Thời kỳ xa xưa ấy đã qua rồi. Hồi đó nếu chúng tôi trở về trường sau mười giờ đêm là rất lo, nên phải đi vòng sau lưng lão Yafet nghiêm khắc mặc chiếc bành-tô da to xù ngồi trên chiếc ghế đẩu ngay trước cửa ra vào và ngủ – nếu lão ngủ thật thì còn khá. Giờ đây tôi đã là học sinh tốt nghiệp và chúng tôi muốn đi về lúc nào tùy ý.
Nhưng hôm nay tôi về chưa phải là muộn – chưa đến mười hai giờ. Học sinh vẫn còn nói chuyện râm ran. Valya đang viết gì đó, nó ngồi xếp bằng tròn ở trên giường. Nhưng thấy tôi nó gọi:
- Sanya, thầy Ivan Pavlych bảo nếu cậu về trước mười hai giờ thì đến chỗ thầy đấy. Bây giờ mấy giờ rồi?
- Mười một giờ rưỡi.
- Đi nhanh lên!
Tôi khoác áo bành-tô chạy đến gặp thầy.
Đó là một cuộc nói chuyện không bình thường mà suốt đời tôi không bao giờ quên được, – tôi phải thật bình tĩnh viết lại nội dung cuộc nói chuyện này. Tôi không được xúc động, đặc biệt là lúc này, khi mà nhiều năm đã trôi qua. Rõ ràng là mọi việc lẽ ra có thể khác. Mọi việc lẽ ra có thể khác hẳn, giá tôi hiểu rõ đối với bà, mỗi lời nói của tôi có ý nghĩa to lớn như thế nào, giá tôi có thể dự đoán được trước việc gì sẽ xảy ra sau cuộc nói chuyện của chúng tôi… Nhưng những chữ “giá” ấy thật khôn cùng… Tôi cũng chẳng cần phải biện bạch, nhận lỗi làm gì. Và đây, tình hình cuộc nói chuyện ấy như thế này.
Khi tôi đến nhà thầy Korablyov thì bà Maria Vasilievna đã ở đấy. Bà đã ở đây suốt cả buổi tối. Nhưng không phải bà đến tìm ông mà là đến tìm tôi, chính là đến gặp tôi và ngay câu đầu tiên bà đã nói với tôi như vậy.
Bà ngồi rất thẳng, khuôn mặt lặng lẽ, chốc chốc lại đưa bàn tay xương xẩu lên vuốt tóc. Trên bàn có rượu vang và bánh bích-quy. Thầy Korablyov luôn tay rót rượu cho bà và cho mình. Nhưng bà chỉ hơi nhấp nháp nên cốc rượu từ đầu đến cuối vẫn không uống hết. Bà hút thuốc lá liên tục, tàn thuốc vung vãi khắp nơi, ngay trên đùi bà cũng có. Bà đeo chuỗi hạt trân châu quen thuộc ở cổ và mấy lần bà khẽ nhấc chuỗi hạt lên, dường như chuỗi hạt làm bà nghẹn cổ. Đấy, tình hình là như vậy.
- Người hoa tiêu viết rằng ông không dám mạo hiểm gửi bức thư này qua bưu điện, – bà nói. – Thế nhưng cả hai bức thư này lại nằm trong cùng một túi thư của bưu điện. Em giải thích vấn đề này như thế nào?
Tôi trả lời là tôi không biết và nếu người hoa tiêu còn sống thì nên đi hỏi chính ông ấy.
Bà Maria Vasilievna lắc đầu.
- Nếu ông ấy còn sống thì còn nói gì!
- Có lẽ những người thân của ông ấy biết chăng, – bỗng nhiên tôi lại hứng lên. – Ngoài ra, thưa bà, người hoa tiêu đã được đội thám hiểm của trung úy Sedov cứu thoát. Thế thì nhất định ông này biết. Tôi tin rằng thế nào người hoa tiêu cũng kể lại mọi chuyện cho ông này nghe.
- Ừ, có thể như thế, – bà Maria Vasilievna trả lời.
- Hơn nữa cái gói này là gửi cho Cục trưởng Cục Địa lý thủy văn. Nếu người hoa tiêu đã gửi thư bằng bưu điện thì gói ấy chắc cũng gửi bằng bưu điện. Vậy cần phải tìm hiểu xem.
Bà Maria Vasilievna lại nói:
- Ừ nhỉ!
