Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13 Buổi Đưa Đám Mẹ
Chương 13 Buổi Đưa Đám Mẹ

❊ ❊ ❊

Chắc lúc ấy đã phải đến ba giờ sáng, tôi đã đi ngủ từ lâu, bỗng nhiên có tiếng kêu làm tôi tỉnh giấc. Khói thuốc lá vẫn đọng lại lơ lửng phía trên mặt bàn. Mọi người đã ra về cả từ lâu. Lão bố dượng tôi nằm trên sàn, dạng hai chân hai tay ra. Lại có tiếng kêu. Tôi nhận ra là tiếng dì Dasha nên bước lại bên cửa sổ. Có một người phụ nữ nằm ở ngoài sân và dì Dasha đang thổi phù phù vào mồm bà ta.

- Dì Dasha!

Hình như dì không nghe thấy tiếng tôi gọi nên dì lại đứng bật dậy, không hiểu sao lại chạy chung quanh ngôi nhà chúng tôi rồi gõ vào cửa sổ.

- Mang nước ra đây, anh Pyotr Ivanych! Chị Aksinya nằm ngoài sân đây này!

Tôi vội vàng mở cửa ra, dì bước vào nhà và lay gọi bố dượng tôi.

- Anh Pyotr Ivanych! Trời ơi, cái anh này!

Bố dượng tôi chỉ ậm ừ vài tiếng.

- Sanya, phải mang mẹ cháu vào đây. Có lẽ mẹ cháu vấp ngã bị thương ở ngoài sân đấy. Anh Pyotr Ivanych đâu rồi!

Lão bố dượng tôi ngồi dậy, mắt vẫn nhắm, nhưng rồi lại nằm xuống. Và thế là chúng tôi đành chịu, không gọi lão ta dậy được.

Tôi và dì Dasha loay hoay chăm sóc mẹ tôi suốt đêm, mãi đến gần sáng mẹ mới tỉnh lại. Tuy đây chỉ là một cơn ngất bình thường nhưng lúc ngã, đầu mẹ bị đập vào đá và rủi thay là mãi đến chiều hôm sau chúng tôi mới được bác sĩ cho biết điều đó. Bác sĩ dặn phải chườm nước đá. Nhưng mọi người đều cảm thấy rằng bỏ tiền ra đi mua nước đá là một điều kỳ lạ, nên dì Dasha quyết định lấy khăn mặt ướt đắp lên thay nước đá.

Tôi còn nhớ lúc đó bé Sanya vừa khóc vừa chạy ra sân nhúng khăn mặt vào thùng nước rồi quay vào, tay gạt nước mắt. Mẹ nằm im không nhúc nhích, mặt tái nhợt như mọi khi. Mẹ không hề hỏi đến lão bố dượng tôi một lần nào – ngay hôm sau lão ta đã về tiểu đoàn cảm tử của lão, nhưng mẹ lại không cho chúng tôi – tôi và em gái – rời khỏi mẹ một bước! Mẹ tôi buồn nôn luôn và cứ hay nheo mắt lại như đang cố ngắm nhìn một vật gì đó. Không hiểu sao dì Dasha lại rất lo lắng về cử chỉ đó của mẹ. Mẹ ốm mất ba tuần, rồi tưởng đã bắt đầu bình phục, nhưng không ngờ bỗng nhiên bệnh lại “ám”.

Có lần tôi tỉnh giấc lúc sắp sáng và thấy mẹ đang ngồi trên giường, chân để trần buông xuống đất.

- Mẹ!

Mẹ lại nheo mắt nhìn tôi, nhưng tôi bỗng hiểu rằng mẹ không trông thấy tôi nữa.

- Mẹ ơi! Mẹ!

Tôi muốn đặt mẹ nằm xuống, nhưng mẹ vẫn giữ cái vẻ trang nghiêm chăm chú mà gạt tay tôi ra…

Bắt đầu từ hôm đó, mẹ không ăn uống gì cả. Bác sĩ dặn phải bắt mẹ ăn trứng và bơ. Ý kiến đó của bác sĩ tất nhiên là rất tốt. Song chúng tôi không có tiền, vả lại trong phố chẳng có trứng mà cũng chẳng làm gì có bơ.

