Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15 Vanokan
Chương 15 Vanokan

❊ ❊ ❊

Thật tình mà nói, cho đến bây giờ tôi vẫn không biết những người Nenets đã kiếm ở đâu ra khúc gỗ để cho chúng tôi làm càng máy bay. Ban đêm họ mang giày trượt tuyết đi đến một khu du mục nào đó ở gần đấy và khi trời sáng chúng tôi chui ra khỏi cái lều, ở đấy tôi đã nằm một đêm thấp thỏm nhất trong tất cả đời tôi, chúng tôi đã thấy khúc gỗ cây bá hương này nằm ngay cạnh lối ra vào.

Quả thật đó là một đêm chẳng vui vẻ tí nào cả. Chỉ có bác sĩ Ivan Ivanych ngủ được ở bên cạnh đống lửa. Hai cái tai mũ dài vểnh lên trên đầu, thò ra ngoài cái áo khoác da lông giống như tai thỏ trông rất buồn cười. Luri cứ trằn trọc và ho mãi. Tôi không ngủ. Một chị người Nenets ngồi bên cạnh cái nôi. Tôi nghe rất lâu chị ta hát một bài hát đơn điệu, hững hờ nhưng đồng thời lại có vẻ say mê, vẫn những từ ấy cứ lặp đi lặp lại từng phút một và cuối cùng tôi cảm thấy cả bài hát của chị chỉ gồm khoảng vài từ mà thôi. Đứa trẻ đã ngủ từ lâu mà chị vẫn hát. Thỉnh thoảng khuôn mặt tròn trĩnh của chị lại sáng lên khi những cành liễu tươi bốc cháy và khi đó tôi nom thấy chị vừa nhắm mắt vừa hát. Chị hát như thế này – sáng ra bác sĩ đã dịch lại bài hát đó cho tôi nghe:

Đang độ mùa đông,

Nhìn ra tứ phía,

Con yêu của tôi,

Khắp trời trắng xóa,

Con yêu của tôi.

Tôi nhìn ra hồ,

Chỉ thấy nước đá

Lấp lánh màu xanh

Con yêu của tôi.

Đồng rêu tuyệt vời,

Khắp trời trắng xóa,

Con yêu của tôi.

Tai con xinh thế,

Con yêu của tôi.

Mắt con xinh thế,

Con yêu của tôi.

Mũi con xinh thế,

Con yêu của tôi.

Nhìn ra ngoài trời,

Trời mây trắng xóa.

Đồng rêu tuyệt vời.

Cái cảm giác mà tôi đã thể nghiệm khi nói chuyện với Katya, nay lại đến với tôi. Nó mãnh liệt đến nỗi tôi cứ muốn vùng dậy đi ra khỏi nhà lều, để khỏi phải nghe cái bài hát sầu não mà chị con gái người Nenets vừa hát vừa nhắm mắt. Nhưng tôi không dậy. Chị ta hát chậm dần, khẽ dần và rồi im bặt, ngủ thiếp đi. Trừ tôi ra còn cả thế giới đều đang ngủ. Chỉ có mình tôi nằm trong bóng tối và cảm thấy trái tim mình đang than vãn nỗi cô đơn và lạnh lẽo. Nếu mọi việc đều đã kết thúc rồi, nếu giữa chúng tôi đã không có và sẽ không thể có bất kỳ mối quan hệ nào, mà chỉ như người dưng nước lã thì cái vật tìm thấy này để làm gì? Tôi cố gắng kìm chế mình, nhưng không tài nào kìm chế nổi. Tôi cứ phải cố mãi, cố mãi cho đến khi cuối cùng ngủ thiếp đi.

Đến khoảng trưa thì chúng tôi chữa được cái càng máy bay. Chúng tôi đem khoan mấy lỗ ở khúc gỗ tròn rồi lắp vào máy bay thay càng. Để cho chắc chắn hơn, chúng tôi lấy dây buộc thêm vào. Hiện nay máy bay như bị nạn, trông rất đáng thương. Tôi và Luri bước xa ra mấy bước, đánh giá công việc này một cách lạnh lùng.

- Thế nào?

Luri hoa tay có vẻ khó chịu.

