TÔI ĐƯỢC PHÉP THĂM SonejiMurphy, nhưng chỉ với mục đích phục vụ cho các cuộc điều tra liên quan tới vụ giết hại gia đình Sanders và Tumer. Tôi có thể gặp hắn để điều tra về những tội ác có lẽ chẳng bao giờ được đưa ra xét xử, nhưng không phải để điều tra về vụ việc có thể vẫn chưa có lời giải. Bệnh quan liêu luôn là thế đấy.
Tôi có một người bạn hiện làm ở Nhà tù Fallston, nơi giam giữ Gary. Tôi đã quen Wallace Hart - người phụ trách mảng tâm thần học ở Fallston - từ khi gia nhập lực lượng cảnh sát DC. Wallace đang chờ tôi ở sảnh khu trụ sở cũ kỹ.
“Tớ thích kiểu chăm chút riêng tư này,” tôi nói khi bắt tay cậu ta. “Tất nhiên, đây là lần đầu tiên tớ được như vậy.”
“Bây giờ cậu là người nổi tiếng rồi, Alex ạ. Tớ thấy cậu trên ti vi.”
Wallace là một người da đen có vẻ ngoài trí thức, nhỏ nhắn, cậu ta đeo kính tròn và vận bộ đồ công sở màu xanh rộng thùng thình. Cậu ta khiến người ta nhớ tới George Washington Carver[1], có thể pha chút gì đó của Woody Allen[2]. Trông cậu ta như thể vừa là người da đen, vừa là người Do Thái.
“Tới giờ thì cậu nghĩ gì về Gary?” Tôi hỏi Wallace khi chúng tôi đi thang máy nhà tù lên tới tầng được bảo vệ nghiêm ngặt nhất. “Một tù nhân mẫu mực hả?”
“Tớ luôn thích thú đặc biệt với những kẻ tâm thần, Alex ạ. Chúng giữ cho mọi thứ luôn thú vị. Hãy tưởng tượng nếu cuộc sống mà không có những gã bất lương thực thụ đó mà xem. Thật nhàm chán.”
“Cậu không tin vào khả năng hắn đa nhân cách, tớ đoán thế đúng chứ?”
“Tớ nghĩ đó là một khả năng, nhưng rất nhỏ. Dù thế nào thì Thằng Bé Hư trong hắn cũng hết sức tồi tệ. Dù vậy, tớ ngạc nhiên khi hắn gặp rắc rối. Tớ bất ngờ vì hắn bị bắt”.
Tôi nói, “Cậu có muốn nghe một giả thuyết hết sức độc đáo không? Gary Murphy đã bắt Soneji. Gary Murphy không thể kiểm soát Soneji, vì thế hắn đã giao nộp gã ta.”
Wallace cười với tôi. Cậu ta có nụ cười rộng và lộ nhiều răng so với một khuôn mặt choắt. “Alex, tớ rất khoái đầu óc điên rồ của cậu. Nhưng cậu thực sự tin điều đó à? Chuyện nửa này giao nộp nửa kia ấy?”
“Không. Tớ chỉ muốn biết xem cậu có tin không thôi. Tớ bắt đầu nghĩ hắn là kẻ hoàn toàn tâm thần. Tớ chỉ cần biết hoàn toàn đến mức độ nào thôi. Khi gặp hắn, tớ đã quan sát thấy sự rối loạn nhân cách hoang tưởng thể hiện rõ ràng.”
“Tớ đồng ý về chuyện đó. Hắn là kẻ không thể tin được, hay đòi hỏi, ngạo mạn, dễ bị kích động. Nhung tớ nói rồi, tớ thích gã này.”
Tôi hơi sốc khi gặp Gary lần này. Đôi mắt hắn tưởng như trũng sâu vào. Hai con ngươi có những tia máu như thể đang bị chứng viêm kết mạc. Da mặt bị kéo căng. Hắn đã giảm cân nhiều, có thể tới hơn mười ba cân, và như thế, hắn đã trở nên cân đối và thon thả hơn.
“Tôi hơi thất vọng. Xin chào Tiến sĩ.” Hắn ngước nhìn từ chiếc cũi và nói với tôi. Hắn lại là Gary Murphy. Ít nhất thì có vẻ là vậy.
“Chào Gary,” tôi nói. “Tôi không thể không can thiệp được.”
“Lâu quá không gặp. Hẳn là ông phải muốn gì đó. Để tôi đoán nhé - ông đang viết một cuốn sách về tôi. Ông muốn trở thành một Anne Rule tiếp theo phải không?”
