Hồi ấy ông tổng cục trưởng Tổng cục đường hàng không Bắc cực là một nhà nghiên cứu Bắc cực nổi tiếng. Trên tất cả các tấm bản đồ Bắc cực của nước Nga đều dễ dàng tìm thấy tên ông. Hình như muốn được gặp ông cũng không phải là chuyện đơn giản. Nhưng đồng chí Ch. đã gọi điện trước cho ông cho nên tôi được ông tiếp ngay ngày hôm đó. Tất nhiên là tôi cũng phải ngồi chờ một lúc. Nhưng như thế lại càng thú vị, vì trong phòng đợi có khá nhiều thủy thủ và phi công vừa mới từ thành phố Zapolyarye về. Có một người nét mặt hao hao giống Sanya. Tôi bất giác nhìn ngắm anh ta hồi lâu và cố lắng tai nghe xem anh ta nói những gì. Nhưng anh chàng lại hiểu lầm ý tôi nên cố làm ra vẻ nghiêm trang điềm đạm, miệng mỉm cười duyên dáng. Mãi sau, mọi người đều đi hết, chỉ còn lại mỗi mình tôi…
Tôi còn nhớ rất rõ cuộc nói chuyện hôm ấy giữa tôi với ông tổng cục trưởng Tổng cục đường hàng không Bắc cực, vì ngay tối hôm ấy tôi đã viết thư cho Sanya, thuật lại đầy đủ từng câu từng lời của ông cho Sanya biết.
Thoạt tiên tôi có phần xúc động và cảm thấy mình đen đủi, nhưng khi nghe ông hỏi tôi bằng một giọng nhẹ nhàng, lịch thiệp: “Bác có thể giúp cháu được gì bây giờ nào?” – Thế là bao nhiêu sự xúc động của tôi đều biến mất. Sau đó tôi lại cảm thấy xúc động, nhưng là một thứ xúc động hoàn toàn khác trước, xúc động bởi niềm vui sướng đột ngột; nó có thể làm cho ta quên hẳn bản thân mình đi mà cảm thấy sự mát dịu dễ chịu vô cùng trong tâm hồn.
- Có một phi công tên là Grigoriev trình lên bác một bản kế hoạch tìm kiếm đội thám hiểm bị mất tích, – tôi bắt đầu nói. – Nghe nói một đội thám hiểm mới đã được thành lập. Nhưng hôm qua…
Ông chăm chú lắng nghe tôi nói. Trông ông giống hệt như hàng trăm hàng nghìn bức ảnh của ông đã đăng trên các báo và tạp chí. Chợt tôi nảy ra một cảm giác kỳ lạ rằng tuồng như không phải tôi đang ngồi nói chuyện với chính ông, mà là đang nói chuyện với bức ảnh của ông vậy.
- Không, – khi nghe tôi hỏi có phải chính ông cũng cho rằng việc tìm kiếm vị thuyền trưởng mất tích là một việc làm vô ích không, thì ông trả lời dứt khoát. – Song, sau khi nghiên cứu tất cả hai luồng ý kiến “ủng hộ” và “phản đối” việc làm này thì chúng tôi thấy rằng công việc tìm kiếm theo kế hoạch cũ chắc chắn sẽ bị thất bại. Vì một là, địa điểm mà bản kế hoạch nêu ra, trong những năm gần đây đều đã ít nhiều được nghiên cứu, nhưng cho đến nay vẫn chưa hề tìm thấy dấu vết của đội thám hiểm tàu “St. Maria”. Hai là từ Bắc địa đến cửa sông Pyasina cách nhau có đến hơn một nghìn ki-lô-mét, nếu tổ chức tìm kiếm trong một khoảng xa như thế thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Điểm cuối cùng cũng là điểm quan trọng nhất, là bác không tin tưởng vào lời đề nghị chỉ tiến hành tìm kiếm đội thám hiểm đã mất tích của bố cháu trên khu vực này.