Chẳng sao cả, cứ cho là mọi việc đều tốt đẹp đi. Phải đun ít nước nóng để phát động máy nổ.

Chúng tôi bỏ tuyết vào những chiếc bi-đông rồi đặt bi-đông lên bếp đèn cồn. Thật là một việc khổ sở! Cái bếp đèn cồn của chúng tôi cháy tồi quá, cái “máy quý hóa” mà mỗi gia chủ không thể thiếu được này tồi quá.

Nhưng rồi tất cả cũng đâu vào đấy, động cơ đã nóng. Có thể khởi động được rồi. Những người Nenets kéo sợi dây khởi động[1].

- Chú ý!

- Sẵn sàng.

- Hai, ba nào – kéo!

Sợi dây tuột ra, những người Nenets ngã lăn ra tuyết.

Làm lại:

- Chú ý!

- Sẵn sàng!

- Hai, ba nào – kéo!

Phải làm đi làm lại đến bốn lần. Cái máy nổ rung lên kêu bành bạch quay được khoảng hai chục vòng rồi lại tắt. Nhưng cuối cùng cũng khởi động được. Giờ chia tay đã đến! Những người Nenets vây chặt lấy chiếc máy bay. Tôi đi bắt tay từng người, cám ơn họ đã giúp đỡ, chúc họ săn bắn được nhiều kết quả… Họ cười rất hả hê. Còn vị hoa tiêu của chúng tôi cười ngượng nghịu, chui vào máy bay. Tôi không biết lúc chia tay, anh ta đã nói những gì với vợ, nhưng chị đứng bên cạnh máy bay phấn khởi lắm. Chị mặc cái áo khoác da lông to có viền nỉ nhiều màu, ở dưới thắt cái thắt lưng to bản, đội cái mũ gió bằng lông rộng vành làm cho gương mặt chị sáng sủa hẳn lên.

Cái mũ gió này phải cao đến nửa thước, bên trên cắm những vật gì nho nhỏ, bên dưới mũ là khuôn mặt nhỏ nhắn tròn trĩnh, đó là tất cả những gì tôi nhìn thấy lúc chia tay.

Theo thói quen, tôi giơ tay như xin phép những người Nenets cho tôi được cất cánh.

- Xin chào tạm biệt, các đồng chí nhé!

Chúng tôi cất cánh…

Tôi không định kể lại chúng tôi đã bay đến Vanokan như thế nào, khả năng quan sát địa hình của người hoa tiêu của chúng tôi khiến tôi phải khâm phục như thế nào. Anh ta nhìn xuống bình nguyên phủ tuyết trắng xóa một màu mà thành thạo cứ như người ta xem bản đồ vậy. Khi bay trên không phận một đội du mục, anh ta đề nghị tôi dừng lại một lát, nhưng anh đã rất buồn khi biết máy bay không thể dừng lại được.

Tôi không định kể lại chúng tôi đã hạ cánh xuống Vanokan như thế nào. Những phi công lái máy bay thí nghiệm đều rất quen thuộc với cảm giác đặc biệt có tính chất nghề nghiệp này, một cảm giác pha trộn gồm tính mạo hiểm, tinh thần trách nhiệm, cộng với sự phấn chấn. Cuối cùng chúng tôi đã bay trên một chiếc máy bay có cấu trúc mới với cái càng bằng gỗ – quả là một tin mới lạ đối với giới chế tạo máy bay! Hình như tôi đã đặt toàn bộ trọng lượng máy bay lên cái bánh còn tốt, cho nên khi máy bay còn chưa dừng lại hẳn, Luri đã nhảy ra khỏi máy bay và giơ ngón tay cái lên với tôi.

