Đó là những ngày rất đau buồn, và tôi không muốn ghi lại tỉ mỉ về những ngày ấy, mặc dù tôi nhớ rất rõ từng buổi nói chuyện, từng cuộc gặp gỡ, thậm chí cả từng ý nghĩ. Những ngày đau thương đó như một cái bóng đen khổng lồ trùm lên cuộc sống của tôi.
Ngay sau khi chôn cất bà Maria Vasilievna xong, tôi liền vùi đầu vào công việc. Tôi cảm thấy khi tôi kiên quyết làm việc và học tập thì sẽ có một sức mạnh tự kìm chế mình, làm cho mình không nghĩ gì khác nữa. Nếu lúc này Petya lại hỏi tôi rằng trong cuộc đời tôi có hành vi nào có thể chứng minh là tôi có thể trở thành phi công được thì tôi lại trả lời nó là “có” và lần này thì càng có cơ sở chắc chắn.
Đó là việc không dễ dàng, nhất là khi nghĩ đến chuyện lúc đưa ma bà Maria Vasilievna, tôi đi đến cạnh Katya, cô ta đã quay đi không thèm nhìn tôi.
Cho đến tận giờ tôi không thể nhớ đến chuyện này mà không cảm động, – các bạn hãy thử xét đoán xem lúc đó tôi đã cảm thấy những gì, tôi đã xúc động và hồi hộp ra sao.
Việc ấy như sau… Không ngờ lại có nhiều người đến đưa đám bà Maria Vasilievna đến thế. Đó là những người cùng công tác với bà và cả những sinh viên đã cùng học với bà trong trường Đại học Y khoa. Hồi còn sống hình như lúc nào bà cũng đơn độc, thế mà hóa ra có rất nhiều người quen biết bà và yêu mến bà. Giữa đám người lạ này vừa chuyện trò nho nhỏ, vừa nhìn vào cánh cửa lớn nhưng quan tài mãi vẫn không thấy khiêng ra, có thầy Korablyov ở đó. Mắt thầy trông thật là đau khổ, râu ria mọc tua tủa trên khuôn mặt gầy nhom và già sọm đi.
Trước đây tôi vẫn thấy người thân bao giờ cũng đi ra cùng với quan tài, còn người ngoài thì đứng ở cửa và sau đó làm lễ liệm. Nhưng lần này lại không đúng thế, – có lẽ là bởi vì trong số những người thân không có ai khiêng linh cữu được.
Nikolai Antonych cúi đầu đứng bên cạnh. Cụ Nina Kapitonovna nắm lấy tay ông. Hình như bà cụ phải đỡ ông mặc dù ông đứng rất thẳng. Ba bà cụ trong gia đình Bubenchikov cũng có mặt. Giống như những tu sĩ, các cụ mặc áo váy dài đen kiểu cũ, vạt sau rất dài.
Katya đứng bên cạnh các cụ và đang đăm đăm nhìn ra cửa. Có lẽ cô tết tóc không chặt cho nên cái mũ thỉnh thoảng lại tụt xuống trán. Khi cô lúng túng sửa lại cái mũ, có thể thấy trong lòng cô vô cùng đau khổ. Nhưng dù đau khổ đến thế, mặt cô vẫn đỏ hồng hồng.
Mọi người đã chờ mất nửa tiếng đồng hồ mà quan tài vẫn chưa thấy khiêng ra. Tôi bèn quyết định đi đến chỗ cô.
Tôi không rõ, có thể tôi đến chỗ cô vào giờ phút ấy thì không thích hợp chăng. Nhưng tôi muốn nói chuyện với cô dù chỉ là một tiếng thôi cũng được.
- Katya!
Cô nhìn tôi một cái rồi quay đi…
Tôi suốt ngày vùi đầu vào sách vở. Tôi khôi phục lại thời gian biểu cũ của mình tức là dậy lúc sáu giờ, tắm nước lạnh, tập thể dục trước cửa sổ mở rồi làm việc theo thời khắc biểu. Bản “Quy tắc rèn luyện ý chí” tôi đặt ra trước đây, bây giờ lại được dùng đến, đặc biệt là điều “Phải giấu tình cảm của mình, ít nhất cũng không được bộc lộ tình cảm”. Mặc dù tình cảm tôi càng ngày càng buồn bã, nhưng tôi không bộc lộ ra ngoài. Cái bóng đen khổng lồ tôi nói trên kia hình như càng ngày càng đến gần tôi. Thoạt đầu tôi còn nhìn thấy nó ở xa xa, sau đó càng ngày càng gần.
Đó là nửa năm học cuối cùng của tôi ở trường. Tôi hy vọng các môn đều có thể đạt được điểm “trung bình”. Đó là việc không phải dễ, nhất là môn văn.
