Edda Bằng Thơ

Lượt đọc: 203 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Nói Đầu

❊ ❊ ❊

Bài thơ Rigsthula không nằm trong hai bộ thủ bản chính. Bản thảo duy nhất chứa đựng nó là cái gọi là Codex Wormanius, một tập bản thảo thuộc về Edda văn xuôi của Snorri. Bài thơ xuất hiện ở trang cuối cùng của bản thảo này, ngặt nỗi nó lại không hoàn chỉnh, và do đó phần cuối của bài thơ bị thiếu. Bản thân trong Codex Wormanius, bài thơ không có tựa đề, nhưng một mảnh da thuộc rách nát đi kèm với nó đã gọi bài thơ là Rigsthula. Một số bản thảo giấy muộn hơn lại đặt tựa cho nó là Rigsmol.

Rigsthula thực chất không giống bất cứ tác phẩm nào khác mà các biên tập viên từng đồng thuận đưa vào cái gọi là Edda. Đây dứt khoát là một bài thơ mang tính văn hóa xã hội, giải thích trên nền tảng thần thoại về nguồn gốc của các tầng lớp khác nhau trong xã hội thời sơ khai: nô lệ, nông dân và chiến binh. Cuối cùng, từ tầng lớp chiến binh lại xuất hiện một nhân vật được định mệnh sắp đặt để trở thành vua, và nhờ thế, toàn bộ bài thơ là một khúc ca ca ngợi vương quyền. Chỉ riêng thực tế này cũng đủ để cho thấy Rigsthula không được sáng tác ở Iceland, nơi mà trong nhiều thế kỷ, các vị vua luôn bị nhìn nhận với thái độ phản đối sâu sắc.

Rigsthula không chỉ ca ngợi vương quyền mà còn mang nhiều dấu ấn của một bài thơ được sáng tác để tôn vinh một vị vua cụ thể. Bản thảo bị đứt đoạn ở một điểm vô cùng bực bội, ngay khi mối liên hệ giữa nhân vật thần thoại “Kon trẻ” (Konr ungr, konungr, nghĩa là “vua”; nhưng hãy xem khổ 44, chú thích) và vị quân vương đang được nhắc đến sắp sửa được xác lập. Do đặc thù của các cộng đồng người Na Uy định cư ở Iceland, Ireland và các đảo phía tây nói chung, việc tìm kiếm một vị vua cụ thể sẽ dẫn về hoặc là Na Uy hoặc là Đan Mạch; bất chấp những lập luận do Edzardi, Vigfusson, Powell cùng những người khác đưa ra, có vẻ cực kỳ khó có khả năng một bài thơ như vậy lại được sinh ra ở một nơi nào khác ngoài lục địa, vùng đất mà vương quyền Scandinavia phát triển thịnh vượng nhất. Lập luận của Finnur Jonsson cho rằng bài thơ xuất phát từ Na Uy, với Harald Tóc Vàng là vị vua có thể được nhắc đến, kém ấn tượng hơn rất nhiều so với màn chứng minh đầy tài tình của Mogk rằng rất có thể bài thơ được sáng tác ở Đan Mạch để vinh danh Gorm Già hoặc Harald Răng Xanh. Chứng cứ của ông chủ yếu dựa trên dữ liệu từ khổ 49, và được tóm tắt trong phần chú thích của khổ thơ đó.

