường, Tống.
Từ đó có thể thấy, sự chính đáng của danh dự, trực tiếp chạm đến quốc bản.
Nếu nói quốc lực và cương thổ của một thời đại chưa chắc đã tỉ lệ thuận với danh dự, thì đối với cá nhân lại càng như vậy. Sức mạnh và quy mô không liên quan gì đến danh dự.
Dù bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu, người ta vẫn thường gặp sự sai lệch và đảo lộn trong "phân phối danh dự". Vấn đề này thể hiện càng mãnh liệt và đau đớn hơn ở những bậc quân tử Trung Quốc.
Đó là bởi, thanh danh của quân tử, ngoài tính vinh diệu ra, còn mang theo tính bài tha và tính mong manh.