Dì Dasha vừa gắt mẹ vừa khóc. Còn mẹ thì cứ nằm đấy, hai cái bím tóc đen nhánh vắt chéo trước ngực, nét mặt ngơ ngác buồn rầu chẳng nói một lời nào. Chỉ có một lần khi dì Dasha bực quá bảo rằng dì biết tại sao mẹ lại không ăn, vì mẹ không muốn sống nữa nên mẹ mới không ăn. Lúc đó mẹ mới lẩm bẩm mấy tiếng gì ấy, cau mày lại rồi quay người đi.

Từ ngày bị ốm, mẹ rất thương yêu tôi, có lẽ không kém gì thương yêu em Sanya. Mẹ thường nhìn tôi rất lâu, rất chăm chú, hình như có vẻ ngỡ ngàng. Trước khi ốm không bao giờ mẹ khóc, thế mà giờ đây mẹ lại khóc suốt ngày và tôi hiểu tại sao mẹ lại khóc. Mẹ rất hối hận vì trước đây mẹ không thương yêu tôi, vì mẹ đã quên mất cha tôi, và cũng có thể mẹ muốn chúng tôi tha lỗi cho mẹ đã lấy lão Gaer, tha lỗi cho mẹ về tất cả những điều mà lão ta đã hành hạ chúng tôi. Song tôi thì cũng cứ như người mất hồn, tay chân đờ đẫn, chẳng làm gì và cũng chẳng nghĩ gì. Cuộc nói chuyện cuối cùng của tôi và mẹ tôi là thế này: cả tôi và mẹ chẳng ai nói lấy một lời, mẹ gọi tôi đến bên cạnh, nắm lấy tay tôi rồi lắc đầu và cố gắng sức mím đôi môi đang run… Tôi hiểu rằng mẹ muốn vĩnh biệt tôi, nhưng tôi thì lại cứ cúi đầu xuống đứng ngây ra như khúc gỗ, nhìn chăm chăm xuống sàn nhà.

Ngày hôm sau thì mẹ mất…

Lão bố dượng tôi mặc quân phục dã chiến, vai đeo súng trường, thắt lưng gài lựu đạn, đứng ở ngoài cửa mà khóc, nhưng chẳng hiểu tại sao mọi người chẳng ai để ý đến lão.

Tôi và em gái ngồi ngoài sân, bất cứ ai đến nhà tôi cũng dừng lại bên chúng tôi và đều nói những câu như nhau là “Các cháu thương mẹ lắm phải không?” hoặc “Thế là còn hai đứa mồ côi không cha không mẹ”. Lúc ấy người ta đang làm một cái nghi thức đáng sợ nào đó, kể cả việc các bà cụ hay đến nhà Skovorodnikov chơi bài – đang đóng chặt cửa làm gì trong nhà tôi, lát sau họ xách những thùng nước ra, váy vén lên và tay áo xắn cao như mới cọ nhà xong, cả việc dì Dasha chạy đi lấy cái “cành phan”. Tôi cho rằng chúng tôi phải ngồi ngoài sân chờ cái nghi thức ấy kết thúc. Thế là chúng tôi cứ ngồi chờ.

Rất nhiều năm sau khi tôi đọc câu sau đây của Balzac “Đau thương có thể làm cho năng lực quan sát nhạy bén hơn”, tôi liền hồi tưởng lại những ngày họ thay quần áo, làm lễ chiêu hồn và đưa đám mẹ tôi. Bất kỳ một câu nói, một cử chỉ của tôi hay của người khác tôi cũng đều ghi lại sâu sắc trong trí nhớ của tôi. Tôi hiểu tại sao ngày đầu tiên khi mẹ nằm ở trên bàn, hai tay bắt chéo ôm tượng thánh thì mọi người đều chỉ nói thì thào, rồi sau đó càng ngày tiếng càng to hơn và cuối cùng thì cứ nói như thường. Họ đã quen đi, cả ông Skovorodnikov, cả lão bố dượng tôi và cả dì Dasha đều đã quen đi với cái chết của mẹ. Tôi rất kinh ngạc khi thấy ngay bản thân tôi bỗng nhiên cũng đã nghĩ sang chuyện khác.

Chẳng lẽ tôi cũng đã quen đi rồi hay sao, chẳng lẽ tôi lại đang nghĩ đến hòn cái đáo có gắn chì mà thằng Petya cho tôi từ lâu lắm, nhưng vì mẹ chết nên tôi chưa định đem thử hòn cái đáo ấy! Thế là tôi liền hối hận ngay lập tức và buộc mình phải nghĩ đến mẹ.

Cả hôm đưa ma cũng vậy.

