Tôi ngạc nhiên nhất là bà Maria Vasilievna không hề đả động đến Katya một tiếng nào. Tôi và Katya cùng ở Ensk chín ngày. Nhưng bà Maria Vasilievna không nói một câu nào về chuyện đó.
Đó là một sự im lặng đáng ngờ, làm cho tôi ban đêm trước khi ngủ, buổi sáng lúc đi tập thể dục, rồi giờ lên lớp môn xã hội học, đặc biệt là giờ văn học, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện ấy.
Ở giờ văn học, đáng lẽ tôi phải tập trung suy nghĩ về Gogol và bộ sử thi “Những linh hồn chết” bất hủ của ông – lúc đó chúng tôi đang học tác phẩm này, mới đúng. Đáng lẽ tôi phải cảnh giác đặc biệt là vì sau cuộc họp Hội đồng nhà trường, ông Likho đang tìm mọi cách chứng minh cho toàn trường biết rằng nếu tôi không phải là kẻ duy tâm thì những điều tôi hiểu biết bất kỳ như thế nào cũng không thể vượt được cái điểm “quá kém”.
Nhưng lần này không hiểu tại sao tôi không chờ đợi rằng ông sẽ gọi đến tôi. Khi ông cất cao giọng gọi tên tôi, thậm chí tôi còn giật mình.
- Chúng ta nghe nói có một số nhà hùng biện dám cho phép mình xúc phạm đến những người có công, – ông nói. – Chúng ta hãy thử bàn xem họ có cái quyền đó hay không.
Và ông hỏi tôi đã đọc tác phẩm “Chiếc áo khoác” của Gogol chưa, tựa hồ như bằng cách đó có thể giải quyết được vấn đề vừa rồi.
Mặc dù chúng tôi đã đọc “Chiếc áo khoác” ngay từ hồi còn ở cấp I, ở đây cũng chẳng có gì đặc biệt. Nhưng đi hỏi “Chiếc áo khoác” trong khi giảng về “Những linh hồn chết” thì thật là một sự thô bạo. Song tôi cũng bình tĩnh trả lời ông ta:
- Em đọc rồi.
- Thế thì tốt! Thế anh hiểu như thế nào về câu danh ngôn sau đây của Dostoevsky: “Tất cả chúng ta đều từ “Chiếc áo khoác” của Gogol mà ra”?
Tôi giải thích rằng tuy Dostoevsky nói như vậy, nhưng trong thực tế “Chiếc áo khoác” không xuất hiện cái gì hết. Nhưng sau đó trong văn học và trong xã hội đã xuất hiện một phái khác hẳn. “Chiếc áo khoác” là sự thỏa hiệp đối với hiện thực, còn văn học – ví dụ như Lev Tolstoy lại là đấu tranh với hiện thực.
- Anh muốn tranh luận với Dostoevsky à? – Likho cười khinh bỉ, hỏi tôi.
Tôi trả lời “vâng ạ”, tôi tranh luận, nhưng tranh luận với Dostoevsky không có nghĩa là duy tâm.
Cả lớp cười ầm lên, mặt Likho đỏ gay. Xem ra thì ông ta muốn cho tôi ngay một “điểm xấu”. Ông ta cáu đến nỗi hai tay run lên, nhưng làm như vậy thì không tiện. Để giữ thể diện ông lại hỏi một câu khác:
- Anh hãy nói xem trong các nhân vật của Gogol, nhân vật nào được coi là điển hình “chỉ nói mà không làm”?
Tôi trả lời rằng tất cả các nhân vật của Gogol đều chỉ nói mà không làm, trừ nhân vật Taras Bulba là có thể làm được một số việc theo lý tưởng của mình. Nhưng cũng không nên kết tội Gogol bởi vì cuộc sống lúc đó là như vậy.
Likho lau mồ hôi và cho tôi một “điểm xấu”.
- Thưa thầy Ivan Vitalievich, tôi sẽ yêu cầu để Viện hàn lâm khoa học hỏi tôi, – tôi vừa ngồi xuống vừa nói. – Quan điểm văn học của thầy và tôi có khác nhau.
Ông ta vừa lẩm bẩm định nói gì thì có tiếng chuông.