Tuy nhiên, nhà thơ chắc chắn không phải là người Đan Mạch, mà có lẽ là một ca sĩ lưu vong người Na Uy, người có thể từng đặt chân đến tá túc ở hàng tá mái nhà và rõ ràng từng dành nhiều thời gian ở một vùng đảo phía tây nào đó nơi người Celt cư ngụ là chính. Mức độ ảnh hưởng của người Celt đối với các bài thơ Edda nói chung là một vấn đề gây tranh cãi gay gắt. Chẳng hạn, Powell nhận vơ hầu hết các bài thơ là của “Các đảo phía tây” và quy gần như mọi phẩm chất tốt đẹp của chúng cho ảnh hưởng của người Celt. Mà không cần đi sâu vào chi tiết của cuộc tranh luận tại đây, có thể nói rằng trọng lượng ý kiến từ các bậc uy quyền, dẫu nhận thức rõ những dấu vết ảnh hưởng của người Celt trong các bài thơ, lại phản đối quan điểm này; sự tiếp xúc giữa những người Na Uy lang thang từ Na Uy lẫn Iceland với người Celt ở Ireland và “Các đảo phía tây”, đặc biệt là quần đảo Orkney, vốn dĩ sâu rộng đến mức việc phỏng đoán một cội nguồn Celtic thực sự cho các bài thơ là điều hoàn toàn thừa thãi.

Trong trường hợp của bài Rigsthula, nhà thơ chắc chắn không chỉ nhặt nhạnh dăm ba mảnh tiếng Celt (bản thân cái tên Rig gần như chắc chắn có gốc từ tiếng Celt, và có nhiều từ tiếng Celt khác được sử dụng), mà còn tiếp thu được phần nào tinh thần văn chương của người Celt. Điều này giải thích tính chất văn hóa của bài thơ, vốn hoàn toàn xa lạ với thơ ca Na Uy nói chung. Mặt khác, phong cách chung của tác phẩm vẫn mang đậm chất Na Uy một cách mạnh mẽ, và do đó, lời giải thích rằng bài thơ được sáng tác bởi một nhà thơ lưu động người Na Uy từng sống một thời gian ở các hòn đảo Celtic và đang có chuyến ghé thăm triều đình của một vị vua Đan Mạch tỏ ra hoàn toàn phù hợp với các sự kiện có thể kiểm chứng. Do đạo Cơ đốc được truyền bá vào Đan Mạch khoảng năm 960, Rigsthula không có khả năng được sáng tác muộn hơn thời điểm đó là bao, và có lẽ thuộc về nửa đầu thế kỷ thứ mười. Gorm Già qua đời khoảng năm 935, và kế vị ông là Harald Răng Xanh, người qua đời khoảng năm 985.

Nhà chú giải thế kỷ XIV (hoặc cuối thế kỷ XIII) đồng nhất Rig với Heimdall, nhưng hoàn toàn không có gì trong chính bài thơ, và rất ít thứ ở bất kỳ đâu khác, có thể chứng minh cho điều này; có vẻ như nhà thơ đã nghĩ đến Othin chứ không phải Heimdall, với mục đích truy nguyên nguồn gốc của vương quyền từ vị thần tối cao. Các bằng chứng liên quan đến sự đồng nhất này được tóm tắt ngắn gọn trong phần chú thích về đoạn văn xuôi mở đầu, nhưng vấn đề này liên quan đến những bài toán thần thoại phức tạp và hóc búa, và từ rất sớm, địa vị của Heimdall đã khiến tư duy người Na Uy không khỏi bối rối.

[Contents]

Người ta kể trong những chuyện cổ rằng có một vị thần tên là Heimdall, đã đi dọc theo một bờ biển nọ, rồi tới một ngôi nhà, nơi ông tự gọi mình là Rig. Căn cứ theo những câu chuyện ấy là bài thơ sau đây:

1. Người ta kể ngày xưa có vị thần,

Đi dọc theo những lối đi xanh ngát,

Thông thái và già nua, hùng dũng vững vàng,

Rig bước đi với sải chân mạnh mẽ.

. . . . . . . . . | . . . . . . . . .

2. Ông tiến bước trên con đường giữa,

Tới một ngôi nhà, có cánh cửa trên khung;

Bước vào trong, trên sàn nhà có đống lửa,

Hai kẻ đầu bạc ngồi bên bếp sưởi,

Ai và Edda, mặc trang phục cổ xưa.

3. Rig biết rõ những lời khôn ngoan để cất lên,

Chẳng mấy chốc ông ngồi giữa căn phòng,

Và hai bên ông là những chủ nhân.