- Còn nghi ngờ gì nữa ạ? Chính là đoàn thám hiểm đã mất tích trong khu vực này! – Tôi nói giọng quả quyết.
- Tại sao?
- Tại vì… – Bỗng nhiên tôi quên mất tất cả mọi chứng cứ mà trước nay tôi vẫn thuộc lòng, hơn nữa vừa rồi lúc ngồi ngoài phòng đợi tôi còn nhẩm lại một lượt nữa và đã đếm chúng bằng đầu ngón tay. – Vì…
Ông nhìn tôi chờ đợi. Đôi mắt ông sáng rực, bộ râu đen nhánh. Ông lặng lẽ nhìn tôi chờ tôi nói. Đấy là những giây khắc vô cùng đáng sợ.
- Một là có thể khẳng định điều ấy qua cuốn nhật ký của người hoa tiêu, – tôi nói giọng hơi run run. – Bác có nhớ ông ấy ghi lại lời bố cháu nói trước kia: “Nếu hoàn cảnh bắt buộc phải rời bỏ tàu, thì tôi sẽ đổ bộ lên hòn đảo mà chúng ta đã phát hiện”. Hai là… – tôi mở túi xách tay rút tấm ảnh Sanya để lại đưa cho ông. – Bác xem đây… đằng sau có ghi rõ là hình ảnh của chiếc tàu “St. Maria”. Chiếc câu liêm này được tìm thấy ở Taymyr.
- Thì cứ cho là như vậy đi. Nhưng tại sao lại không thể cho rằng chiếc câu liêm này là của toán người do người hoa tiêu cầm đầu rời khỏi tàu trước đó hai tháng?
- Vì ông hoa tiêu… Bản đồ của bác đâu? – Mặc dù phía trên bàn có treo một tấm bản đồ Bắc cực rất lớn và hai mắt tôi luôn nhìn chằm chằm vào nó; nhưng có lẽ vì quá xúc động, tôi lại không nhìn thấy nó. – Ông ta đi theo hướng trôi của núi băng và hướng đó ngược lại với hướng đi của con tàu. Lập luận như thế được chứ ạ? – Tôi cầm chiếc que và đứng trên mặt ghế vì đứng dưới sàn nhà tôi không thể nào với tới eo biển Flora được. – Bác hãy theo dõi hướng đi của ông ta nhé. Ông ta đã cùng với đội thám hiểm của trung úy Sedov về tới Arkhangelsk. Chúng ta tiếp tục theo dõi, – tôi nói tiếp, cảm thấy toàn thân lạnh toát và mặt tái đi, nhưng tái vì quá xúc động. – Như bác vừa nói, từ Bắc địa đến cửa sông Pyasina, tất cả mọi nơi đều đã được nghiên cứu mà cho đến nay vẫn chưa có ai bắt gặp được dấu vết của đội thám hiểm, dù là một trường hợp ngẫu nhiên đi nữa. Nhưng còn trường hợp Rusanov thì sao? Từ ngày tìm thấy những thiết bị còn lại của ông ta đến khi tìm thấy ông ta phải mất đến bao nhiêu năm. Và đã tìm thấy ông ta ở một nơi như thế nào? Chẳng phải là ở nơi mà tàu bè thường qua lại, khách thập phương thường đi đến đấy ư? Còn hài cốt của người thủy thủ của Amundsen nữa, chẳng phải người ta đã tìm thấy ở Dikson, nơi chỉ cách trạm thám hiểm có ba ki-lô-mét đó ư? Không phải như thế, vấn đề không phải là những nơi đó đều đã được chú ý nghiên cứu, mà vấn đề là ở chỗ từ trước tới nay chưa hề có ai đi tìm bố cháu cả. Tuyến hành trình của bố cháu như sau: từ vĩ độ bảy mươi chín độ ba mươi nhăm phút giữa vĩ tuyến tám mươi sáu và tám mươi bảy tiến thẳng ra đảo Russky rồi ra quần đảo Nordenskiöld. Sau đó có lẽ bị phiêu dạt một thời gian dài, rồi từ eo biển Sterlegov đi vào cửa sông Pyasina. Ở đây có một cụ già người Nenets đã tìm thấy một chiếc thuyền bằng da thú đặt trên xe trượt tuyết. Sau đó con tàu thám hiểm lại chạy về hướng sông Yenisey, vì sông Yenisey là nơi độc nhất có hy vọng gặp được người cứu giúp.