Tôi lắc đầu. “Tôi muốn tới thăm anh từ lâu rồi. Nhưng trước hết tôi phải xin được lệnh của tòa án. Thực sự thì tôi tới đây để nói về vụ án mạng tại gia đình Sanders và Tumer.”
“Thật sao?” Hắn dường như cam chịu và cảm xúc của hắn có vẻ khá thờ ơ và thụ động. Tôi không thích cái vẻ ngoài mà hắn đang thể hiện ấy. Điều đó khiến tôi nghĩ rằng nhân cách của gã đàn ông này có thể đang trên bờ vực bị phân tách hoàn toàn.
“Tôi chỉ được phép nói chuyện với anh về vụ án mạng tại nhà Sanders và Tumer, thực tế là vậy. Đó là phạm vi tôi được cho phép. Nhưng chúng ta có thể nói chuyện về Vivian Kim, nếu anh thích.”
“Vậy thì chúng ta không có nhiều chuyện để nói đâu. Tôi chả biết gì về những vụ giết người ấy. Tôi thậm chí không đọc báo. Tôi thề bằng mạng sống của con gái tôi là tôi chưa đọc. Có lẽ ông bạn Soneji của chúng ta biết. Tôi thì không, Alex ạ.” Hắn dường như thực sự thoải mái khi gọi tôi là Alex lúc này. Thật vui khi biết ta có thể kết bạn ở bất cứ đâu.
“Luật sư của anh hẳn đã giải thích các vụ án mạng cho anh. Có thể có một phiên xét xử nữa trong năm nay.”
“Tôi sẽ không gặp thêm bất cứ luật sư nào nữa. Chuyện đó chẳng liên quan gì tới tôi. Thêm nữa, các vụ việc đó sẽ không được đưa ra tòa đâu. Quá tốn kém.”
“Gary.” Tôi nói với hắn như thể hắn là bệnh nhân của tôi. “Tôi muốn thôi miên anh lần nữa. Anh có chịu ký vào giấy tờ nếu tôi có thể sắp xếp tất cả những chuyện vớ vẩn này không? Việc nói chuyện với Soneji rất quan trọng với tôi. Hãy để tôi cố gắng nói chuyện với hắn.”
Gary Murphy mỉm cười và lắc đầu. Cuối cùng hắn gật đầu. “Thực sự thì, tôi muốn tự mình nói chuyện với hắn,” hắn nói. “Nếu có thể, tôi sẽ giết hắn. Tôi sẽ giết Soneji. Giống như việc người ta cho rằng tôi đã giết hại tất cả những người kia.”
Tối đó tôi tới gặp cựu nhân viên Sở Mật vụ Mike Devine. Devine là một trong hai nhân viên được giao nhiệm vụ bảo vệ Bộ trưởng Goldberg và gia đình ông. Tôi muốn hỏi anh ta về giả thuyết “tòng phạm”.
Mike Devine đã tự nguyện về hưu khoảng một tháng sau khi xảy ra vụ bắt cóc. Vì vẫn chỉ độ ngoài bốn mươi tuổi nên tôi đoán anh ta đã bị đẩy khỏi vị trí của mình. Chúng tôi trò chuyện suốt vài giờ bên ngoài khu hiên đá trông ra sông Potomac tại nhà anh ta.
Đó là một căn hộ trang nhã, đầy đủ tiện nghi dành cho một người đàn ông độc thân. Devine có nước da rám nắng và dáng vẻ thư thái. Anh ta là hình ảnh tiêu biểu nhất để cổ vũ cho việc rời bỏ lực lượng cảnh sát ngay khi có thể.
Người đàn ông này gợi nhắc tôi đôi chút về nhân vật Travis McGee trong các cuốn tiểu thuyết của John MacDonald. Devine vạm vỡ và có gương mặt rất cá tính. Anh ta sẽ sống ổn dù phải về hưu non, tôi nghĩ: vẻ ngoài như người hùng điện ảnh, rất nhiều sợi tóc nâu xoăn, một nụ cười dễ chịu, hay chuyện.
“Người cộng sự của tôi và tôi đã bị đẩy đi, anh biết đấy,” Devine thừa nhận sau khi uống hết vài lon bia Corona. “Một màn lộn xộn đã xảy ra và trở thành Chiến tranh Thế giới thứ Ba, rồi chúng tôi trở thành quá khứ ở Sở Mật vụ. Cả hai chúng tôi đều không được sếp mình giúp đỡ nhiều.”
“Đó là một vụ khuấy động dư luận. Tôi nghĩ đã có những anh hùng và cả những kẻ ác.” Một khi đã làm một lon bia lạnh thì tôi cũng triết lý chẳng kém ai.