4. Edda mang ra một ổ bánh mì,

Nặng trĩu, dày cộp và trương phềnh vỏ trấu;

Bà bày thức ăn lên bàn,

Và trong bát có canh dùng bữa.

(Thịt bê luộc là món ngon nhất.)

5. Rig biết rõ những lời khôn ngoan để cất lên,

Từ chỗ đó ông đứng dậy, chuẩn bị đi ngủ;

Chẳng mấy chốc ông nằm xuống giường,

Và hai bên ông là những chủ nhân.

6. Cứ như thế ông ở đó suốt ba đêm,

Rồi tiếp tục bước đi trên con đường giữa,

Và chẳng mấy chốc chín tháng trôi qua.

7. Edda sinh hạ một người con trai, họ rưới nước lên người cậu,

Họ lấy vải trùm lấy mái tóc đen tuyền;

Họ đặt tên cậu là Thræll, . . . . . . . . .

8. Làn da trên đôi tay cậu nhăn nheo và thô ráp,

Các khớp xương sần sùi, . . . . . . . . .

Ngón tay dày cộp, khuôn mặt khó coi,

Tấm lưng còng vẹo, gót chân to bè.

9. Cậu bắt đầu lớn lên và thêm phần mạnh mẽ,

Chẳng mấy chốc cậu biết tận dụng sức lực của mình;

Cậu dùng vỏ cây bện thành dây, khiêng vác những gánh nặng,

Suốt cả ngày mang củi về nhà.

10. Một người bước đến nhà họ, chân vòng kiềng,

Bàn chân lấm bẩn, đôi tay rám nắng,

Chiếc mũi tẹt; tên cô ta là Thir.

11. Chẳng mấy chốc cô ta ngồi vào giữa phòng,

Ngồi cạnh cô ta là con trai của chủ nhà;

Cả hai thì thầm và chuẩn bị giường chiếu,

Thræll và Thir, cho đến khi ngày tàn.

12. Họ sinh con đẻ cái, sống đời hạnh phúc,

Fjosnir và Klur là tên họ, theo tôi nghĩ,

Hreim và Kleggi, Kefsir, Fulnir,

Drumb, Digraldi, Drott và Leggjaldi,

Lut và Hosvir; họ chăm sóc nhà cửa,

Bón phân trên đồng, canh giữ bầy heo,

Chăm sóc bầy dê và đào than bùn.

13. Họ có những cô con gái: Drumba và Kumba,

Ökkvinkalfa, Arinnefja,

Ysja và Ambott, Eikintjasna,

Totrughypja và Tronubeina;

Và từ đó sinh ra dòng giống nô lệ.

14. Rig tiến bước, con đường ông đi thẳng tắp,

Đến một lâu đài, có cánh cửa buông lửng;

Bước vào trong, trên sàn nhà có đống lửa:

Afi và Amma làm chủ ngôi nhà.

15. Cả hai người ngồi đó, làm việc của mình:

Người chồng đẽo gỗ làm xà cửi;

Bộ râu được tỉa tóm, trước trán vắt lọn tóc xoăn,

Y phục vừa vặn; trong góc phòng có chiếc rương.

16. Người vợ ngồi tay cầm con thoi,

Làm việc bên khung cửi với hai tay dang rộng;

Trên đầu nàng quấn dải băng, ngực mặc áo lót;

Trên vai nàng có chiếc khăn choàng cài trâm.

17. Rig biết rõ những lời khôn ngoan để cất lên,

Chẳng mấy chốc ông ngồi giữa căn phòng,

Và hai bên ông là những chủ nhân.

18. Bấy giờ Amma lấy ra . . . . . . . . .

Bà dọn những chiếc bình đầy ắp thức ăn,

Thịt bê luộc là món ngon nhất.

19. Rig biết rõ những lời khôn ngoan để cất lên,

Ông đứng dậy khỏi bàn, chuẩn bị đi ngủ;

Chẳng mấy chốc ông nằm xuống giường,

Và hai bên ông là những chủ nhân.