Tôi im lặng. Chỉ có mình tôi nói, thầy Korablyov chưa lên tiếng một câu nào. Tôi không thể hiểu ông nhìn bà Maria Vasilievna với thái độ thế nào. Bỗng ông đứng dậy, khoanh hai tay trước ngực, khẽ rón rén đi đi lại lại trong phòng. Tối hôm đó trông ông rất lạ lùng, cứ như người mọc thêm cánh trông phơi phới. Người ta cảm thấy hình như bộ ria của ông bay tung trước gió. Tôi không thích thế. Nhưng tôi hiểu ông: ông rất phấn khởi vì Nikolai Antonych đã tỏ ra là một kẻ đê tiện như vậy, ông tự hào vì đã sớm dự đoán được điều đó, ông hơi sợ bà Maria Vasilievna, đồng thời ông cũng đau khổ bởi vì bà đau khổ. Nhưng chủ yếu là ông phấn khởi, và không hiểu tại sao tôi lại không thích thế.
- Em ở Ensk làm những gì? – Bỗng bà Maria Vasilievna hỏi tôi. – Em có người thân ở đó à?
Tôi trả lời là có người thân. Cô em gái.
- Tôi rất yêu thành phố Ensk, – bà Maria Vasilievna nói với thầy Korablyov. – Ở đó tuyệt lắm. Vườn hoa rất đẹp! Từ sau ngày rời khỏi Ensk đến giờ tôi chưa đi chơi vườn hoa.
Bỗng bà kể về thành phố Ensk. Không biết vì sao bà kể bà có ba bà dì đang sống ở đó, cả ba người đều không tin là có Chúa và lấy làm kiêu hãnh về việc đó, và có một bà đã tốt nghiệp khoa Triết trường đại học Heidelberg. Trước đây bà có bao giờ nói nhiều thế đâu. Sắc mặt bà xanh nhợt nhưng rất đẹp, mắt sáng long lanh, bà ngồi hút thuốc liên miên.
- Katya nói rằng em còn nhớ một câu gì đó ở trong bức thư này, – bà nói và quên bẵng ngay các bà dì và thành phố Ensk. – Song tôi không tài nào moi được ở nó xem câu đó là câu gì.
- Vâng, có nhớ được một số.
Tôi chờ xem bà có yêu cầu tôi nói ra những câu đó không, nhưng bà lặng thinh, hình như bà rất sợ phải nghe tôi nói những câu đó ra.
- Nào, Sanya, nói đi, – thầy Korablyov làm ra vẻ sảng khoái nói.
Tôi bèn nói:
- Bức thư đó kết thúc bằng câu: “Lời chào của… của em”. Có phải không ạ?
Bà Maria Vasilievna gật đầu.
- Và tiếp theo là như thế này: “… Mongotimo Yastrebinyi Kogot…”
- Mongotimo? – Thầy Korablyov ngạc nhiên hỏi lại.
- Vâng, Mongotimo, – tôi nhắc lại dứt khoát.
- Montigomo Yastrebinyi Kogot, – bà Maria Vasilievna chữa lại và lần đầu tiên giọng bà run run. – Hồi đó tôi có gọi anh ấy như thế.
Bà gọi thuyền trưởng Tatarinov “Montigomo Yastrebinyi Kogot”, bây giờ nghĩ lại có lẽ hơi buồn cười. Đặc biệt là tôi cảm thấy buồn cười bởi vì giờ đây tôi biết về công việc của ông nhiều hơn tất cả những người khác trên trái đất. Nhưng lúc đó thì lại chẳng cảm thấy buồn cười tí nào cả bởi vì bà bao giờ cũng giữ giọng nói bình tĩnh, nay bỗng nhiên lại run run.
Chính ra cái tên đó không phải là ở trong cuốn sách Gustave Aimard như tôi và Katya nghĩ, mà ở trong tác phẩm của Chekhov. Chekhov có một truyện ngắn trong đó có một chú bé tóc nâu lúc nào cũng cứ tự gọi mình là Montigomo Yastrebinyi Kogot.
- Đúng là Montigomo, – tôi nói. Nhưng tôi lại nhớ… Mongotimo… – “em trước đây gọi anh như vậy. Lạy Chúa! Đó là chuyện đã lâu lắm rồi! Nhưng anh không than phiền. Chúng ta nhất định sẽ lại gặp nhau, và lúc đó mọi việc sẽ êm đẹp cả. Nhưng có một ý nghĩ, một ý nghĩ làm cho anh vô cùng khổ tâm.” – Chữ “một ý nghĩ” nhắc đi nhắc lại hai lần, đây không phải là tôi nhắc lại mà trong thư đúng như thế – nhắc lại hai lần.
Bà Maria Vasilievna lại gật đầu.
