Chủ nhật tôi đi thăm mẹ. Tôi mang đến một bó lay-ơn lấm tấm nhiều màu, như trong tranh của Monet, là loại hoa mẹ tôi thích nhất. Thêm hai gói cà phê nữa, mang tính biểu tượng và có nghĩa là: mẹ nhìn xem, con trai mẹ ưa cà phê lành mạnh và làm cho đầu óc sảng khoái, thay vì vang hay Whiskey hoặc mấy thứ đồ uống độc hại khác. Buồn cười là chỉ ở bên mẹ tôi mới cảm thấy gì đó như cắn rứt lương tâm vì cái tật uống rượu khá nặng của mình. Dĩ nhiên không thể sánh với bố tôi đã qua đời trước đây bảy năm vì hậu quả của chứng xơ gan. Danh chính ngôn thuận thì nguyên nhân là virus, nhưng ai từng quen bố tôi thì biết nguồn dinh dưỡng của ông trong những năm cùng tháng tận sau khi về hưu non ở Cục đường sắt liên bang chủ yếu ở thể lỏng, khiến mẹ tôi vô cùng khổ sở, tuy bà không để lộ cho bên ngoài biết nhưng chính vì thế càng khổ hơn. Nhưng mẹ không muốn chất thêm gánh nặng lên vai tôi.
Mỗi chuyến thăm mẹ đều nặng cảm xúc. Hai chúng tôi rất gắn bó với nhau và người này biết rõ tâm thế của người kia. Tôi biết mẹ tôi cô đơn khủng khiếp. Bà biết tôi sống bình thản trên con dốc đi xuống. Nhưng trước mặt nhau chúng tôi không khi nào thú nhận công khai, điều đó làm cho các cuộc gặp gỡ hết sức mệt mỏi.
Cả lần này chúng tôi lại cũng thi nhau nói những lời lạc quan giả tạo có mục đích.
“Các chỉ số máu của mẹ thế nào?”
“Tốt lên nhiều, tốt lên nhiều, bác sĩ nói thế. Con bé Florentina thế nào?”
“Nó thì nhất rồi, không phải là con bé nữa, gần trưởng thành rồi mẹ ạ. À, mẹ này, mẹ sống một mình có ổn không?”
“Ồ, không phải lo cho mẹ, mẹ có nhiều bà bạn hàng xóm, họ ghé qua suốt. Này Geri, công việc ra sao? Con có bận không?”
“Bận ạ, dạo này nhiều việc lắm. Nhưng con vẫn nói thà quá nhiều việc còn hơn quá ít”.
Đại khái cứ thế cả buổi. Cười gượng cả buổi làm tôi bị chuột rút ở hai bên mép, có lẽ mẹ tôi cũng thế. Nhưng hai chúng tôi chẳng thể làm gì khác là khoe cho nhau xem cuộc đời viên mãn.
Tôi thoáng nghĩ, có nên kể cho mẹ nghe về Manuel, nhưng có lẽ còn quá sớm hoặc mười bốn năm quá muộn, tùy cách nhìn. Có khi lại là một gánh nặng cho mẹ tôi khi bất ngờ làm bà lần nữa mà không được tận tâm làm bà, điều bà luôn thầm mong.
Thế là chúng tôi chuyện trò về vụ quyên tiền mà mẹ tôi cũng nghe phong thanh và khiến bà rất ấn tượng, tất nhiên. Lẽ ra tôi cũng thích kể rằng có thể nói tôi mới là khởi nguồn của chuỗi việc thiện ấy, nhưng thế thì lại lộ ra tôi làm việc ở Everyday nhiều năm nay, chuyên mục Thập Cẩm và xử lý những lá thư nhố nhăng ngớ ngẩn của bạn đọc. Nói chung mẹ tôi vốn chịu được sự thật, nhưng sự thật này có lẽ không đáng để bà phải bận óc.
“Quả là một con người tuyệt diệu”, bà nói. Riêng ý nghĩ đó là đủ để khai thông tuyến lệ trong mắt bà. Tôi rất phục ở chỗ không bao giờ mẹ tôi khóc vì tự thương hại mình, mà chỉ khi tỏ lòng phân ưu. Bà là ví dụ điển hình cho người không khi nào nghĩ đến mình, chỉ nghĩ đến người khác, luôn chỉ biết cho chứ không nhận. Những người đó có một vấn đề, đó là kho dự trữ những gì họ cho đi sẽ cạn kiệt vào lúc nào đó, đơn giản vì họ không nhận vào. Trong thời gian ngắn nhưng có lẽ là thời gian đẹp nhất của tôi trên cương vị phụ trách mục văn hóa của tờ Rundschau, đã có lần tôi dành hẳn một phụ bản cho chủ đề này, Cho và Nhận, thậm chí chúng tôi còn tổ chức hẳn một hội thảo.
“Người hỗ trợ kỳ bí này có lẽ đã nhận được nhiều trong đời, và bây giờ muốn trả lại đôi chút”, tôi nói, hoàn toàn ý thức rằng mình đưa ra một điều thông thái mà ai cũng biết cả, nhưng tôi đang tìm cách nào đó ai ủi mẹ, vì mẹ chẳng còn gì để cho đi nữa.
“Ừ, nhưng vẫn là điều tuyệt vời, đúng không Geri, khi ông ta làm việc ấy?” mẹ tôi khăng khăng ý mình.
“Đúng quá, tuyệt vời quá, mẹ ạ. Tuyệt diệu nhất là ông ta làm việc đó ẩn danh, vì điều đó bất thường một cách tuyệt vời”, tôi đáp.