Tháng mười một, tôi được phân phối một căn buồng trong một ngôi nhà ở vùng ngoại ô trên bờ sông Moskva. Mặc cho Valya và Kira đều đồng thanh nói rằng cuộc sống gia đình của họ rất cần đến sự có mặt của tôi; mặc cho bà Aleksandra Dmitrievna kéo tôi sang một bên nói rằng trước nay tôi luôn luôn có tác dụng như một lá chắn rất tốt che chở cho bà tránh khỏi móng vuốt của Valya, nếu bây giờ tôi đi thì bà cũng sẽ đi khỏi nhà này để khỏi bị Valya làm cho điêu đứng; cuối cùng tôi vẫn nhất quyết ra đi.
Căn phòng của tôi nằm trong một tòa nhà gác mới xây. Tòa nhà năm tầng ấy nằm thoi loi trên bờ sông rộng và trống trải. Nó chẳng lấy gì làm đẹp lắm. Công nhân xây nhà vừa mới ra đi, họ còn đang dọn dẹp các thứ vôi vữa bày bừa bộn trong sân nhà, thu cất những thùng đựng sơn và những cái máng gỗ để la liệt trên cầu thang.
Trước đây đi tàu điện ra ngoại ô phải mất hẳn một tiếng đồng hồ, nhưng bây giờ đi tàu điện ngầm, chỉ cần mười phút là đến nơi. Trước kia vùng ven thành phố rất buồn tẻ nhưng giờ đây nó náo nhiệt chẳng khác gì nội thành. Tòa nhà to lớn của chúng tôi nằm song song với tòa nhà xây dựng khá cầu kỳ với những cột chống thon nhỏ, với hàng lan can có chạm trổ hình mỹ thuật kia càng nổi bật lên.
Chẳng những cả tòa nhà mà riêng căn phòng tôi ở, tôi cũng không dám tự khoe. Căn phòng ấy chỉ có một ưu điểm là ngảnh mặt về phía sông Moskva có cảnh sắc vô cùng đẹp đẽ. Ngay cả mùa đông, dòng sông Moskva cũng rất đẹp, nhất là những phút hoàng hôn. Những tia mặt trời yếu ớt đã nhạt màu từ nơi xa xôi rọi đến. Phía sau những đống tuyết gồ ghề hiện ra những vùng tối trong trẻo hình bầu dục. Cảnh tượng đó khiến tôi liên tưởng đến một thành phố cảng nho nhỏ ngoài Bắc cực, mà trên đường phố lát gỗ không ngớt chạy qua chạy lại những cỗ xe trượt tuyết do hươu kéo. “Nhưng bên cạnh đó, cùng chạy thi với hươu kéo xe”, – Sanya viết trong thư gửi cho tôi, “trên đường phố bây giờ có rất nhiều xe chở gỗ, xe tải loại lớn, xe ngựa và xe chó kéo. Và như vậy, hầu như toàn bộ lịch sử của nhân loại, từ chế độ thị tộc đến nền văn minh của chế độ xã hội chủ nghĩa đều đang bày ra trước mắt bọn anh. Hiện nay bọn anh đang xây dựng một thành phố mới, khắp nơi ngổn ngang xe cải tiến, gỗ xẻ xếp ngập phố. Nhà ga của sân bay đã được chuyển vào một tòa nhà ba tầng hoa lệ mới xây dựng xong. Mỗi khi mặt trời ngả về tây, bọn anh lại tập trung ở đây đọc tác phẩm của Voltaire. Thật là thú vị, nhà văn “hiện đại” này được dân chúng ở đây hết sức hâm mộ, nhiều tờ báo tường trích dẫn các danh ngôn trong các tác phẩm của ông để trang hoàng cho báo. Anh nghĩ về em nhiều quá, đến nỗi có lúc anh lấy làm lạ là tại sao còn có thì giờ để làm những việc khác! Như vậy có lẽ là những việc khác, với chừng mực nhất định cũng lại là em… Đặc biệt trong lúc này, mỗi khi nghĩ đến chuyện gì hoặc hát lên mấy câu ca yêu thích thì trong óc anh lại hiện ra hình ảnh của em…”
Mùa đông năm ấy tình hình kinh tế của tôi hết sức khó khăn, vì Cục địa chất Bashkir gửi tiền lương từ Ufa đến luôn luôn bị chậm trễ. Có lúc bắt buộc tôi phải đánh điện đến để hỏi. Ngoài việc đó ra, tôi không có nơi ăn cố định mà tự nấu thì tôi lại lười. Nói chung lại, hồi ấy tôi như trở thành người rừng, có một lần tôi lấy chiếc váy liền áo kiểu lễ phục may bằng lụa ở trong va-li ra để mặc đi dự lễ, nhưng khi xem kỹ chiếc váy thì thất vọng đến phát khóc lên.