Bé Sanya bị nhức đầu nên người ta để nó ở nhà. Bố dượng tôi bị gọi về doanh trại từ sáng sớm nên không kịp về đưa đám. Chúng tôi chờ lão ta suốt hai tiếng đồng hồ vẫn không thấy mới đưa linh cữu đi. Chỉ có ông Skovorodnikov, dì Dasha và tôi.

Hai người đi bộ sau xe, dì Dasha nắm lấy một cái móc ở xe để khỏi bị tụt lại, còn tôi thì được ngồi lên xe.

Thật xấu hổ khi nhớ lại rằng tôi đã cảm thấy vinh hạnh khi những đứa trẻ con quen tôi dừng lại đưa mắt nhìn theo đám ma đi qua hoặc là có người đi nối vào theo chúng tôi mấy phút để hỏi xem ai chết. Song tôi đã tự trách mình ngay. Chúng tôi cứ đi xa mãi. Người xà ích với thái độ dửng dưng của người ngoài cuộc, đầu đội mũ kê-pi, mình mặc chiếc áo dài bẩn thỉu, giọng ngái ngủ thúc con ngựa gầy nhom. Lúc đó thật có trời biết được ý nghĩ của tôi lại bay đi tận đâu đâu rất xa cái quan tài có tấm vải trắng rách phủ chưa kín ấy.

Chân tường thành kia rồi. Những lỗ hổng trên tường thành đều được bịt kín bằng gỗ để những người không có vé không vào chơi trong vườn Mùa Hè được. Ngoài tôi và Petya ra không ai biết rằng chỉ cần xê dịch tấm ván sát tấm cuối cùng ra là chui vào vườn hoa được. Muốn nghe ca nhạc thì nghe, nếu muốn thì cũng có thể đến khu trồng hoa ngắt trộm hoa thập tự, chờ diễn kịch xong có thể bán cho khán giả năm cô-pếch một chùm.

Đã đến khu nhà của trường sĩ quan, có nhiều xe chở những tấm đệm giường đỗ trong sân, rất nhiều người không biết là sĩ quan hay học viên mặc áo ca-pốt màu sáng đang vội vàng khiêng những tấm đệm lên bịt kín cửa sổ tầng gác thứ hai. Kia là đồi Afonin mà trong thành phố người ta truyền tụng rằng đó là một cái nhà thờ bị lấp đi và cứ đến đêm lễ Phục sinh, vẫn văng vẳng có tiếng hát từ dưới đất vọng lên. Có người đi lại trên đỉnh đồi Afonin. Tôi chăm chú nhìn và thấy đó cũng là những người mặc áo ca-pốt màu sáng đang ẩn hiện giữa những đống cành cây.

Và bỗng nhiên tôi tỉnh hẳn. Tôi nhận ra vừa rồi lúc đi qua quảng trường Chợ nom thấy một người lính gác ở cửa Viện Tư pháp, trong vườn hoa phía sau hàng rào sắt có một số người mặc quần áo thường dân đang hấp tấp chạy đi chạy lại, một người đang kéo khẩu súng máy. Các hiệu buôn đều đóng cửa, phố xá vắng ngắt, đi hết cả dãy phố Sergievskaya chúng tôi cũng không gặp một người nào, Chuyện gì xảy ra vậy?

Người xà ích trong bộ quần áo bẩn thỉu luôn tay quất roi vào con ngựa để chạy cho mau. Dì Dasha và ông Skovorodnikov cố gắng lắm mới theo kịp xe. Chúng tôi đi ra bãi đất hoang Posadskaya, đó là tên gọi khoảng đất trống bẩn thỉu nằm giữa thành phố và khu chợ Posad, ở đấy có một cái dốc chạy xuống bờ sông và cái cầu Melnichy… Có tiếng gì vang lên ngắn gọn ở phía xa. Người xà ích hốt hoảng ngó quanh rồi do dự giơ cái roi ngựa lên. Dì Dasha đuổi kịp chúng tôi và gắt ầm lên:

- Bác này điên đấy à? Có phải là chở củi đâu mà đánh xe như thế!

- Họ bắn đấy! – Người xà ích sầm mặt nói.