Bọn trẻ đều cho rằng trong trường hợp này tôi hoàn toàn đúng và ông Likho không có quyền cho tôi “điểm xấu” vì tôi không đồng ý với Dostoevsky, hay vì tôi cho rằng tất cả những nhân vật trong tác phẩm của Gogol đều là những điển hình chỉ nói mà không làm. Valya còn nhận xét rằng ở Gogol còn có một nhân vật điển hình chính diện nữa – tên địa chủ Kostanzhoglo trong quyển hai của tác phẩm “Những linh hồn chết” mà Gogol đã đốt đi. Nhưng tôi phản đối, bảo rằng một khi Gogol đã tự đốt tác phẩm của mình thì kết quả là ở đây chẳng có gì để nói. Vả lại địa chủ không thể là nhân vật chính diện được. Đúng lúc đó thì tôi trông thấy Petya đến.
Thật là chuyện không ngờ – Petya lại đến trường tôi vào đúng giờ ra chơi!
- Petya, cậu làm gì đấy?
- Mình có tí việc, – Petya cười nói.
- Việc gì?
- Lắm việc lắm. Mình đang muốn nói chuyện với cậu.
- Về việc gì?
- Về việc Repin. Hôm qua cậu toàn nói chuyện vớ vẩn. Repin không thể không vẽ, còn nếu cậu đề nghị hắn xin vào Trường Hàng không, thì cậu có biết hắn sẽ đưa cậu đi đâu không?
Tôi trợn tròn mắt nhìn nó:
- Đấy, cậu như thế à!
- Như thế nào?
- Đúng là ốm rồi.
Mặt Petya sa sầm.
- Không, – nó cáu kỉnh nói. – Mình hỏi cậu nghiêm túc đấy.
- Mình cũng xin hỏi cậu nghiêm túc, tại sao cậu không ở trường?
- Hôm nay mình đi dạo ngoài phố, – Petya nói rất nhanh. – Mình cần suy nghĩ kỹ về việc này, mà ở trường thì không thể nào suy nghĩ gì được cả. Chúng nó quấy rầy.
Giờ ra chơi đã hết, nhưng nó bảo nó sẽ chờ tôi ở góc đỏ[1]. Hôm đó chúng tôi chỉ có bốn tiết học.
Và nó không đi đâu thật. Nó ngửa đầu ra thành ghế, đút hai tay vào túi và nhắm mắt.
- Cậu nói là sẽ trở thành phi công, – nó bảo. Sau một tiếng đồng hồ, khi tôi quay trở lại thì thấy nó vẫn ngồi ở tư thế ấy và vẫn ở chỗ ấy. – Nhưng có lẽ cậu chẳng có tí chút cơ sở nào để làm phi công cả thì sao? Cậu thử nhớ xem trong cả đời cậu có một hành động nào có thể chứng minh được rằng cậu có thể trở thành phi công được không?
Tôi nhớ đến lần tôi đã quyết định một cách chớp nhoáng và kiên quyết về Ensk để tìm Katya.
- Có.
- Ví dụ?
- Thì mình sẽ kể cho cậu nghe!
- Ừ thì cho là có. Nhưng sự lựa chọn của cậu có hợp lô-gích không hay là theo bản năng?
- Rõ ràng là rất lô-gích.
- Xuất phát từ lý trí hay từ ý thích? – Petya nói và mặt hơi đỏ.
- Không, từ ý thích.
- Nói dối. Ví dụ những đứa trẻ khác muốn trở thành phi công thì suốt ngày làm những mô hình máy bay, tàu lượn.
- Thì mình cũng thế. Mình còn biết cả lý thuyết nữa.
Đáng lẽ ra tôi còn có thể bác lại nó và nói rằng năm nào tôi cũng cố gắng tổ chức ở trường tôi một tiểu tổ tàu lượn. Nhưng những tổ này đã bị vỡ vì các bạn thích thú món diễn kịch hơn. Ngoài tôi và Valya ra, mọi người đều muốn làm diễn viên. Và cũng có nhiều người đã trở thành diễn viên thật, ví dụ như Grisha Faber chẳng hạn.
- Nhưng mình cho rằng, – sau một lúc im lặng, Petya nói, – cậu phải biết cái nghề gì mình đã chọn? Nên chọn cái nghề mà mình cảm thấy có thể phát huy được toàn bộ sức lực của mình. Câu này trong sách đã nói rồi, nhưng điều đó rất đúng. Mình không tin rằng làm họa sĩ mình có thể phát huy được toàn bộ tinh thần và sức lực của mình. Còn cậu, thế nghĩa là cậu tin?
