TRÊN GIẤY TỜ, tôi là Phó phòng thanh tra, cái chức danh mà theo như lời của Shakespeare và Faulkner thì nghe rất kêu, dữ dội và đầy những thứ vốn chẳng là gì được phóng đại lên. Chức danh này phải đẩy tôi lên vị trí thứ sáu hay thứ bảy gì đó ở Sở Cảnh sát Washington. Nhưng không phải thế. Mặc dù vậy người ta vẫn trông đợi tôi xuất hiện tại hiện trường của các vụ án ở DC.
Một nhóm ba chiếc xe sơn trắng-xanh của Sở Cảnh sát đậu chẳng thành hàng lối ngay phía trước nhà 41-15 đường Benning. Một xe tải nhỏ với cửa sổ sơn đen của lực lượng khám nghiệm hiện trường đã có mặt. Một xe cứu thương cấp cứu cũng có mặt. Trên cửa sơn hàng chữ NHÀ XÁC bắt mắt.
Tại căn nhà xảy ra vụ giết người có vài chiếc xe cứu hỏa. Đám hàng xóm chuyên theo đóm ăn tàn - hầu hết là mấy gã đàn ông có ánh nhìn như ăn tươi nuốt sống phụ nữ đang lượn lờ xung quanh. Các bà già, với áo rét choàng bên ngoài bộ pyjamas hoặc váy ngủ cùng lô uốn tóc hồng và xanh trên đầu, đang đứng run rẩy trước hiên nhà vì lạnh.
Nhà liền kề là một ngôi nhà tường lợp ván cũ nát, sơn màu xanh nước biển Caribbean lòe loẹt. Một chiếc Chevette cũ với một bên cửa sổ bị vỡ và được dán lại bằng băng dính trông như thể đã bị bỏ đi trên lối dẫn vào nhà.
“Kệ mẹ nó đi. Bọn mình quay về ngủ thôi,” Sampson nói. “Tớ đã nhớ ra chuyện này rồi sẽ tiếp tục thế nào. Gần đây tớ ghét cái nghề này quá.”
“Tớ yêu công việc của mình, yêu án mạng,” tôi nói với một nụ cười giễu cợt. “Thấy chưa kìa? Có một nhân viên pháp y đã mặc bộ đồ nylon rồi. Còn có những anh bạn của đội khám nghiệm hiện trường. Và bây giờ ai đang tiến về phía bọn mình kia?”
Một viên trung úy cảnh sát da trắng mặc chiếc áo khoác dài liền mũ màu xanh pha đen có cổ lông lạch bạch bước về phía Sampson khi hai chúng tôi tiến tới ngôi nhà. Hai tay ông ta thọc vào túi để giữ ấm.
“Sampson hả? À, thanh tra Cross à?” Viên trung úy hạ phần hàm dưói xuống như người ta vẫn làm cho khỏi ù tai khi ở trên máy bay. Ông ta biết chính xác chúng tôi là ai. Ông ta biết chúng tôi là cảnh sát. Ông ta đang chế nhạo chúng tôi.
“Sao hả, ông bạn?” Sampson không thích bị người khác chế nhạo cho lắm.
“Thanh tra cao cấp Sampson,” tôi trả lời viên trung úy. “Tôi là Phó phòng Cross.”
Viên trung úy là một tay Ai Len bụng-nần-nẫn, có lẽ là kẻ còn sót lại từ thời Nội chiến. Mặt ông ta trông như chiếc bánh cưới bị bỏ mặc dưới mưa. Có vẻ như viên cảnh sát này không tin vào chiếc áo khoác vải tuýt của tôi.
“Ai cũng lạnh đến cóng hết cả mông,” ông ta khò khè. “Chỉ có thế thôi chứ sao siếc gì.”
“Có khi ông lại giảm được ít cân nhờ mấy cái mông cóng đó.” Sampson khuyên ông ta. “Có thể gọi một cú điện cho Jenny Craig[1] đấy.”
“Tiên sư bố ông,” viên trung úy nói. Thật vui khi gặp ông bạn Eddie Murphy da trắng. “Ăn miếng trả miếng siêu hạng.” Sampson cười nhăn nhở với tôi. “Cậu nghe thấy ông ấy nói gì chứ? Tiên sư bố ông?”
Cả Sampson và tôi đều to khỏe. Chúng tôi tập ở phòng thể hình nằm ở nhà thờ Thánh Anthony. Tổng cân nặng của hai chúng tôi rơi vào khoảng gần hai trăm ba mươi cân. Chúng tôi có thể uy hiếp nếu thấy cần. Trong nghề của chúng tôi, đôi khi đó là việc cần thiết.