Tôi không định kể lại ở Vanokan, người ta đã đón tiếp chúng tôi như thế nào. Có ba nhà cùng đặt bếp nấu nước trà, còn nhà thứ tư thì có một em bé rơi ra khỏi cái nôi làm cho bác sĩ phải đến chữa bệnh ngay lập tức. Tôi không định kể lại họ đã thết đãi chúng tôi bằng món cá hồi và bánh ga-tô như thế nào, tôi đã tổ chức một tiểu tổ mô hình máy bay ra sao, và đã cho các em thiếu nhi đội thiếu niên nhi đồng ngồi lên máy bay như thế nào. Nhân dân Vanokan đã khẳng định với tôi rằng, đúng ngày và giờ chúng tôi bay đến, trên không phận của thôn đã có hai chiếc máy bay nữa cũng bay qua. Về sau tôi đã đoán đúng, thì ra đó chính là máy bay của tôi, bởi vì trước khi hạ cánh tôi đã lượn ba vòng.

Nhưng có một việc tôi không thể không kể lại ở đây, đó là việc bác sĩ Ivan Ivanych ở Vanokan.

Chúng tôi tìm được Ledkov trong tình trạng rất xấu. Không phải tôi chỉ gặp ông có một lần ở các hội nghị mà có một lần tôi còn đưa ông từ Krasnoyarsk về Igarka. Thêm vào đó kiến thức văn nghệ của ông đã làm cho tôi phải khâm phục. Thì ra ông đã tốt nghiệp Trường đại học Sư phạm ở Leningrad và nói chung ông là một người có văn hóa, có giáo dục. Trước năm hai mươi ba tuổi ông đã từng là mục đồng ở Đồng rêu. Chả trách người Nenets nói về ông đều tỏ vẻ tự hào và yêu mến.

Nhưng con người tuyệt vời, thông minh, nhà hoạt động chính trị xuất sắc ấy hiện nay đang nằm ở đây, bị một tên chó má nào đó bắn bị thương. Lúc tôi vừa bước vào cửa, tôi không nhận được ra ông, bởi vì ông thay đổi ghê quá.

Thậm chí không thể nói được là ông đang nằm nữa. Ông ngồi ở trên giường, nghiến răng lại vì đau đớn. Và nỗi đau đớn nhấc ông lên: ông đứng dậy, tay nắm lấy thành giường, rồi nhảy tót lên một chiếc ghế. Nhìn nỗi đau đớn giày vò một con người cao lớn, khỏe mạnh như thế thật là đáng sợ. Thỉnh thoảng nỗi đau đớn dịu đi vài phút, lúc đó trông mặt ông mới ra hồn người. Sau đó lại tái diễn như thế! Ông cắn chặt môi trên, đôi mắt – đôi mắt khủng khiếp của người tráng sĩ không còn đủ sức để kìm chế mình được nữa – cũng khác hẳn đi. Thế rồi ông đứng phắt lên trên cái chân còn lành mạnh và lấy đà quăng mình lên giường. Nhưng ngay ở trên giường ông cũng luôn luôn vật vã thân mình. Không biết có phải vì viên đạn bắn trúng một hệ thần kinh nào đó hay là vết thương mưng mủ đau quá không chịu nổi. Nhưng cả đời tôi, tôi chưa bao giờ trông thấy cảnh nào kinh khủng hơn. Trông ông thật đáng thương khi ông quằn quại ở trên giường, đau đớn cố gắng ngồi dậy thì ai nấy đều bất giác cau mày lại, Bỗng nhiên ông lại đem toàn lực ra nhảy phắt một cái lên chiếc ghế.

Nhìn thấy những người bệnh như thế thường làm cho người ta mất hết lý trí. Nhưng bác Ivan Ivanych lại không như thế mà trái lại, bác bỗng trở nên trẻ ra, bác dẩu môi ra và trở thành giống như một người bác sĩ quân y trẻ tuổi mà ai cũng sợ. Bác liền đuổi ngay tất cả mọi người ra khỏi buồng người bệnh, cả đến vị chủ tịch ban chấp hành khu bác cũng không từ. Vị này không hiểu sao cứ nhất định đòi tham gia vào việc chẩn đoán bệnh cho Ledkov. Khi bà y sĩ địa phương, một bà già gầy gò đeo kính, vội vàng đến trước mặt bác, bác hỏi bà một cách khách sáo:

- Bà đã tham gia việc cưa ống chân lần nào chưa?

Với động tác khéo léo, tự nhiên bác sắp xếp lại toàn bộ đồ đạc trong phòng trong một phút. Bác đưa chiếc bàn thừa ra ngoài, khiêng cái bàn dùng để chuẩn bị mổ vào giữa phòng dưới chiếc đèn treo.