Lần đầu tiên trong mùa đông ấy tôi chuẩn bị đi nhà hát Vakhtangov để xem buổi biểu diễn ra mắt vở “Hài kịch người dơi”. Chiếc váy “có đuôi tôm” ấy bây giờ không còn hợp thời trang nữa, có đến hàng thế kỷ nay nó đã bị mọi người lãng quên rồi. Sau đó tôi và Kira đem nó ra cắt ngắn và chữa lại; nhưng cái hứng thú đi xem hát đã tan biến mất.
Đó là mùa đông mà tôi đã phải sống qua bằng những ngày cô đơn lạnh lẽo, cô đơn đến nỗi hầu như chỉ có một mình Romashov là khách đến chơi. Giờ đây thật khó tưởng tượng được rằng đây chính là anh chàng Romashov đã từng tuyên bố sẽ giết chết tôi và giết luôn cả anh ta. Lần nào đến anh ta cũng rất lễ phép, điềm tĩnh, bao giờ cũng diện rất đẹp, có thể nói là hào hoa nữa. Anh ta nói chuyện với tôi bằng một giọng đều đều như cái giọng anh ta vẫn dùng để giảng bài ở trường đại học của anh ta…
Một lần anh ta đến với một vẻ mệt mỏi và đói mèm. Tôi hỏi anh ta:
- Misha, anh muốn uống nước chè không?
Anh ta lạnh lùng cám ơn và từ chối. Rõ ràng là anh ta có ý muốn biểu lộ rằng ngoài quan hệ công việc ra, anh ta không hề định đặt một thứ quan hệ nào khác đối với tôi. Cái công việc vừa nói ở trên là chỉ đội thám hiểm và tất cả những gì có liên quan đến đội thám hiểm.
Tại sao anh ta bận tâm đến công việc của đội thám hiểm như vậy? Rõ ràng là việc ấy có quan hệ trực tiếp đến tôi nên “anh ta không thể làm ngơ được”. Song trong đó cũng có chút ít kiêu căng, dường như anh ta muốn mượn cơ hội này để tỏ cho tôi biết rằng anh ta không chút nào oán hận khi bị tôi cự tuyệt. Và cũng rõ ràng là anh ta đang có một mưu đồ – vẫn cái mưu đồ cũ ấy – là dùng những ngón bịp bợm tinh vi để cuối cùng có thể kết hôn cùng tôi. Trong con người của anh ta, trong thái độ của anh ta, trên bộ mặt có đôi tai vểnh chưa hoàn toàn phát triển của anh ta chứa đựng một cái gì đó vừa tinh vi vừa phức tạp, có lúc còn ánh lên một sắc thái đáng sợ. Chả trách đã có lần bác Ivan Pavlych nhận xét rằng anh ta là một con người vô cùng phức tạp, hoặc ít ra cũng là một con người tính tình thay đổi bất thường.