“Có lẽ cuối cùng thế cũng tốt,” Mike Devine trầm ngâm. “Anh có bao giờ nghĩ tới chuyện bắt đầu lại, làm một cái gì khác khi vẫn còn nhiệt huyết không? Trước khi căn bệnh Alzheimer tấn công ấy?”
“Tôi đã nghĩ về việc mở phòng khám tư,” tôi nói với Devine. “Tôi là chuyên gia tâm lý. Hiện tại tôi vẫn tư vấn miễn phí ở các khu nhà giá rẻ.”
“Nhưng anh yêu công việc này tới mức không thể bỏ nó à?” Mike Devine cười rồi nheo mắt trong ánh chiều muộn đang ló khỏi mặt nước. Bầy chim biển màu xám với đám lông ngực trắng bay ngay bên hiên. Thật đẹp. Mọi thứ được sắp xếp ở đây đều rất đẹp.
“Nghe này, Mike, tôi muốn rà soát lại tình hình vài ngày cuối trước khi xảy ra vụ bắt cóc,” tôi nói với anh ta.
“Anh đúng là dạng say nghề chết tiệt, Alex ạ. Chính tôi đã rà soát tới từng xăng ti mét vuông khu vực đó rồi. Tin tôi đi, chẳng có gì đâu. Đó chỉ là khu đất bỏ hoang. Không gì mọc trên đó. Tôi đã cố gắng và cố gắng, rồi rốt cuộc tôi cũng đã từ bỏ bóng ma đó.”
“Tôi tin anh. Nhưng tôi vẫn tò mò về chiếc ô tô mui kín đời mới đêm hôm đó người ta thấy đậu ở Potomac. Có thể là một chiếc xe hiệu Dodge.” tôi nói. Đó chính là chiếc xe mà Nina Cerisier nhớ đã đậu ở Langley Terrace. “Anh đã từng thấy một chiếc ô tô mui kín màu xanh hay đen nào đậu trên đại lộ Sorrell chưa? Hay ở bất cứ chỗ nào quanh ngôi trường Washington Day?”
“Như tôi đã nói, tôi đã rà đi rà lại trong tất cả các nhật ký trực của chúng tôi. Không có bất cứ chiếc xe hơi bí ẩn nào cả. Anh có thể tự xem lại nhật ký các phiên trực.”
“Tôi đã xem rồi,” tôi nói với Devine và phá lên cười trước vụ việc dường như vô vọng mà tôi đang cố điều tra.
Mike Devine và tôi trò chuyện thêm lúc nữa. Anh ta không thể cung cấp thêm thông tin gì mới. Cuối cùng, tôi thấy Mike ca ngợi cuộc sống nơi bờ biển, thú câu cá mòi đường ở quần đảo Keys, “đánh tung những quả bóng trắng nhỏ”. Cuộc sống mới của anh ta vừa bắt đầu. Mike đã vượt qua vụ bắt cóc Dunne-Goldberg nhanh hơn nhiều so với tôi.
Dù vậy, vẫn có điều gì đó làm tôi bận lòng. Tất cả chuyện liên quan đến vấn đề “tòng phạm”. Hay chuyện ”kẻ theo dõi”. Hơn thế, thẳm sâu trong tôi còn có linh cảm gì đó về Devine và người cộng sự của anh ta. Một cảm giác không được tốt. Có gì đó mách bảo tôi rằng họ biết nhiều hơn những gì họ sẵn lòng kể với bất kỳ ai.
Khi vẫn còn hừng hực như lò lửa, tôi quyết định liên hệ với người từng là cộng sự của Devine, Charles Chakely, vào khuya hôm đó. Sau khi bị sa thải, Chakely và gia đình anh ta định cư tại Tempe, bang Arizona.
Lúc đó là nửa đêm theo giờ chỗ tôi; mười giờ tối ở Tempe. Không quá muộn, tôi cho là thế. “Charles Chakely phải không? Tôi là thanh tra Alex Cross gọi từ Washington đây,” tôi nói khi cựu nhân viên Sở Mật vụ bắt máy.
Có một chút ngập ngừng, một khoảng im lặng khó chịu trước khi đầu dây bên kia trả lời. Sau đó Chakely trở nên hằn học - điều này khiến tôi cảm thấy rất lạ lùng. Phản ứng của anh ta chỉ như củng cố thêm những linh tính mách bảo trong tôi về cựu nhân viên Sở Mật vụ này và người cộng sự.
