Chắc chắn tôi đã cho bà Novotny từ khóa lý tưởng để rốt cục có dịp nghĩ đến những chuyện vui vẻ, đó là lúc tôi nói:
“Tôi được biết Romana vẽ rất xuất sắc”.
“Vâng, cháu nó vẽ đẹp lắm. Để tôi thử dỗ cháu cho xem vài bức”, bà đáp. Ngay trong khi bà nói câu ấy, tôi chợt nhận ra Manuel không ở bên cạnh mà biến đâu mất tăm. Bà Novotny đứng dậy, nhón chân lại gần một cánh cửa khép hờ, rón rén mở ra, bà chựng lại khá sửng sốt, thì thào về phía tôi, “Ông nhìn kìa!”
Cảnh tượng như tranh. Mặt đất rải la liệt các tờ tranh trong căn phòng hầu như chỉ có giường ngủ. Manuel bò lổm ngổm, ngắm nghía hết tờ này sang tờ khác. Romana ngồi trên cạnh giường, một cô bé mảnh khảnh, nhợt nhạt, tóc màu đồng đỏ, mang cặp kính vuông. Có vẻ như cô bé không quyết định nên quan sát hay lờ Manuel đi. Với tôi thì quyết định đó rõ hơn: cô lờ tôi đi, tuy nhiên tôi không vận vào mình. Tôi đã quen với chuyện nhiều người giật mình khi thấy tôi lần đầu, nhất là trẻ con.
“Cháu làm thế nào vậy?” bà Novotny hỏi bằng giọng sư phạm ngọt ngào, nghe biết ngay nghề cũ của bà là cô nuôi dạy trẻ.
“Làm gì thế nào cơ ạ?” Manuel đáp như tôi đoán trước.
“Để Romana cho cháu xem tranh”.
“Cháu hỏi bạn ấy có cho cháu xem tranh vẽ súc vật không”.
“Và Romana nói có?”
“Không, bạn ấy không nói có, nhưng cũng chẳng nói không, bạn ấy không nói gì và thế là cháu cứ thế mở cặp ra. Và các bác thấy đấy, bạn ấy không phản đối”. Tôi cười ngượng nghịu như một ông bố đang nghĩ: Thế đấy, trẻ con là thế, cứ quay mặt đi, để mặc chúng nó một phút là…
“Bác nhìn này, bác Geri, ngầu chưa. Toàn là lai chéo giữa các giống vật nhỏ và khổng lồ, chẳng hạn nửa nhện nửa lợn lòi. Hay đây này, cực đỉnh nhé, đầu là đầu hổ, chân khỉ, và thân là của… Con gì đây, chuột à?” Manuel hỏi nghệ sĩ đang nửa chứng kiến nửa vắng mặt.
“Cầy hương” Romana nói. Có thể coi đó là phản xạ đầu tiên của cô bé. Khởi đầu tốt đấy. Cô bé không hẳn ở trạng thái bi quan, tôi nghĩ bụng.
“Cháu nó có trí nhớ như máy ảnh, xem hình động vật là ghi nhớ tất, cả đến các chi tiết nhỏ nhất. Đôi khi cháu hợp nhất bốn, năm con vật trong một hình”, bà Novotny giải thích.
Các bức tranh thực sự gây ấn tượng theo một kiểu riêng, nhắc tôi liên tưởng đôi chút đến trường phái hội họa hiện thực tưởng tượng với những tên tuổi như Hutter, Hausner hay Brauer, xa nữa là sự sáng tác phiêu diêu khi phê ma túy. Tuy nhiên, có hay đến mấy thì tôi cũng sẽ không treo tranh loại này vào phòng ngủ - các viễn cảnh rùng rợn thì tôi có thừa, chẳng cần thêm gợi ý trên tường.
“Ngầu thật, giá mà có được khả năng này”, Manuel nói, không hề với Romana mà với chính mình. Dù vậy cô bé vẫn tỏ ra sung sướng. Cô bò trên giường xuống, cúi nhặt một tấm giữa các tranh dưới sàn và ấn vào tay Manuel.
“Ối, thật á, quái vật gì thế này?”
“Con báo lai cá kiếm lai rái cá”.
“Cho mình chụp lại nhé? Sẽ đăng báo, đúng không, bác Geri? Có thể nó sẽ làm bạn nổi tiếng ấy chứ”, phóng viên trưởng tự phong nhận định.
“Ừ, muốn chụp thì chụp”, Romana lầm bầm. Thể hiện nỗi phấn khích có lẽ không phải sở trường của Romana. Nhưng thực sự không thể nhận ra sự khác biệt nào đáng kể giữa người tự kỷ và không tự kỷ khi quan sát hai đứa trẻ. Tất nhiên tôi giấu kín ý nghĩ đó, tôi không muốn phát ngôn bừa bãi về y học. Quan trọng là chúng tôi đã đem chút gió mát và nhất là chút ánh sáng vào căn phòng u ám này.