Tôi nhảy xuống khỏi ghế. Ông già rê rê bộ râu, nhìn tôi đầy vẻ lý thú.
- Cháu cầm chắc là như thế chứ?
- Vâng ạ. Không thể có một tình huống khác ạ. Cháu không biết cuối cùng anh Grigoriev đã nêu lên những đề nghị gì? Tàu phá băng “Pakhtusov” đi đến Bắc địa là để tiến hành nghiên cứu khoa học. Đó là đoàn thám hiểm về địa lý thủy văn, có phải không ạ?
- Đúng.
- Thế thì tốt quá. Dọc đường đi nó có thể xây dựng vài ba địa điểm làm nơi đặt chân cho các đội thăm dò sau này. Anh Grigoriev cho rằng chỉ cần tổ chức hai đội, mỗi đội ba người. Còn cháu thì cháu nghĩ rằng phải có đến ba đội. Đội thứ ba có thể thay bằng một chiếc xuồng máy. Các đội này làm việc dọc theo vùng biển ở ngoài các hòn đảo. Còn tàu “Pakhtusov” sẽ làm việc ở một nơi gần đấy, như vậy các đội sẽ giữ được liên lạc thường xuyên với nhau.
Nói đến đây tôi nín bặt vì ông Tổng cục trưởng chợt vừa cười vừa đứng dậy, đến ngồi bên cạnh tôi.
- Khá lắm. Cháu rõ đúng là con gái của thuyền trưởng Tatarinov, – ông nói giọng vui vẻ. – Cháu là nhà địa lý học phải không?
- Không, cháu là nhà địa chất.
- Năm thứ mấy rồi?
Tôi trả lời rằng tôi đã tốt nghiệp đại học và đã công tác tại Cục địa chất ở Bashkir được hai năm.
- Cháu có anh chị em không?
- Không ạ, cháu chỉ có một mình.
- Thế mẹ cháu?
- Mẹ cháu mất rồi.
Ông im lặng hồi lâu đầy vẻ cảm thông. Sau đó ông liền trở lại với phương án của Sanya.
- Tất nhiên là toàn bộ công việc này không đơn giản chút nào, – ông trầm ngâm nói. – Nhưng không phải là không thể tiến hành được… Một chiếc xuồng máy, tất nhiên không phải là vấn đề lớn lao gì. Nhưng trước khi quyết định việc này cần phải gặp Grigoriev đã. Hiện giờ anh ấy ở đâu.
- Anh ấy đang ở thành phố Zapolyarye ạ.
Tim tôi đập rộn lên, và không hiểu vì sao tôi lại nhắc lại một lần nữa:
- Ở thành phố Zapolyarye.
Ông quay sang nhìn tôi, vẻ đầy ý vị.
- Chúng ta sẽ mời anh ấy về ngay đây đi, mời về ngay, – ông nhắc lại với giọng hân hoan như con trẻ. Chỉ qua mấy câu nói và thái độ của ông, tôi đã vỡ nhẽ rằng đồng chí Ch. đã để lộ cho ông biết quan hệ giữa tôi với Sanya rồi. – Cháu nghĩ thế nào. Việc này cần đến sự có mặt của anh ta chứ?
- Vâng, cần ạ, – tôi đánh bạo trả lời.
- Thế này nhé. Hôm nay được làm quen với cháu, bác rất vui mừng, – ông đứng lên, nói giọng nghiêm trang. – Dầu rằng sau này đội thám hiểm có thành lập hay không cũng vậy; hôm nay cháu đến đây trình bày rất sôi nổi, rất nhiệt tình là việc rất có ích, rất tốt.