Tôi chỉ cao một mét chín. John cao hai mét và vẫn còn cao thêm. Cậu ta luôn đeo kính râm hiệu Wayfarer. Đôi lúc bạn tôi đội một chiếc mũ Kangol rách rưới hay chiếc băng đô màu vàng. Một số người gọi cậu là “John-John” bởi cậu to lớn đến mức có thể tách ra thành hai chàng John.
Chúng tôi bước thẳng qua mặt viên trung úy về phía căn nhà xảy ra án mạng. Người ta cho rằng tầm của đội chuyên trách tinh nhuệ chúng tôi phải vượt lên trên sự đối đầu kiểu này. Đôi lúc chúng tôi cũng được như thế thật.
Vài cảnh sát mặc sắc phục đã có mặt bên trong ngồi nhà. Khoảng bốn giờ ba mươi, một người hàng xóm thấy lo ngại đã gọi điện cho đồn cảnh sát khu vực. Bà cho rằng mình đã phát hiện ra một tên du đãng đang lần mò quanh đó. Người phụ nữ đã dậy vì thấy động giữa đêm. Ở khu này là thế.
Hai cảnh sát tuần tra mặc sắc phục phát hiện ra ba xác chết trong nhà. Khi báo cáo về trung tâm, họ được lệnh đợi Đội Điều tra Đặc biệt. Đội này gồm tám sĩ quan da đen nằm trong danh sách đề cử cho những công việc khá khẩm hơn ở Sở.
Cửa ngoài của bếp đang khép hờ. Tôi đẩy cho cửa mở hẳn ra. Cửa của mọi căn nhà đều có tiếng động rất riêng khi đóng và mở. Cửa này rên rỉ như một ông già.
Trong nhà tối đen. Kỳ quái. Gió bị hút qua cánh cửa mở và tôi có thể nghe thấy tiếng gì đó lạch cạch bên trong.
“Chúng tôi không bật điện, thưa ngài,” một trong những cảnh sát mặc sắc phục cất lời từ phía sau tôi. “Ngài là Tiến sĩ Cross, phải không?”
Tôi gật đầu. “Lúc các anh đến thì cửa bếp có mở không?” Tôi quay sang viên cảnh sát tuần tra. Cậu ta là người da trắng, mặt trông như trẻ con, đang nuôi chút ria mép để nhìn già dặn hơn. Có lẽ cậu ta chừng hai ba, hai tư tuổi, vẫn còn sợ hãi về chuyện xảy ra sáng nay. Tôi không thể trách móc gì cậu ta.
“À, không. Không có dấu hiệu cho thấy cửa bị phá. Cửa không khóa, thưa sếp.”
Viên cảnh sát tuần tra căng thẳng thực sự. “Trong đó quả thực rất kinh khủng, thưa sếp. Đó là một gia đình.” Một trong các viên cảnh sát tuần tra bật chiếc đèn pin cực mạnh vỏ bằng nhôm cán và tất cả chúng tôi cùng nhòm vào trong bếp.
Có một chiếc bàn ăn rẻ tiền bằng nhựa với những chiếc ghế nhựa cùng tông màu xanh vỏ chanh. Trên tường treo một chiếc đồng hồ hình Bart Simpson da đen. Đó là những thứ ta thấy ở cửa sổ trước của mọi hiệu thuốc Nhân dân. Mùi thuốc khử trùng Lysol và mỡ cháy quyện thành một thứ gì đó rất lạ dù không hoàn toàn khó chịu. Ở hiện trường án mạng có những mùi còn đáng sợ hơn nhiều.
Sampson và tôi lưỡng lự, cố gắng nhận định sát nhất về cách thức vụ án xảy ra trước đó vài giờ.
“Hắn đã có mặt đúng chỗ này,” tôi nói. “Thủ phạm đã vào qua đường bếp. Hắn đã ở đây, nơi chứng ta đang đứng.”
“Đừng nói như thế, Alex,” Sampson nói. “Nghe cứ như Jeane Dixon[2]. Làm tớ phát khiếp.”
Dù đã làm không biết bao nhiêu lần nhưng chưa bao giờ công việc này trở nên dễ dàng hơn. Ta không muốn phải vào bên trong. Ta không muốn thấy thêm bất kỳ cơn ác mộng nào trong đời.