- Mình tin.
- Thế thì đó là hạnh phúc của cậu.
Đã đến giờ ăn cơm trưa, nhưng cuộc nói chuyện này rất thú vị nên tôi quyết định tiễn Petya về tận nhà nó.
- Cậu phải biết theo mình thì cậu cũng không thể không vẽ được, – tôi nói lúc ra khỏi trường, chúng tôi đứng lại ở góc ngõ Vorotnikovsky. – Không tin cậu cứ thử một, hai năm xem, nhất định cậu sẽ lưu luyến và sẽ muốn ở đó mãi. Tóm lại, theo mình cậu nghĩ rằng cậu chẳng làm nên trò trống gì, nghĩ như thế lại tốt.
- Tại sao?
- Tại vì đó là một kiểu “hoài nghi”.
- “Hoài nghi” thế nào?
- Rất đơn giản. Những nhà nghệ thuật chân chính nhất định phải có sự hoài nghi. Hoặc là họ chưa thỏa mãn về điều này, hoặc là chưa hài lòng về điểm khác. Cậu đang hoài nghi thế là tốt, – tôi nói sôi nổi. – Không, Petya, vấn đề rất rõ: cậu phải xin vào Viện nghệ thuật.
Nó thở dài và lắc đầu. Nhưng hình như nó rất thú vị về cái ý nghĩ “hoài nghi” của tôi.
Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện ở ngõ Vorotnikovsky như vậy. Còn nhớ chúng tôi đã dừng lại trước cái chòi dán áp-phích, tôi vừa nghe Petya nói vừa đọc tờ quảng cáo tên một vở kịch, lúc đó có một cô gái từ trong góc ngõ chạy ra, vượt nhanh qua đường.
Cô không có mũ và mặc áo ngắn tay – mà trời thì lạnh như thế! Có lẽ cũng vì thế mà tôi không nhận ra cô ngay.
- Katya?
Cô quay lại nhưng không dừng lại mà chỉ vẫy tay. Tôi đuổi theo.
- Katya, tại sao cậu không mặc áo măng-tô? Có chuyện gì xảy ra vậy?
Cô định nói nhưng hai hàm răng cứ lập cập, cô phải ngậm miệng lại rồi sau đó mới nói được.
- Sanya, mình chạy đi tìm bác sĩ. Mẹ nguy lắm.
- Mẹ làm sao?
- Không biết. Hình như mẹ uống thuốc độc…
Thường có những phút cuộc sống bỗng thay đổi đột ngột về tốc độ – mọi cái đều bắt đầu bay, bay mãi, thay đổi rất nhanh, làm cho người ta không kịp quan sát nữa.
Từ lúc tôi nghe thấy câu “Hình như mẹ uống thuốc độc” thì mọi cái đều thay đổi nhanh chóng đến nỗi không kịp quan sát, vì thế câu đó cứ luôn luôn lặp đi lặp lại một cách đáng sợ ở đâu dưới đáy tim.
Petya chẳng hiểu gì nhưng cũng chẳng hỏi gì, cùng chúng tôi chạy đi mời bác sĩ ở ngõ Pimenovsky, nhưng sau lại sang nhà bác sĩ khác ở trên gác hai của cái rạp chiếu bóng cũ Khanzhonkov. Cả ba chúng tôi cùng vào một căn nhà rất yên tĩnh, sắp xếp rất gọn gàng, tất cả đồ đạc trong nhà đều có vải phủ và cả bà già đáng ghét hình như cũng phủ trong một tấm vải xanh.
Sau khi nghe chúng tôi trình bày, bà cụ lắc đầu nguây nguẩy rồi đi vào. Bà cụ còn thuận tay cất luôn cả những vật trên bàn, sợ bị chúng tôi ăn cắp mất.
Sau mấy phút ông bác sĩ ra – ông ta lùn, mặt hồng hào, tóc đã điểm hoa râm, mồm ngậm điếu xì gà.
- Có việc gì đấy, các bạn trẻ?
