Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15 Đấu Tranh Và Tìm Tòi, Quyết Đạt Mục Đích Chứ Không Đầu Hàng
Chương 15 Đấu Tranh Và Tìm Tòi, Quyết Đạt Mục Đích Chứ Không Đầu Hàng

❊ ❊ ❊

Tất cả những cuộc lữ hành của các nhà du lịch tí hon mười một, mười hai tuổi đã từng trải qua, dù cho chúng có ngồi dưới gầm ghế trong toa xe lửa hàng tháng trời không rửa mặt chăng nữa thì nói chung cũng giống nhau cả. Bạn chỉ cần xem một vài quyển sách tả cuộc sống của những đứa trẻ lưu lạc thì bạn sẽ tin ngay điều đó. Vì thế tôi sẽ không tả lại tình hình chuyến đi của chúng tôi từ Ensk đến Moskva.

Chẳng bao lâu bảy điều khuyên răn của dì Dasha đã bị quên bẵng đi mất. Chúng tôi cãi nhau, đánh nhau, hút thuốc lá – đôi khi hít cả khói phân khô đốt cho ấm người. Chúng tôi còn bịa đặt ra những chuyện như là cô chúng tôi đi Orenburg mua muối, dọc đường để lạc chúng tôi. Có lúc chúng tôi lại nói là đi tản cư, lên Moskva ở với bà. Chúng tôi giả vờ là hai anh em ruột, điều này làm cho mọi người mủi lòng. Chúng tôi không biết hát nhưng trên nhiều chuyến xe lửa tôi đã đọc bức thư của viên hoa tiêu tàu viễn dương. Tôi nhớ có một lần đến ga Vyshny Volochok, có một người lính thủy tóc đã bạc, nhưng khuôn mặt lại rất trẻ bắt tôi phải đọc lại bức thư đó hai lần.

- Thật lạ lùng, – ông ta nhìn tôi với đôi mắt màu xám nghiêm nghị và nói. – Đội thám hiểm của trung úy Sedov à? Thật lạ lùng!

Nhưng dẫu sao chúng tôi cũng không phải như bọn trẻ lang thang. Chúng tôi không ngừng tiến lên y như thuyền trưởng Hatteras (thằng Petya kể cho tôi nghe câu chuyện về thuyền trưởng Hatteras tỉ mỉ mà chính Jules Verne[1] cũng không ngờ đến). Chúng tôi tiến lên không phải chỉ vì ở Turkestan có bánh mì mà ở đây không có. Chúng tôi tiến lên để phát hiện ra một nước mới – những thành phố đầy ánh nắng mặt trời, những vườn cây bao la. Chúng tôi đã thề với nhau như vậy.

Lời thề đó đã có tác dụng lớn biết bao đối với chúng tôi!

Một lần sắp đến thành phố Russa cổ thì chúng tôi đi nhầm đường và lạc trong rừng. Tôi lăn ra tuyết và nhắm mắt lại. Thằng Petya đem chuyện chó sói ra dọa tôi, mắng tôi, thậm chí còn đánh tôi nữa, song cũng chẳng ăn thua gì. Tôi không bước nổi một bước. Nó bèn giật mũ ra và ném xuống tuyết.

- Mày đã thề rồi cơ mà, Sanka, – nó nói, – đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không đầu hàng. Thế nghĩa là giờ đây mày cam tâm làm một kẻ phản bội lời thề chứ gì? Chính mày đã nói rằng kẻ phản bội lời thề sẽ không bao giờ được dung thứ cơ mà.

Tôi khóc, nhưng đứng lên. Đến tận nửa đêm chúng tôi mới đến một làng cựu giáo, nhưng rồi cũng có một bà cụ cho chúng tôi vào ở nhờ, cho ăn cơm, thậm chí còn cho chúng tôi tắm rửa nữa.

Cứ thế, từ làng nọ sang làng kia, hết ga này đến ga khác và cuối cùng chúng tôi cũng đến được Moskva.

Trên đường đi chúng tôi hầu như bán hết, đổi hết và ăn hết tất cả những gì mang theo từ Ensk đi. Thậm chí đến cả cái bao dao găm mà thằng Petya khâu bằng da chiếc ủng cũ cũng đổi nốt, tôi còn nhớ là chỉ đổi được có hai miếng thịt đông.

Chỉ còn có tờ giấy viết lời thề mà bên dưới ký bằng máu những chữ “PS.” và “AG.” và cái địa chỉ của ông chú thằng Petya là không bị bán đi mà thôi.