- “Thật là đau khổ”, – tôi tiếp tục đọc, – “khi nhận thấy rằng lẽ ra mọi việc có thể khác hẳn. Bọn anh liên tiếp gặp phải những điều rủi ro – mà điều rủi ro đầu tiên đó là anh đã giao việc chuẩn bị vật chất của đội thám hiểm cho Nikolai. Đó là cái sai lầm mà bọn anh phải trả từng giờ từng phút”.
Có lẽ tôi không nên quá nhấn mạnh vào câu giao việc cho Nikolai. Bởi vì sắc mặt bà Maria Vasilievna vốn đã tái nhợt lúc này càng tái nhợt đi. Có thể nói không phải là tái nhợt nữa mà là trắng bệch ra. Bà ngồi trước mặt chúng tôi và cứ hút thuốc liên hồi. Sau đó bà nói những câu thật là kỳ quặc, và đột nhiên lần đầu tiên tôi nghĩ rằng bà hơi lẩm cẩm. Nhưng tôi không chú ý lắm tới việc này vì tôi cảm thấy tối nay thầy Korablyov cũng hơi điên đấy. Lẽ ra ông ta, chính ông ta, phải hiểu bà gặp phải việc gì. Nhưng lúc này ông đã hoàn toàn mất hết lý trí. Có lẽ ông tưởng chừng như ngày mai bà Maria Vasilievna sẽ lấy ông.
- Sau hội nghị này, Nikolai Antonych ốm, – bà nói với thầy Korablyov. – Tôi đề nghị gọi bác sĩ, nhưng ông ấy không muốn. Tôi không nói với ông ấy về những bức thư này. Ông lại càng buồn phiền. Tạm thời không nên nêu ra, có đúng không?
Bà đã bị gục, bị nỗi đau khổ hành hạ đến tuyệt vọng, nhưng tôi vẫn chẳng hiểu gì hết.
- Ồ, tại sao lại không nên, – tôi phản đối. – Thôi được. Vậy tôi sẽ tự làm. Tôi sẽ gửi bức thư sao lại. Hắn phải đọc chứ.
- Sanya! – Thầy Korablyov bỗng tỉnh ra và kêu lên.
- Không, thưa thầy, tôi sẽ nói, – tôi nói tiếp. – Bởi vì tất cả những cái đó làm cho tôi công phẫn. Vì ông ấy mà đội thám hiểm đã phải chết, sự thực là thế. Đây là sự thực lịch sử. Mọi người phải lên án cái tội ác rất nghiêm trọng này. Tôi cho rằng bà Maria Vasilievna, với tư cách vợ của thuyền trưởng Tatarinov, chính bà phải đi tố cáo ông ấy.
Nhưng giờ đây bà không là vợ mà là bà quả phụ của thuyền trưởng Tatarinov. Bà đã trở thành vợ của Nikolai Antonych rồi. Như vậy là bà sẽ phải đi tố cáo chính chồng mình. Nhưng nào tôi có hiểu được điều đó.
- Sanya! – Thầy Korablyov lại quát tôi.
Nhưng tôi đã thôi không nói nữa. Tôi chẳng còn có điều gì để nói thêm. Cuộc nói chuyện của chúng tôi vẫn tiếp tục, nhưng không nói thêm về việc đó nữa. Tôi chỉ nói rằng dải đất trong thư nhắc đến chính là Bắc địa và như thế đáng lẽ phải nói Bắc địa là do thuyền trưởng Tatarinov phát hiện ra. Song ở nơi đây, trong căn phòng này, vào giờ phút này mà đi nói “kinh độ” bao nhiêu, “vĩ độ” bao nhiêu thì những cái danh từ địa lý ấy chỉ tổ làm cho người ta chói tai. Thầy Korablyov vẫn đi đi lại lại trong phòng, còn bà Maria Vasilievna cứ hút thuốc suốt. Những mẩu thuốc lá đã chất thành đống trong cái gạt tàn ở trước mặt bà. Mẩu nào cũng bị nhuộm đỏ vì son ở môi bà thấm ra. Bà ngồi trầm tĩnh, bất động, thỉnh thoảng lại nâng chuỗi hạt trân châu ở cổ lên, tựa hồ như chuỗi hạt ấy nó làm cho bà khó thở. Giờ đây từ bà đến xứ Bắc địa, dải đất nằm giữa những kinh tuyến nào đấy sao mà xa lắc xa lơ như vậy!
Đấy, toàn bộ cuộc nói chuyện là như vậy. Lúc chào từ biệt ra về tôi còn định lẩm bẩm câu gì đó nhưng thầy Korablyov cau mày lại tiến thẳng đến chỗ tôi, thành ra bất giác tôi đã bước khỏi cửa.