20. Cứ như thế ông ở đó suốt ba đêm,

Rồi tiếp tục bước đi trên con đường giữa,

Và chẳng mấy chốc chín tháng trôi qua.

21. Amma sinh hạ một người con trai, họ rưới nước lên người cậu,

Họ đặt tên cậu là Karl; bà bọc cậu trong tấm vải,

Cậu có khuôn mặt hồng hào và đôi mắt sáng rực.

22. Cậu bắt đầu lớn lên và thêm phần mạnh mẽ,

Cậu điều khiển bò đực, chuẩn bị cày bừa,

Dựng nhà cửa, làm kho lứa,

Đóng xe ngựa và điều khiển chiếc cày.

23. Họ rước về nhà người vợ cho Karl,

Nàng mặc đồ da dê, tay mang chùm chìa khóa;

Snör là tên nàng, nàng ngồi sau tấm mạng che mặt;

Họ chuẩn bị nhà cửa, trao nhau nhẫn cưới,

Trang hoàng giường lót và dựng nên tổ ấm.

24. Họ sinh con trai, sống đời hạnh phúc:

Hal và Dreng, Holth, Thegn và Smith,

Breith và Bondi, Bundinskeggi,

Bui và Boddi, Brattskegg và Segg.

25. Họ có những cô con gái, và tên họ ở đây:

Snot, Bruth, Svanni, Svarri, Sprakki,

Fljoth, Sprund và Vif, Feima, Ristil:

Và từ đó sinh ra dòng giống nông dân tự do.

26. Từ đó Rig đi tiếp, con đường ông đi thẳng tắp,

Ông nhìn thấy một lâu đài, các cửa quay về hướng nam;

Cổng mở toang, trên các trụ có vòng khuyên,

Rồi ông bước vào; sàn nhà được rải lớp lót.

27. Bên trong, hai người đắm chìm trong ánh mắt nhau,

Fathir và Mothir, và đùa nghịch với những ngón tay;

Chủ nhà ngồi đó, uốn dây cung,

Ông chế tác thân tên và đẽo gọt cung.

28. Người phu nhân ngồi ngắm nhìn tay áo của mình,

Bà vuốt phẳng vải vức, căn chỉnh cổ tay áo;

Chiếc mũ rực rỡ, trước ngực cài những chiếc trâm,

Tà áo rộng thùng thình, chiếc váy màu xanh lam,

Lông mày bà rạng rỡ, ngực áo tỏa sáng ngời,

Cổ bà trắng ngần hơn cả tuyết mới rơi.

29. Rig biết rõ những lời khôn ngoan để cất lên,

Chẳng mấy chốc ông ngồi giữa căn phòng,

Và hai bên ông là những chủ nhân.

30. Bấy giờ Mothir mang ra một tấm vải thêu,

Bằng vải lanh sáng loáng, bà phủ lên bàn;

Rồi bà lấy những ổ bánh mì mỏng manh,

Và đặt chúng lên khăn, trắng tinh màu lúa mì.

31. Sau đó bà mang ra những chiếc bình đầy ắp,

Được bọc bạc, dọn lên trước mặt họ,

Thịt nướng xém vàng và chim quay chín tới;

Trong bình có rượu, những chiếc cốc bằng kim loại quý,

Cứ thế họ uống và trò chuyện đến tận khi ngày tàn.

32. Rig biết rõ những lời khôn ngoan để cất lên,

Chẳng mấy chốc ông đứng dậy, chuẩn bị đi ngủ;

Thế là ông nằm xuống giường,

Và hai bên ông là những chủ nhân.

33. Cứ như thế ông ở đó suốt ba đêm,

Rồi tiếp tục bước đi trên con đường giữa,

Và chẳng mấy chốc chín tháng trôi qua.

34. Mothir sinh hạ một người con trai, họ bọc cậu trong lụa là,

Họ rưới nước lên người cậu, cậu chính là Jarl;

Tóc cậu vàng óng, đôi má rạng ngời,

Đôi mắt rực sáng của cậu hung ác tựa loài rắn.