Song chuyện tính tình của anh ta thì chẳng có liên quan gì đến tôi. Tất nhiên là tôi cũng không viết thư cho Sanya biết việc anh ta thường đến thăm tôi. Nếu biết việc ấy, chắc chắn là Sanya sẽ tức điên lên, hơn nữa không biết bởi cớ gì gần đây thư tôi viết cho anh cứ bằng một giọng khô khan và lạnh lùng…
Việc rắc rối thình lình xảy ra. Tổng cục đường hàng không Bắc cực tỏ ý không yên tâm trong việc ủy thác cho Sanya nhiệm vụ tìm kiếm lần này. Tuy anh đã ra công tác được nhiều năm, nhưng dẫu sao vẫn còn rất trẻ, và thời gian anh công tác ở Bắc cực vẫn chưa được là bao. Mọi người tuy đều biết rằng anh là một tay lái ưu tú đáng tin cậy, song liệu anh có đủ sức gánh vác nổi cái nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi có trình độ tổ chức nhất định đó không? Nói tóm lại, anh là một con người như thế nào? Tôi chợt nhớ có lần có một tờ tạp chí đã từng chỉ trích anh là vu khống cho người khác, hình như là vu khống cho người anh họ của thuyền trưởng, nhà hoạt động Bắc cực nổi tiếng Nikolai Antonovich Tatarinov.
Thế là tôi viết thư yêu cầu tạp chí đính chính lại, tôi nói với họ rằng việc tổ chức một đội tìm kiếm sáu người chẳng phải là chuyện quá ư ghê gớm, phức tạp đến nỗi không làm được. Tôi yêu cầu không giao nhiệm vụ tìm kiếm thuyền trưởng Tatarinov cho một người nào khác ngoài người mà ngay từ nhỏ đã nuôi ước vọng ấy.
Romashov biết hết những chuyện ấy. Tóm lại hắn đang suy nghĩ những gì, đang hy vọng những gì? Tôi chưa hỏi hắn và hắn cũng chưa thổ lộ bao giờ. Nhưng rồi sẽ có ngày tôi đoán được ra rất nhiều việc.
Nếu đội thám hiểm được thành lập thì tôi sẽ không chút do dự cùng ra Bắc địa với Sanya. Tôi viết thư cho ông Tổng cục trưởng Tổng cục đường hàng không Bắc cực, cho ông biết ý định ấy của tôi và tỏ ý sẵn sàng nhận nhiệm vụ thăm dò địa chất ở đấy. Tôi đã được cán bộ chuyên trách trả lời rất nhanh chóng, nhưng đáng tiếc là kết quả hoàn toàn không giống như dự kiến của tôi. Họ đề nghị tôi đến công tác tại một trạm nào đó (do tôi tự lựa chọn) ở Bắc cực và hẹn tôi đến trao đổi tại trụ sở của Tổng cục đường hàng không Bắc cực.
Hôm ấy tôi về đến nhà rất muộn. Lần nào về “nội thành” cũng đều như thế, mãi khi bước lên cầu thang tôi mới sực nhớ ra là chưa cài cửa. Đúng vào lúc ấy có ai cứ luôn chân đi đi lại lại trong căn buồng của tôi. Mới đầu tôi ngỡ là kẻ trộm. Nhưng kết quả thì không phải là kẻ trộm mà là Romashov. Tôi vừa bước vào cửa thì hắn đứng im lại và tôi lập tức thấy ngay cái dáng căng thẳng của hắn.
- Tôi đã đọc bức thư này, – hắn nói mà chẳng chào hỏi tôi gì cả. – Chị định tham gia vào đội thám hiểm, ra là như thế đấy!
Tôi ngước nhìn hắn và bất giác nhớ đến thời gian ở trường, mọi người đều gọi đùa hắn là “cú mèo”. Đôi mắt tròn và hơi lồi của hắn, trông lúc này sao mà giống con cú mèo đến thế. Nhưng là một con cú mèo rất lớn, nó kêu lên “ra là như thế đấy!” rồi thở một cách khó nhọc.
- Tại sao anh lại xem trộm thư của người khác? – Tôi hỏi, giọng khá là nhã nhặn. – Không nên như thế đâu, Misha ạ.
- Chị giấu tôi… Chị tìm con đường đi riêng mà không cho tôi biết.
- Misha, anh mụ mẫm đầu óc rồi hay sao? Chẳng lẽ những việc ấy tôi phải xin ý kiến anh nữa hay sao?
