Từ hồi còn ngồi vẽ những nét gạch “thẳng cứng” tôi đã có ý định chuồn. Không phải bỗng dưng mà tôi vẽ lên bên trên cái hàng rào ông mặt trời, mấy con chim và những đám mây! Sau đó tôi lại quên bẵng mất ý nghĩ này. Nhưng càng ngày mỗi khi trở về nhà tôi càng cảm thấy nặng nề hơn.
Tôi hầu như không gặp mẹ tôi lúc nào nữa. Buổi sáng mẹ tôi đi lúc tôi còn đang ngủ. Đôi khi ban đêm tỉnh dậy tôi nhìn thấy mẹ ngồi cạnh bàn. Vì quá mệt mỏi, sắc mặt mẹ tôi trắng bệch ra. Mẹ thong thả ăn bữa cơm tối. Ngay đến Gaer khi nhìn thấy đôi mắt thâm quầng của mẹ cũng phải nhụt bớt đi.
Tôi rất yêu em gái tôi. Nhưng thà tôi đừng thương em lại đỡ khổ tâm hơn. Tôi nhớ có lần tên Gaer khốn kiếp đã đánh em một trận chí chết chỉ vì nó đánh đổ một ly dầu ăn. Hắn đuổi em ra khỏi bàn ăn nhưng tôi đã lén đem cho em một ít khoai tây. Nó vừa ăn vừa khóc, bỗng nó sực nhớ ra không hiểu lúc bị đòn, những mảnh thủy tinh màu có bị rơi mất không. Khi thấy những mảnh thủy tinh thì nó cười và ăn nốt chỗ khoai tây rồi lại khóc.
Dạo ấy đã sắp đến mùa thu, tôi và Petya dạo chơi trong vườn Nhà thờ, chân đi đất hất tung những đám lá rơi. Petya nói khoác rằng dưới cái quả đồi mà chúng tôi đang ngồi có một con đường ngầm từ ngày xưa chạy từ vườn bên này xuyên qua đáy sông sang bờ bên kia và chính nó cũng đã có lần đi được một nửa đường ngầm rồi.
- Tớ đi suốt cả đêm, – Petya nói bừa, – bước đến đâu cũng dẫm phải xương người.
Từ quả đồi đất nhỏ này có thể nhìn thấy nhà thờ Pokrovsky quét vôi trắng lừng lững, trên bờ sông cao. Những bức tường thấp vây kín chung quanh. Đằng sau tường là bãi cỏ. Một làn gió nhẹ lướt qua làm cho bãi cỏ luôn thay đổi màu sắc lúc thì xanh nhạt, lúc lại vàng hoe y như mặt biển đổi màu.
Nhưng lúc đó tôi và Petya rất ít chú ý đến cảnh đẹp thiên nhiên. Chúng tôi nằm trên đỉnh đồi và mút cái thứ cỏ gì đắng ngắt mà Petya vẫn bảo là cỏ ngọt.
Tôi còn nhớ câu chuyện hôm ấy bắt đầu từ những con chuột: trong đường ngầm có chuột hay không? Petya nói là có. Chính mắt nó đã nom thấy và cũng như ong, có một con chuột chúa.
- Hễ cứ đến năm nhuận là chúng chết sạch, – nó nói thêm, – rồi con chuột chúa lại đẻ ra rất nhiều con. Con chuột chúa to bằng con thỏ cái ấy.
- Mày chỉ nói láo!
- Thề đấy! – Petya nói giọng phớt tỉnh.
Giữa chúng tôi như có một ước lệ với nhau là việc gì thì có thể nói láo, việc gì không được nói láo. Hồi đó tuy còn là trẻ con, song chúng tôi cũng đã biết tôn trọng nhau.
- Ở Turkestan không có chuột như ở đây, – Petya tư lự nói thêm. – Ở đó chỉ có chuột nhảy, trên thảo nguyên thì có chuột đồng. Những giống chuột ấy khác hẳn, bởi vì chúng chỉ ăn cỏ non thôi.