35. Jarl bắt đầu lớn lên trong ngôi nhà,

Cậu giương khiên, uốn dây cung,

Bắn cung và đẽo gọt thân tên,

Bắn ra những mũi tên, vung cao ngọn giáo,

Cưỡi ngựa và thả chó săn,

Sử dụng gươm kiếm và bơi lội qua những dòng sông.

36. Rig rảo bước thẳng từ lùm cây ra,

Rig rảo bước đến và dạy cậu nhữngrune;

Ông gọi tên cậu, nhận cậu làm con,

Và bảo cậu giữ lấy gia tài rộng lớn,

Gia tài rộng lớn là những mái nhà xưa.

37. . . . . . . . . . | . . . . . . . . .

Cậu phóng ngựa phi qua khu rừng tối,

Vượt qua những vách đá băng giá, cho đến khi tìm thấy một lâu đài.

38. Cậu vung ngọn giáo, giương cao chiếc khiên,

Thúc mạnh vào ngựa, vung gươm chém xuống;

Khơi mào chiến tranh, nhuộm đỏ chiến trường,

Hạ sát các chiến binh và giành lấy đất đai.

39. Chẳng bao lâu cậu nắm giữ mười tám lâu đài,

Thu vén của cải và ban phát cho tất cả,

Đá quý cùng châu báu và những tuấn mã thon gọn,

Cậu trao tặng nhẫn và chia sẻ những vòng tay.

40. Những sứ giả của cậu bước đi trên những lối đi ẩm ướt,

Và đến lâu đài nơi Hersir ngự trị;

Con gái ông xinh đẹp với những ngón tay thon thả,

Nàng thiếu nữ ấy là Erna thông thái.

41. Họ cầu hôn nàng và rước nàng về nhà,

Được kết hôn với Jarl, nàng đội khăn che mặt;

Họ sống bên nhau, niềm vui ngập tràn,

Họ sinh con đẻ cái và sống đời hạnh phúc.

42. Bur là con trai trưởng, tiếp đến là Barn,

Joth và Athal, Arfi, Mog,

Nith và Svein, chẳng mấy chốc họ bắt đầu—

Sun và Nithjung—vui đùa và bơi lội;

Kund là một người, và em út là Kon.

43. Các con trai của Jarl lớn lên nhanh chóng,

Họ thuần hóa thú dữ, gò lại những chiếc khiên tròn,

Chế tác thân tên và vung cao ngọn giáo.

44. Nhưng Kon Trẻ đã học cách sử dụng những rune,

Những rune trường tồn, những rune của sự sống;

Chẳng mấy chốc chàng có thể bảo vệ các chiến binh,

Làm cùn lưỡi kiếm và trấn tĩnh những con sóng dữ.

45. Chàng học được tiếng chim muông, có thể làm dịu ngọn lửa,

Trấn an tâm trí và xoa dịu muộn phiền;

. . . . . . . . . | . . . . . . . . .

Sức mạnh và uy lực của gấp đôi bốn người.

46. Chàng sớm chia sẻ những rune với Rig-Jarl,

Chàng xảo quyệt hơn và trí tuệ hơn hẳn;

Chàng tìm kiếm lẽ phải và chẳng mấy chốc chiếm được nó,

Được gọi là Rig và thông thạo các rune.

47. Kon Trẻ phóng ngựa qua rừng thẳm và lùm cây,

Bắn ra những mũi tên và nhử chim muông;

Bấy giờ có con quạ cất tiếng trên cành cây:

“Sao ngươi lại nhử chim chóc đến đây hỡi Kon?

48. “Tốt hơn là nên phi ngựa tiến lên,

. . . . . . . . . và tàn sát đại quân.

49. “Lâu đài của Dan và Danp thật cao quý,

Của cải của họ lớn hơn những gì ngươi thu được;

Họ rất giỏi điều khiển bánh lái,

Thử thách vũ khí và ban phát những vết thương.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.