Trong khi ông mặc áo, chúng tôi đứng ở phòng ngoài không dám nhúc nhích. Bà cụ trong vải bọc cũng đứng ở đó và cứ nhìn chúng tôi chằm chằm, mặc dù ở phòng treo áo này chẳng có gì có thể lấy đi được cả. Sau đó bà cụ đem cái giẻ lau ra và lau những vết chân của chúng tôi, mặc dù chẳng có dấu vết chân nào mà chỉ có đôi giày cao su của thằng Petya rỏ ra vài giọt nước mà thôi. Katya tỏ ra rất sốt ruột khiến cho tôi mấy lần định nói chuyện với cô ta mà không dám nói, bác sĩ vẫn cứ lề mà lề mề. Về sau chúng tôi phải để Petya ở lại thúc bác sĩ mặc quần áo nhanh lên, còn tôi và Katya về trước.
Ra ngoài đường, tôi chẳng nói chẳng rằng choàng chiếc áo bành-tô của tôi cho Katya. Tóc cô rối tung lên, cô vừa đi vừa phải cài tóc. Nhưng một bên đuôi sam lại tung ra, cô ta cáu sườn nhét luôn vào trong áo bành-tô.
Xe cấp cứu đỗ ngay trước cửa nhà. Chúng tôi sợ hãi đứng dừng cả lại. Các y tá khiêng bà Maria Vasilievna trên cáng đi từ cầu thang ra.
Bà nằm trên cáng, mặt để hở, sắc mặt vẫn trắng bệch như tối hôm qua ở nhà thầy Korablyov, nhưng giờ đây trông giống hệt như mặt người tạc bằng ngà voi.
Tôi đứng nép vào thành cầu thang để nhường lối cho cáng đi, còn Katya bật lên một tiếng kêu thê thảm “Mẹ!” rồi đi theo bên cạnh cáng. Nhưng bà Maria Vasilievna không mở mắt ra, cũng không động đậy và tôi hiểu rằng bà nhất định sẽ chết.
Tôi vô cùng đau đớn đứng ở ngoài sân, nhìn theo cái cáng được đẩy vào trong xe cấp cứu. Bà cụ tay run run đắp mảnh vải phủ cho kín chân bà Maria Vasilievna. Các y tá cũng như mọi người miệng thở ra hơi, không biết họ lấy ở đâu ra một quyển sách và yêu cầu ông Nikolai Antonych ký tên. Ông Nikolai Antonych như người đang ốm, nhìn qua dưới cặp kính rồi ký tên vào quyển sách.
- Không phải chỗ này, – người y tá nói lỗ mãng và bực bội phẩy tay nhét quyển sách vào cái túi rất to trên áo choàng.
Katya chạy về nhà mặc áo măng-tô rồi quay lại, cô bỏ áo bành-tô của tôi ở bếp. Cô cũng ngồi lên xe cấp cứu. Lúc đó cửa xe đóng sập lại, bên trong có bà Maria Vasilievna mặt trắng bệch, nằm bất động trông rất đáng sợ. Chiếc xe khởi động như một chiếc xe ô-tô vận tải rất bình thường khác, phóng như bay đến phòng cấp cứu của bệnh viện.
Trong sân còn lại bà cụ và Nikolai Antonych. Họ đứng lặng đi một lát. Sau đó Nikolai Antonych quay lại và đi vào nhà trước nhất. Ông ta bước đi như một cái máy, hình như chỉ sợ ngã. Tôi chưa hề trông thấy ông ta như thế bao giờ.
Bà cụ đề nghị tôi ra gặp bác sĩ và nói rằng thôi không cần nữa. Tôi chạy đi và gặp bác sĩ cùng Petya ở quảng trường Triumphalnaya, chỗ quầy hàng thuốc lá. Bác sĩ mua một bao diêm.
- Chết rồi à? – Ông hỏi tôi.
Tôi trả lời là chưa chết, nhưng xe cấp cứu đã đưa đến bệnh viện và tôi có thể trả ông tiền nếu cần.
- Không cần, không cần, – ông bác sĩ kinh tởm nói.
Bà cụ ngồi trong bếp khóc. Khi chia tay Petya, tôi có hứa với nó là ngày mai sẽ đến và sẽ kể lại mọi chuyện. Tôi trở về phố Tverskaya Yamskaya. Nikolai Antonych không có nhà. Ông ta đến bệnh viện.
- Bà Nina Kapitonovna, – tôi hỏi, – bà có cần gì không?
Bà cụ sụt sùi khóc mãi. Còn tôi cứ đứng bên cạnh chờ. Cuối cùng bà cụ nhờ tôi giúp bà cụ mặc áo rồi chúng tôi đi tàu điện đến phòng cấp cứu.
❀ ❀ ❀
[1] Như một cái câu lạc bộ nhỏ. – N.D.