Cái dốc bờ sông chạy xuống giữa hai vách đất cao nên chúng tôi đi trên con đường đó mấy phút mà chẳng nhìn thấy gì ở hai bên. Có tiếng súng nổ ở đâu đó, nhưng mỗi lúc một thưa. Đã nhìn thấy cái cầu Melnichy mà tôi đã từng câu cá ở đấy nhiều lần. Bỗng người xà ích nhổm hẳn lên vung cái roi ngựa… Con ngựa co chân vùng chạy, và xe chúng tôi phóng dọc theo bờ sông, bỏ lại ông Skovorodnikov và dì Dasha tụt xa ở phía sau.

Chắc là có những viên đạn bắn trúng xe, bởi vì những mảnh gỗ ở bánh xe bay ra tung tóe, một mảnh bắn trúng vào mặt tôi. Tay tôi nắm chặt một cái cột chạm trổ trên xe, nó xiêu đi, kêu răng rắc, chúng tôi bị lắc mạnh và rơi tuột xuống đường. Tôi nghe thấy tiếng ông Skovorodnikov đang la hét và tiếng dì Dasha kêu khóc chửi rủa ở phía sau.

Người xà ích kéo sụp mũ xuống hoa ngọn roi trên đầu, thúc ngựa chạy thẳng lên cầu, tựa như không nhìn thấy đầu cầu đã bị những đống xà ván gỗ, gạch ngói chắn ngang. Con ngựa bị tắc nghẽn quay sang phải, lách sang trái rồi đứng lại.

Một đám người từ đằng sau vật chướng ngại chạy ra; trong đó tôi nhận ra ông thợ sắp chữ mùa hè năm ngoái đã thuê một phòng của bà đoán số ở cạnh nhà chúng tôi. Tay ông cầm súng trường, một khẩu súng sáu giắt trên chiếc thắt lưng da nom rất lạ thắt ngoài chiếc áo bành-tô thường dân. Người nào cũng có vũ khí. Có người còn đeo cả kiếm.

Người xà ích xuống xe, phanh áo ra, nhét cái roi ngựa vào trong ủng rồi gắt ầm lên:

- Các người không nom thấy đây là đám ma à? Tí nữa thì bắn chết cả ngựa của người ta!

- Chúng tôi không bắn đâu, đó là anh bị bọn sĩ quan bắn đấy, – người thợ sắp chữ bác lại. – Thế anh không nhìn thấy những cái chướng ngại vật à, anh chàng ngốc?

- Tên anh là gì? – Người xà ích hỏi. – Anh sẽ chịu trách nhiệm! Ai sẽ trả tiền sửa chữa cái này? – Bác ta đi vòng quanh xe, lấy tay sờ những chỗ bị bắn gãy. – Các anh bắn gãy mất cả nan hoa bánh xe rồi!

- Đồ ngốc! – Người thợ sắp chữ lại nói. – Tôi đã nói với anh rằng không phải chúng tôi bắn. Chúng tôi bắn vào quan tài để làm gì? Đồ ngốc!

- Đám ma ai thế? Chú bé? – Một người đàn ông đứng tuổi đầu đội mũ da lông, trên mũ có sợi băng đỏ thay cho phù hiệu hỏi nhỏ tôi.

- Mẹ cháu, – tôi trả lời khó nhọc.

Ông này bỏ mũ xuống.

- Các đồng chí, khẽ chứ! – Ông nói. – Đây là đám tang. Cháu bé này đang đưa ma mẹ. Dầu sao thì thế này cũng không tốt.

Mọi người nhìn tôi. Chắc lúc ấy nom tôi cũng chẳng ra hồn người, bởi vì khi mọi việc đâu vào đấy và dì Dasha vừa gào vừa khóc đuổi kịp chúng tôi; chúng tôi chui qua cái cối xay đi lên cầu thì tôi phát hiện thấy trong túi áo có hai viên đường và một khoanh bánh khô bằng mì trắng.

Sau khi chôn cất xong, chúng tôi mệt mỏi lại đi dọc theo bờ sông Peschinka về nhà.

Bầu trời trên thành phố rực hồng – trại lính của trung đoàn Krasnoyarsk bị cháy. Đến cầu phao, ông Skovorodnikov gọi người lính gác ông quen lại và nói chuyện rất lâu. Họ nói những gì tôi không hiểu: một con đường nào đó bị ai phá hoại, binh đoàn kỵ binh tiến vào Petrograd, tiểu đoàn cảm tử chiếm nhà ga. Cái tên “Kerensky” được nhắc đến nhiều lần. Tôi đứng không vững nữa, còn dì Dasha thì vừa kêu lên ngạc nhiên vừa thở dài.