Bác ra lệnh tập trung đèn toàn thôn lại, nhưng “không ngọn đèn nào được bốc khói”. Bác treo đèn rải trên bốn bức tường. Thế là căn phòng này lập tức sáng rực lên như xưa nay ở Vanokan chưa hề thấy.

Bác vừa mới nhướn lông mày lên thì bà y sĩ gầy gò đã chạy đi lấy chiếc khăn mặt mà bác cho là không được sạch cho lắm. Tôi nghe ở dưới bếp bà ta cũng nói giọng gay gắt nhưng cũng lịch thiệp như bác sĩ:

- Các bạn nhỏ ôi, các bạn muốn đưa tôi vào quan tài đấy phỏng?

Nhưng chẳng có ai muốn đưa bà vào quan tài cả. Mọi người đều ba chân bốn cẳng chạy đi chạy lại và đều gọi bác sĩ là “nó”.

Bác sĩ lấy bàn chải, rửa tay bằng xà phòng có tới nửa tiếng đồng hồ. Bác căn dặn người này, người khác rất lịch thiệp. Sau đó bác không lau khô tay, cứ thế đi vào phòng người bệnh, bác dừng chân, dạng chân, xòe tay ra, liếc nhìn chung quanh có vẻ bình phẩm. Sau đó cánh cửa đóng lại. Cả phòng sáng như tuyết, người bệnh nằm trên cái bàn trắng như tuyết và những người mặc áo choàng trắng như tuyết – cái cảnh tượng kỳ diệu đối với Vanokan liền biến mất.

Đấy, bác sĩ Ivan Ivanych của chúng tôi ở Vanokan xử sự như thế đấy. Sau bốn mươi phút bác từ trong phòng mổ đi ra. Quá trình mổ chắc chắn là tốt đẹp, cho nên bác vừa cởi áo choàng vừa nói mấy câu tiếng Latin với tôi, và sau đó trích dẫn mấy câu của Kozma Prutkov:

- “Nếu bạn muốn là một người hạnh phúc thì xin cứ việc!”

Từ mờ sáng chúng tôi cất cánh từ Vanokan và sau ba giờ ba mươi phút chúng tôi đã hạ cánh ở Zapolyarye không gặp trở ngại gì.

Về trường hợp này, tức là về cuộc mổ xuất sắc mà bác sĩ đã thành công trong điều kiện khó khăn như vậy, và nói chung về chuyến bay của chúng tôi, sau này báo “Tin tức” có đăng một bài bút ký. Bài báo kết thúc bằng câu “Sức khỏe của bệnh nhân đang được khôi phục nhanh chóng”. Thật vậy, bệnh nhân bình phục rất nhanh.

Tôi và Luri cũng nhận được thư khen, còn bác sĩ thì được bằng khen của khu dân tộc Nenets.

Chiếc câu liêm cũ bằng đồng thau hiện đang treo trên tường trong phòng tôi bên cạnh tấm bản đồ lớn. Trên bản đồ đó có đánh dấu tuyến đường bị trôi của chiếc tàu buồm “St. Maria”.

Đầu tháng sáu tôi về Moskva. Thật tiếc là tôi có rất ít thì giờ: tôi chỉ được nghỉ có mười ngày. Trong mười ngày đó tôi không những phải làm công việc của cá nhân mà còn phải làm những công việc riêng và chung của vị thuyền trưởng kia nữa.

Trên dọc đường tôi suy nghĩ rất nhiều, nghĩ về mình, nghĩ về quan hệ giữa tôi và Katya, rồi câu chuyện của cha cô lại hiện lên trên tất cả những ý nghĩ này, hình như nó đòi hỏi phải đặc biệt chú ý và tôn kính. Dù muốn hay không tôi vẫn gặp ông trong mỗi bước ngoặt của cuộc đời mình. Cuối cùng từ những mảnh trong câu chuyện của ông mà tôi đã thu thập được, tôi có thể ghép thành một bức tranh hoàn chỉnh. Chiếc câu liêm cũ bằng đồng thau chính là bằng chứng của nét vẽ cuối cùng đầy tính lô-gích trong bức tranh này. Trong đó vấn đề phức tạp nhất cũng đã được giải quyết vì có được vật này.