“Họ ở trên gác,” viên cảnh sát nuôi ria mép nói. Cậu ta thông báo cho chúng tôi về các nạn nhân. Một gia đình mang họ Sander. Hai phụ nữ và một bé trai.”
Đồng sự của viên cảnh sát - một tay da đen đậm người - vẫn chưa nói lời nào. Anh ta tên Butchie Dykes. Đây là một tay cảnh sát trẻ nhạy cảm tôi đã từng trông thấy ở đồn.
Bốn chúng tôi cùng tiến vào căn nhà chết chóc. Từng người trong chúng tôi hít một hơi sâu. Sampson vỗ vào vai tôi. Cậu ta biết án mạng với trẻ em khiến tôi run rẩy.
Ba xác chết nằm trên gác, ở phòng ngủ phía trước, ngay đầu cầu thang.
Một người là bà mẹ, Jean “Poo” Sanders, ba mươi hai tuổi. Ngay cả khi đã chết, gương mặt cô trông vẫn đầy ám ảnh. Người phụ nữ này có đôi mắt to màu nâu, gò má cao, đôi môi dày đã chuyển sang màu tím sẫm. Miệng cô há ra như đang la hét.
Suzette Sanders - con gái của Poo - đã sống mười bốn năm trên trái đất này. Chỉ là một thiếu nữ nhưng đã đẹp hơn mẹ. Con bé đeo dải ruy băng trên mái tóc tết và một chiếc khuyên bé xíu ở mũi để chứng tỏ mình già hơn tuổi thật. Suzette bị bịt miệng bằng một chiếc quần lót màu xanh nước biển.
Còn đứa bé trai ba tuổi Mustaf Sanders thì đang nằm ngửa mặt, đôi gò má bé nhỏ dường như ướt đẫm nước mắt. Nó đang mặc bộ “pyjamas bao tải” giống loại mà mấy đứa con tôi vẫn mặc.
Đúng như Nana Mama đã nói, đây là một phần xấu xa của cái thành phố tệ hại mà người ta đã thả nổi này. Ở cái đất nước rộng lớn tệ hại này của chúng tôi. Người mẹ và đứa con gái bị trói vào chân giường làm bằng chất liệu giả đồng. Đồ lót bằng vải xa tanh, vớ dạng lưới hai màu đen và đỏ, ga trải giường in hoa đã được dùng để trói cả hai lại.
Tôi lấy chiếc máy ghi âm bỏ túi mang theo ra và bắt đầu ghi lại những quan sát đầu tiên của mình. “Các vụ án mạng số hiệu H234 914 tới 916. Một mẹ, một con gái tuổi thiếu niên, một bé trai. Hai người phụ nữ đã bị cứa bằng thứ gì đó cực sắc. Có thể là dao cạo lưỡi thẳng.
“Ngực đã bị cắt rời. Không tìm thấy ngực. Lông tại vùng kín của hai phụ nữ đã bị cạo sạch. Có nhiều vết đâm, mà các nhà nghiên cứu bệnh học gọi là ‘đâm kiểu giận dữ’. Có rất nhiều máu và phân. Tôi tin rằng cả hai phụ nữ - mẹ và con gái - đều là gái bán dâm. Tôi đã từng thấy cả hai người này.
Giọng tôi khá trầm. Tôi tự hỏi liệu sau này chính tôi có hiểu được toàn bộ những lời mình đã nói hay không.
“Dường như xác đứa bé trai chỉ tình cờ bị quăng sang một bên. Mustaf Sanders mặc bộ pyjamas in đầy hình gấu Care. Nó là dấu hiệu nhỏ bé của sự tình cờ xuất hiện trong phòng.”
Tôi không thể ghìm được cảm giác đau đớn khi nhìn xuống thằng bé, đôi mắt buồn không còn sự sống của nó trừng trừng nhìn tôi. Đầu tôi bỗng ù đi. Tim tôi đau thắt. Tội nghiệp Mustaf bé nhỏ, dù nó là người thế nào đi nữa.
“Tớ không tin rằng hắn muốn giết thằng bé,” tôi bảo Sampson. “Hắn hoặc ả.”
“Hoặc thứ gì đó.” Sampson lắc đầu. “Đó là một thứ, Alex. Chính thứ đó đó đã gây ra vụ ở Condon Terrace đầu tuần này.”
❀ ❀ ❀
[1] Một công ty khá nỗi tiếng chuyên bán các sản phẩm giảm béo.
[2] Một trong những nhà chiêm tinh và ngoại cảm nổi tiếng nhất của Mỹ thế kỷ 20.