Lúc về đến nhà thì em tôi đã ngủ. Tôi chẳng cởi áo, ngồi lên giường ngay bên cạnh nó. Không hiểu tại sao đêm đó, cái đêm đầu tiên chúng tôi còn lại một mình ấy, dì Dasha lại không đến ngủ với chúng tôi. Dì mang cháo đến nhưng tôi không muốn ăn nên dì đặt cái đĩa lên cửa sổ. Để trên cửa sổ chứ không phải để trên cái bàn mà sáng nay mẹ tôi đã nằm. Đó là lúc sáng, còn bây giờ là nửa đêm. Sanya ngủ trên giường của mẹ, chính cái giường mà mẹ đã nằm trên đầu có vòng hoa nhỏ và tay cầm cành phan. Lúc đó tôi không biết cái giấy cuộn tròn thành hình ống ấy lại gọi là cành phan.

Tôi đứng dậy và đi đến cửa sổ. Ngoài sân trời đã tối, nhưng phía trên sông ánh lửa rực hồng, những luồng khói đen kèm theo lửa đỏ bay lên rồi tắt ngấm.

Trại lính vẫn còn đang cháy, nhưng ở tận phía bên kia đường sắt cách chỗ chúng tôi rất xa. Tôi nhớ lại mẹ tôi đã nắm tay tôi, mẹ lắc đầu và cố không khóc. Tại sao tôi lại không nói với mẹ câu nào? Lúc đó mẹ rất mong đợi ở tôi dù chỉ là một lời thôi.

Hình như bên ngoài trời nổi gió, cát sỏi dưới sông cứ dội lên bờ ào ào, trời đổ mưa. Tôi ngồi rất lâu chẳng nghĩ ngợi gì mà chỉ nhìn những giọt nước mưa nặng hạt chảy theo cửa kính, lúc đầu còn từ từ, sau cứ chảy nhanh dần lên.

Tôi mơ màng thấy có ai đó đẩy cửa đi vào buồng, cởi chiếc áo ca-pốt ướt ra ném xuống sàn. Tôi không nhận ra ngay rằng đó chẳng phải là trong giấc mơ. Lão bố dượng tôi đang cuống cuồng chạy khắp nhà, cởi chiếc áo lính ra. Lão ta nghiến răng, lôi chiếc áo qua đầu, song cái áo cứ vướng mãi ở lưng. Lão cởi trần chạy đến chiếc hòm đồ đạc của lão và lấy cái ba-lô ra.

- Chú Pyotr Ivanych!

Lão liếc nhanh nhìn tôi và chẳng trả lời gì. Người lão đầm đìa mồ hôi, mình đầy lông lá, lão hối hả lấy quần áo trong hòm ra nhét vào ba-lô. Lão cuộn cái chăn lại, lấy đầu gối đè lên rồi cột vào dây da. Hai môi lão động đậy nom rất thâm hiểm, lộ rõ hai hàm răng nghiến chặt vừa dài vừa to đúng như răng chó sói.

Lão mặc vào người ba cái áo, còn cái thứ tư nhét vào ba-lô.

Chắc hẳn lão đã quên rằng tôi không ngủ, nếu không thì lúc lão ta giật cái áo nhung cộc tay của mẹ tôi treo trên cái đinh xuống bỏ vào ba-lô, lão cũng thấy nhục chứ!

- Chú Pyotr Ivanych.

- Câm đi! – Lão ngẩng đầu lên quát. – Quỷ tha ma bắt cả đi!

Lão ta thay giày xong, mặc áo ca-pốt vào, bỗng lão nhìn thấy trên tay áo có cái phù hiệu đầu lâu và hai cái xương. Lão chửi một tiếng lại cởi áo rồi dùng răng xé cái phù hiệu đầu lâu và hai cái xương ra. Lão khoác ba-lô lên vai rồi ra đi, suốt mươi năm trời tôi không gặp lại con người ấy nữa. Lão ta chỉ còn để lại trên sàn nhà những dấu chân nhơ nhớp và một cái hộp thuốc lá bằng sắt nhãn hiệu “Katyk” lão vẫn đựng cúc gài tay áo và kim găm đủ màu.

Đến hôm sau thì mọi việc đã rõ ràng, ủy ban quân sự cách mạng tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết trong thành phố. Tiểu đoàn cảm tử và những kẻ tự nguyện gia nhập nó chống cự lại chính quyền Xô Viết đã bị đánh tan.

ồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Veniamin Kaverin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.