Có một lần ông Likho tuy vẫn lẩm bẩm, trù trừ, nhưng cuối cùng cũng cho tôi một điểm “trung bình”, về bài luận văn tốt nghiệp thì tôi không sợ, – chỉ cần phủi tay một cái là có thể viết xong bài luận văn mà còn hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của đồ ngốc ấy. Tôi biết chỉ vì tự ái ông ta sẽ cho tôi điểm cao nhất.
Tôi đứng vào loại nhất lớp và chỉ có Valka là ở trên tôi. Nhưng vì nó có tài năng phi thường, hơn nữa nó lại thông minh hơn tôi rất nhiều.
Bóng đen cứ nhích lại gần. Ông Korablyov gặp tôi, nhìn tôi có vẻ miễn cưỡng, đúng là ông rất khổ tâm khi nhìn thấy tôi. Nikolai Antonych không đến trường. Mặc dù chẳng có ai nhắc đến chuyện xung đột giữa chúng tôi ở cuộc họp Hội đồng nhà trường, nhưng mọi người lúc nào cũng nhìn tôi bằng con mắt trách móc. Hình như tại cuộc họp Hội đồng nhà trường ông ta cảm thấy người khó chịu mà ngất và cái chết của bà Maria Vasilievna lần này đã hoàn toàn bào chữa cho ông ta.
Mọi người nhìn tôi với vẻ khó chịu. Chưa bao giờ tôi lại cô đơn như thế.
Nhưng tôi vẫn còn chưa biết một vố khác đang chờ tôi.
Có một lần – sau khi bà Maria Vasilievna chết được hai tuần – tôi đến nhà thầy Korablyov. Tôi muốn mời thầy cùng chúng tôi đi thăm Viện bảo tàng Địa chất (hồi đó tôi là phụ trách đội thiếu niên tiền phong, các em học sinh của tôi đề nghị tôi dẫn chúng đi tham quan Viện bảo tàng này). Hồi còn học ở cấp I tôi đã được đi với thầy Korablyov đến đây một lần, tôi nhớ đó là một chuyến đi rất thú vị.
Thầy rất xúc động khi ra gặp tôi và đề nghị tôi đổi sang ngày khác.
- Khi nào ạ?
- Tôi không biết. Sau sẽ hay.
Ở ngoài phòng áo có treo chiếc bành-tô da và cái mũ da, trên chiếc bàn con có cái khăn quàng len màu nâu. Cái khăn này trước đây bà cụ đã đan trước mặt tôi. Nikolai Antonych đang ở trong nhà thầy Korablyov.
Tôi đi ra và chán nản cầm quyển sách “Không quân thời quá khứ và tương lai” – tôi còn nhớ hồi đó tôi đã đọc cuốn sách này. Nhưng đọc không vào, không biết tâm thần bay đi đâu hết sạch, do đó cứ đến mỗi trang tôi lại phải nhắc mình một điều gì đó trong bản “Quy tắc rèn luyện ý chí”. Nikolai Antonych đến đây để làm gì? Đã hơn bốn năm nay ông ta có đến nhà ông Korablyov bao giờ đâu? Tại sao ông Korablyov lại xúc động như vậy?
Khi tôi quay trở lại nhà ông thì Nikolai Antonych không còn ở đấy nữa. Giờ đây tôi còn nhớ lúc đó trong lò đang cháy, ông Korablyov mặc cái áo nhung rất rộng có túi. Chiếc áo này chỉ khi nào ông say rượu hay người khó chịu mới đem ra mặc. Ông ngồi bên lò sưởi nhìn ngọn lửa. Khi tôi bước vào, ông ngẩng đầu lên nói:
- Anh làm gì thế, anh Sanya! Trời ơi, anh làm gì thế!
- Thưa thầy gì ạ?
- Trời ơi, anh làm cái gì thế! – Ông Korablyov tuyệt vọng nhắc đi nhắc lại. – Không phải là ông ấy, không phải ông ấy! Ông ấy có bằng chứng không thể chối cãi được. Không thể chối cãi được.
- Tôi không hiểu, thưa thầy. Thầy nói về ai thế?
Ông Korablyov đứng lên, sau đó ngồi xuống rồi lại đứng lên.
- Nikolai Antonych có đến đây. Ông ấy chứng minh với tôi rằng người mà thuyền trưởng viết trong thư không phải là ông ta. Đó là một Nikolai nào khác đấy, một tên doanh nghiệp von Vyshimirsky nào đó.
Tôi sửng sốt.
- Thưa thầy Ivan Pavlych! Đó là sự dối trá, ông ta nói láo hết!