Chú! Tôi và thằng Petya chuyện trò về ông chú ấy rất nhiều! Cuối cùng trong trí tưởng tượng của chúng tôi, ông ấy trở thành một vị thần lái xe: bộ râu bay phất phơ theo gió, luồng khói đặc phụt qua ống khói, hơi nước phì ra từ nồi hơi.

Và thế là cuối cùng đã đến Moskva! Vào một đêm tháng Hai băng giá, chúng tôi ngồi trong chuồng xí của toa xe để chờ qua một chặng ga cuối cùng rồi trèo qua cửa sổ chuồng xí chui ra ngoài, nhảy xuống đường ray. Trời tối đen như mực, chẳng nhìn thấy Moskva đâu cả, vả lại chúng tôi cũng chả thiết gì đến nó, vì đây chỉ là thành phố Moskva, còn ông chú thì ở xưởng sửa chữa toa xe thuộc đề-pô số bảy ở ga hàng hóa Moskva cơ. Chúng tôi lạc loanh quanh trên những thanh tà vẹt mất hai tiếng đồng hồ. Những đường ray lúc thì rẽ ra lúc thì nhập vào. Khi trời gần sáng chúng tôi mới thấy đề-pô số bảy. Đó là một tòa nhà ảm đạm có những cửa sổ hình bầu dục tối om, cửa ra vào rất cao cũng hình bầu dục, bên ngoài có mắc cái khóa. Ông chú không có nhà. Thậm chí cũng không có người nào để mà hỏi thăm nữa. Buổi sáng chúng tôi hỏi thăm ban phụ trách đề-pô thì được biết ông chú đã ra mặt trận rồi.

Thế là hết! Chúng tôi đi ra và ngồi trên đống than.

Xin vĩnh biệt những phố xá mọc đầy cam quýt. Vĩnh biệt những đêm ngủ ngoài trời! Vĩnh biệt con dao găm bên sườn và thanh kiếm cong mạ bạc.

Để vớt vát, thằng Petya quay lại chỗ ban phụ trách đề-pô số bảy hỏi xem có phải chú nó đã cưới vợ chưa? Không! Chú nó vẫn độc thân. Ông ấy vẫn sống trên cái toa xe mà sau này đi luôn trên toa xe ấy ra tiền tuyến.

Trời đã sáng hẳn. Giờ đây có thể nhìn thấy rất rõ thành phố Moskva: toàn nhà là nhà (tôi cứ tưởng những tòa nhà ấy đều là các ga). Những đống tuyết khổng lồ, chỉ lác đác vài ba chiếc tàu điện. Lại nhà và nhà.

Làm gì bây giờ?

Những ngày đen tối nhất bắt đầu. Trong thời gian đó còn thiếu việc gì mà chúng tôi không làm! Chúng tôi đi xếp hàng thuê. Lúc đó nhà nước có ban bố sắc lệnh “cưỡng bức lao động” cho nên những nhà tư sản thuê chúng tôi quét tuyết trên vỉa hè trước cửa nhà của họ. Chúng tôi đi dọn phân trong chuồng ngựa của rạp xiếc. Chúng tôi đã ngủ ở thềm cửa nhà người ta, ngoài nghĩa địa, trên trần nhà.

Bỗng nhiên tất cả đều đảo lộn hết.

Tôi còn nhớ lần đó chúng tôi đang đi trên phố Nhà thờ, trong óc chỉ mơ tưởng có một điều: tìm thấy ở đâu đó một đám lửa, lúc đó ngay cả ở trên cầu Kuznetsk người ta cũng hay đốt lửa lên. Nhưng chẳng thấy gì cả! Tuyết, bóng đêm và yên lặng! Một đêm lạnh lẽo. Nhìn khắp bốn phương nhà nào nhà ấy cửa đóng then cài. Chúng tôi lặng lẽ bước đi rét run cầm cập. Tôi chỉ sợ thằng Petya lại giật cái mũ ở trên đầu ra và ném xuống đất, nhưng đúng lúc đó có những tiếng lè nhè say rượu vọng ra từ cái khe bên dưới cánh cổng mà chúng tôi vừa đi qua. Thằng Petya vào trong sân, tôi ngồi lên cái bệ xây cạnh cổng. Rét quá, hai hàm răng đập vào nhau cầm cập. Tôi đút những ngón tay lạnh cóng vào mồm hả hơi cho ấm. Thằng Petya quay lại.

- Vào đây! – Nó mừng rỡ nói. – Người ta cho vào rồi!

❀ ❀ ❀

[1] Jules Verne (1828 – 1905) nhà văn Pháp nổi tiếng chuyên viết truyện phiêu lưu và viễn tưởng. Hatteras là nhân vật chính trong cuốn “Cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Hatteras” của ông. – N.D.

ồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Veniamin Kaverin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.