“Anh muốn cái quái gì nữa thế?” Chakely nổi cáu. “Tại sao anh gọi tới đây cho tôi? Bây giờ tôi không còn làm việc ở Sở Mật vụ rồi. Tôi đang cố bỏ lại sau lưng những chuyện đã xảy ra. Hãy để cho tôi yên. Hãy tránh xa tôi và gia đình tôi.”
“Nghe này, tôi xin lỗi đã làm phiền anh...” tôi bắt đầu xin lỗi.
Anh ta ngắt lời tôi. “Vậy thì đừng làm phiền nữa. Đó là một cách sửa sai dễ đấy, Cross ạ. Hãy cút khỏi cuộc đời tôi.”
Tôi có thể mường tượng ra hình ảnh Charles Chakely khi nói chuyện với anh ta. Tôi đã nhớ ra anh ta từ những ngày đầu vừa xảy ra vụ bắt cóc. Charles mới chỉ năm mốt nhưng trông cứ như ngoài sáu mươi. Bụng bia. Tóc đã rụng gần hết. Buồn bã, đôi mắt lãnh đạm. Chakely là minh chứng cụ thể cho thấy những gì tồi tệ mà công việc này có thể gây ra cho ta, nếu ta để mặc cho nó làm vậy.
“Không may là tôi vẫn bị giao xử lý vài vụ giết người,” tôi vừa nói vừa hy vọng Chakely hiểu. “Các vụ đó cũng có liên quan tới Gary SonejiMurphy. Hắn quay lại và giết một trong các giáo viên ở trường. Vivian Kim, anh nhớ không?”
“Tôi đã nghĩ là anh không muốn làm phiền tôi. Vậy tại sao anh không vờ như là anh chưa bao giờ gọi điện, hả? Rồi tôi sẽ làm bộ là tôi chưa bao giờ nhấc máy. Tôi quá rành cái trò ‘chúng ta hãy cùng giả vờ’ ở ngoài vùng cao nguyên Arizona rồi.”
“Nghe này, tôi có thể xin một cái trát của tòa. Anh biết là tôi có thể làm thế. Chúng ta có thể thực hiện cuộc nói chuyện này ở Washington. Hoặc tôi có thể bay qua nhà anh ở Tempe. Xuất hiện ở đó trong buổi tiệc nướng ngoài trời vào một đêm nào đó.”
“Này, có chuyện quái quỷ gì với mày vậy? Mày sao thế hả Cross? Vụ án khốn kiếp đó đã chấm dứt rồi. Kệ mẹ nó đi và để tao yên.”
Có gì đó rất lạ trong giọng nói của Chakely. Có vẻ như anh ta sắp nổ tung.
“Tôi đã nói chuyện với cộng sự của anh tối nay,” tôi thông báo. Thông tin đó khiến Chakely tiếp tục giữ máy.
“Vậy à. Mày đã nói chuyện với Mickey Devine à. Thi thoảng tao cũng nói chuyện với nó đấy.”
“Tôi mừng cho cả hai anh. Tôi sẽ chỉ làm phiền anh một phút nữa thôi. Chỉ cần anh trả lời một hoặc hai câu hỏi thôi.”
“Một câu hỏi. Chỉ vậy thôi,” rốt cuộc Chakely nói.
“Anh nhớ xem có thấy chiếc ô tô mui kín đời mới màu đen nào đậu trên đại lộ Sorrell không? Hay bất cứ chỗ nào quanh khu nhà của gia đình Goldberg hoặc Dunne? Có thể là khoảng một tuần trước khi xảy ra vụ bắt cóc?”
“Mẹ kiếp, không, lạy Chúa, không. Bất cứ chuyện gì bất thường đều đã được ghi trong nhật ký trực của bọn tao rồi. Vụ bắt cóc đã kết thúc. Tao đã hết nợ rồi. Cả với mày cũng vậy, thanh tra Cross ạ.”
Chakely dập máy.
Giọng điệu của anh ta rất kỳ quái. Cái ý nghĩ về “kẻ quan sát” chưa lộ diện làm tôi hơi điên tiết. Đó là một nút thắt lón. Quan trọng tới mức không thể phớt lờ dù ta có là loại thanh tra nào đi nữa. Tôi phải nói chuyện với Jezzie về Mike Devine và Charlie Chakely, và về những cuốn nhật ký trực họ đã giữ. Có gì đó vẫn chưa rõ ràng về hai người này. Chắc chắn họ đang giấu giếm điều gì đó.
❀ ❀ ❀
[1] Một nhà khoa học, nhà giáo dục, thực vật học, chuyên gia phát minh của Mỹ.
[2] Một diễn viên, nhà sản xuất phim, nhà viết kịch, nhạc sĩ nổi tiếng của Mỹ.