Nó thường nói đến Turkestan, theo lời nó, thì đây là một thành phố. Trong thành phố này lê, táo, cam mọc ngay trên đường phố. Mọi người có thể tùy ý muốn hái bao nhiêu thì hái, chẳng bị ai đuổi theo chửi bới như những lão gác các vườn quả ở đây. Người ta có thể trải thảm ngủ ngay trên bãi cỏ ngoài trời, bởi vì ở đó không có mùa đông, quanh năm chỉ mặc một chiếc áo choàng thôi cũng đủ, chẳng cần gì ủng da với áo bành-tô.
- Những người Thổ Nhĩ Kỳ sống ở đó. Người nào cũng đều có vũ khí. Những thanh kiếm cong mạ bạc, lưng giắt dao găm, trước ngực thì đeo dây đạn. Chúng mình đi đến đấy nhé!
Tôi cho rằng nó nói đùa. Song nó không đùa. Mặt nó hơi tái. Nó bỗng quay đi rồi đứng dậy hồi hộp nhìn sang phía bờ xa xa. Bên ấy ông lão đánh cá quen thuộc đang ngủ bên những chiếc cần câu cắm xuống khe đá sát ngay mặt nước. Chúng tôi im lặng.
- Thế còn bố cậu? Ông ấy có cho đi không?
- Tớ lại đi hỏi ông ấy à! Bây giờ ông ấy còn đầu óc nào nghĩ đến tớ nữa.
- Sao vậy?
- Vì ông ấy lấy vợ, – Petya khinh khỉnh nói.
Tôi rất đỗi ngạc nhiên.
- Lấy ai thế?
- Dì Dasha.
- Nói láo!
- Ông ấy bảo dì Dasha là nếu dì không bằng lòng thì ông ấy sẽ bán nhà rồi đi các làng hàn nồi rong. Lúc đầu dì Dasha làm ầm lên nhưng sau lại bằng lòng. Chắc là cũng thương yêu ông ấy rồi. – Petya lại khinh khỉnh nói và nhổ toẹt.
Tôi vẫn chưa tin. Dì Dasha! Lấy chồng! Dì lấy ông già Skovorodnikov ư? Lấy người mà dì đã nhiếc móc như thế?
- Thế thì việc gì đến cậu?
- Chẳng việc gì cả, – Petya nói vậy.
Nó nhăn mặt và nói sang chuyện khác. Mẹ nó chết cách đây hai năm, nó khóc thảm thiết rồi cứ thế bước ra khỏi nhà đi chẳng biết giời đất gì nữa. Sau đó người ta phải đi tìm mãi mới thấy. Tôi còn nhớ bọn trẻ con đã chế nó về cái chuyện ấy.
Chúng tôi chuyện trò thêm một lúc nữa rồi nằm ngửa người, dang tay ra nhìn lên trời. Petya quả quyết rằng nếu cứ nằm như vậy khoảng hai mươi phút mà không chớp mắt thì có thể nhìn thấy những ngôi sao và mặt trăng ngay giữa ban ngày. Thế là chúng tôi cứ nằm nhìn. Trời xanh trong vắt mênh mông. Đâu đó tít trên cao những đám mây trắng xô đuổi nhau. Mắt tôi đã căng mọng đầy nước, song tôi vẫn cố gượng không chớp mắt. Mãi cũng chẳng thấy mặt trăng đâu cả, còn những vì sao thì tôi đã hiểu ngay là thằng Petya nói láo.
Đâu đó vang lên tiếng động cơ. Lúc đầu tôi cứ tưởng đó là chiếc xe tải nhà binh chở hàng trên bến cảng (bến cảng ở ngay phía dưới chân tường pháo đài). Song tiếng động cơ càng ngày càng gần.
- Máy bay! – Petya nói.
Chiếc máy bay màu xám lấp lánh dưới ánh mặt trời y như một con cá tuyệt đẹp có cánh. Nó bay ngược chiều gió lao tới những đám mây đang trôi theo gió. Lần đầu tiên tôi phải kinh ngạc khi thấy chiếc máy bay nhẹ nhàng vượt qua những đám mây. Kìa nó đã bay qua nhà thờ Pokrovsky rồi. Cái bóng hình chữ thập cứ chạy theo nó mãi trên đồng cỏ bên kia sông. Chiếc máy bay đã biến mất từ lâu, song tôi có cảm giác như vẫn nhìn thấy hai chiếc cánh xám nhỏ xíu ở xa tít.