Thực ra sau khi đọc xong cuốn nhật ký của người hoa tiêu tôi tự hỏi: “Liệu sau này mình có biết điều gì đã xảy ra đến với thuyền trưởng Tatarinov không? Ông có bỏ tàu để đi nghiên cứu dải đất mà ông đã phát hiện ra không? Hay đã cùng chết đói với những người của mình trên chiếc tàu buồm bị băng trôi giạt năm này qua năm khác đến bên bờ Greenland?”

- Đúng, – bây giờ tôi có thể trả lời được. – Ông đã bỏ tàu. Tạm thời chúng tôi còn chưa biết việc này xảy ra trong hoàn cảnh như thế nào – vì một bộ phận thủy thủ đã hy sinh hay vì tàu bị băng xô vỡ? Nhưng ông đã thực hiện cái ý nghĩ “trẻ con”, “nông nổi” của mình.

Tôi tự hỏi: “Ông có đến được Bắc địa không?”

- Phải, – bây giờ tôi có thể trả lời được. – Ông đã đến gần Bắc địa. Nếu không cái xe trượt tuyết và cái thuyền con bằng vải thô không thấm nước làm sao có thể xuất hiện ở vùng bờ biển này để cho cụ thợ săn Ivan Vylka nhặt được?

Tôi đã từng tự hỏi: “Nên đi đâu để tìm vết tích của đội thám hiểm này? Có nên đi tìm hay không?”

- Đúng, – bây giờ tôi có thể trả lời được. – Nên đi tìm những vết tích của họ, bởi khi phân tích một cách lô-gích có thể khẳng định một cách chính xác – có sai cũng không sai quá nửa độ – vị trí của khu vực cần tìm. Còn ý nghĩa khoa học của công tác này thì không phải nghi ngờ gì nữa.

Đây là một cuộc đối thoại như ở tòa án, toàn là những câu hỏi và trả lời. Nhưng đằng sau những lời khô khan, lạnh lùng này hình như tôi cảm thấy còn có những lời khác hẳn, tôi đã nhìn thấy Katya mà tôi hằng mong nhớ.

- Cậu quên mình rồi à? Có đúng không?

- Không, – cô trả lời. – Nhưng cuộc đời tuổi mười bảy, mười tám của chúng ta đã kết thúc rồi và cậu đã đi đâu mất, cho nên mình cứ tưởng tình yêu của chúng mình cũng đã kết thúc cùng với quãng tuổi đời ấy.

- Cuộc sống chẳng kết thúc cái gì cả, – tôi nói với cô. – Giờ đây mình biết về ba cậu nhiều hơn cậu, nhiều hơn tất cả mọi người trên trái đất. Cậu xem đây, mình mang về cho cậu những gì đây: đây là toàn bộ cuộc sống của ba. Mình đã đi thu thập những sự tích về cuộc đời của ba và chứng minh đây là một cuộc đời của một con người vĩ đại. Cậu có biết tại sao mình lại làm những việc ấy không? Tại vì mình yêu cậu đấy.

Thế là cô hỏi:

- Như vậy có nghĩa là cậu không quên mình? Có đúng thế không?

Thế là tôi đáp:

- Dù cho cậu không yêu mình nữa, mình cũng không quên cậu.

Đây là cuộc đối thoại kỳ diệu do tôi nghĩ ra trên đường đi. Tuy vậy cũng không thể nói nó hoàn toàn không giống buổi nói chuyện thật sự giữa tôi và Katya sau đó ít lâu. Buổi nói chuyện đó vừa giống lại vừa không giống – cũng như một giấc mơ vừa giống lại vừa không giống với cuộc sống hiện thực.

❀ ❀ ❀

[1] Ngày xưa muốn khởi động động cơ máy bay phải dùng dây buộc vào cánh quạt rồi kéo thật mạnh theo hướng quay của nó giống như quay ma-ni-ven ô tô vậy. – N.D.

ồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Veniamin Kaverin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.