Đột nhiên hắn phát ra một thứ âm thanh quái gở, không ra tiếng cười cũng không ra tiếng khóc.
- Nếu chị bằng lòng thì tôi sẽ gánh vác việc này cho chị, – hắn cao giọng nói. – Thôi, thế thì chị cứ đi đi.
Tôi im lặng. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao lúc này tôi không nỡ làm khổ hắn hơn nữa.
- Sao chị lại im lặng mãi thế?
- Vì tôi không muốn trả lời những câu hỏi vớ vẩn của anh.
- Katya, Katya!
- Anh hãy nghe tôi nói, – tôi trấn tĩnh lại nói. – Anh có biết anh cần cái gì không? Cần được nghỉ. Anh bị mệt rồi. Anh căn cứ vào đâu mà nói rằng tôi sẽ ở lại Moskva?
- Đúng thế, chị sẽ phải ở lại Moskva.
Tôi muốn cười, nhưng hắn đã tiến tới sát bên tôi, sắc mặt thay đổi khác thường, tuồng như chỉ một giây nữa là hắn sẽ đánh tôi.
- Thôi, thế này vậy, – tôi vẫn nói giọng rất bình tĩnh, nhưng cũng không được như ý muốn của tôi nữa. – Mũ và áo bành-tô của anh để ở đâu?
- Katya! – Hắn lại rền rĩ, giọng tuyệt vọng.
- Katya cái gì? Tôi biết anh muốn gì rồi. Nếu ở lại tôi sẽ xem anh dám làm gì tôi? Hình như anh bị mất trí rồi, song việc đó chẳng có quan hệ gì đến tôi. Thế nào?
Hắn chẳng nói chẳng rằng, mặc áo bành-tô, đội mũ rồi bước ra ngoài.
Mùa xuân năm 1936, công việc của đội thám hiểm cuối cùng rồi cũng được định đoạt. Giáo sư V., nhà nghiên cứu Bắc cực nổi tiếng viết báo khẳng định rằng, căn cứ vào nhật ký của người hoa tiêu Klimov mà phán đoán “nếu tìm được tài liệu của đội thám hiểm Tatarinov thì sẽ có ý nghĩa đối với cả công tác nghiên cứu Bắc cực hiện đại nữa”. Quan niệm của ông thật là quá táo bạo. Nhiều người hầu như bị bất ngờ khi tiếp thu quan điểm ấy. Tình hình mới này thúc đẩy mọi người thừa nhận sự đúng đắn trong phương án của Sanya. Sau khi nghiên cứu bản đồ hành trình của con tàu “St. Maria” từ tháng Mười năm 1912 đến tháng Tư năm 1914, giáo sư V. đi đến một suy luận cho rằng ở vùng vĩ độ 78°02’, và kinh độ 64° phải có một hòn đảo chưa bị con người phát hiện. Kết quả cái hòn đảo mà giáo sư V. đã tìm ra trong phòng làm việc, đến năm 1935 đã được thực sự phát hiện trong một cuộc hành trình khó khăn, cố nhiên nó không phải là hòn đảo to tát gì, nó chỉ là một hòn đảo nhỏ trong số quần đảo hoang vắng của Bắc cực. Song dẫu sao trên tấm bản đồ Bắc cực của đất nước Xô Viết lại đánh dấu thêm một “điểm trắng” nữa. Có được như vậy cũng chính là nhờ có bản đồ hành trình của con tàu “St. Maria”.
Tôi không biết rõ những luận cứ mới này có giúp ích gì cho phương án của Sanya không. Song có giúp ích hay không cũng chẳng hệ trọng gì. Thế là rút cục kế hoạch hành trình của đội tìm kiếm trực thuộc đội thám hiểm nghiên cứu Bắc cực đã được ghi vào chương trình của năm sau. Đến mùa xuân Sanya sẽ phải có mặt ở Leningrad, vì vậy chúng tôi hẹn sẽ gặp nhau ở Leningrad, thành phố tôi chưa hề đặt chân tới đó bao giờ.