- Không, đó là sự thực, – ông Korablyov nói. – Đây là một việc rất lớn, chúng ta chẳng biết gì về việc đó cả. Trong đó đề cập đến rất nhiều người, có nhà buôn, có người giao hàng, ngay từ khi mới bắt đầu, thuyền trưởng đã biết tất cả. Ông biết trang bị của đội thám hiểm rất tồi và ông đã viết thư báo cho Nikolai Antonych biết về việc này. Chính mắt tôi đã thấy những bức thư ấy.
Tôi nghe ông nói mà không tin ở tai mình nữa. Không hiểu tại sao trước đây tôi cứ cho rằng bức thư tôi tìm thấy ở Ensk là bức thư duy nhất. Do đó khi nghe nói thuyền trưởng còn có một số thư nữa đang được giữ lại làm tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt.
- Trong việc này có rất nhiều sự rủi ro, – ông Korablyov nói tiếp. – Có một chủ thuyền nào đó đã rút hết tất cả các thuyền viên đi trước khi ra đến biển, phải mất bao nhiêu sức lực mới tìm được một cái máy vô tuyến điện, nhưng lại vì không tìm ra nhân viên điện báo nên buộc lòng phải vứt đi và còn một số việc khác nữa. Tại sao những cái đó lại là lỗi của Nikolai Antonych? Tất cả những cái đó đều rất rõ, trời ơi! Còn tôi… tôi đã phỏng đoán điều đó… Nhưng tôi…
Ông chưa nói hết thì bỗng tôi thấy ông khóc.
- Thưa thầy Ivan Pavlych, – tôi nói và cố gắng không nhìn vào bức tranh khó tin được ấy – ông Korablyov khóc. – Như vậy có nghĩa là ông ta không có lỗi, mà là một lão “von” nào đó gây ra. Đã thế thì tại sao Nikolai Antonych trước đây cứ khăng khăng nói rằng việc này do ông ta lãnh đạo? Xin thầy hãy hỏi ông ta xem đội thám hiểm đã mang theo bao nhiêu viên canh, bao nhiêu mì ống, bánh mì khô và cà-phê. Tại sao trước đây không bao giờ ông ấy nhắc đến cái ông “von” này.
Ông Korablyov dùng khăn mùi-soa lau mắt và ria. Ông lấy chai rượu vốt-ca trên ngăn tủ trong tường ra, tay run run rót nửa cốc rồi lại rót vào chai một ít. Ông uống một hớp hết cốc rượu rồi ngồi xuống.
- Thôi được, bây giờ thì thế nào cũng được, – ông phủi tay. – Tôi chỉ là một thằng mù, một thằng mù tịt! – Bỗng dưng ông lại nói một cách tuyệt vọng. – Tôi đã phải thuyết phục bà ấy, phải chứng minh rằng điều đó không thể được, không thể tin được dù cho có thật là Nikolai Antonych đi nữa thì cũng không nên kết tội cho một người về những thất bại của một công việc to lớn như vậy. Tôi có thể nói với bà ấy rằng cậu cứ khăng khăng cho là ông ta là vì cậu ghét ông ta.
Tôi im lặng nghe thầy Korablyov nói. Xưa nay tôi vẫn yêu thầy và vẫn quen tôn kính thầy, cho nên nhìn thấy điệu bộ thầy thảm hại như thế tôi rất buồn. Thầy khóc thút thít, tóc và ria rối tung lên.
- Tôi có thù ghét ông ấy hay không, – tôi bình tĩnh nói, – việc đó chẳng liên quan gì đến bản thân vấn đề cả. Tôi không rõ nói chung thầy nói câu này có ý nghĩa gì. Thầy nói tôi cố ý chứng minh, như vậy có nghĩa là tôi xuất phát từ động cơ cá nhân đê tiện hay sao?
Ông Korablyov im lặng.
- Thưa thầy!
Ông vẫn im lặng.
- Thưa thầy Ivan Pavlych! – Tôi kêu lên. – Thầy cho rằng tôi cố ý xông vào việc này là để báo thù Nikolai Antonych à? Tại sao thầy lại nói dù cho có thật là ông ta chứ không phải là một lão “von” nào cả thì cũng không nên kết tội một người về sự thất bại của một công việc to lớn như vậy. Thầy cho rằng đó là lỗi của tôi cả à? Thầy nói đi! Có đúng không? Thầy cho là như thế chứ gì?
Ông Korablyov im lặng. Trước mắt tôi bỗng tối đen, tôi nghe thấy tim tôi đập dữ dội và chậm chạp.
- Thưa thầy Ivan Pavlych, – tôi nói, giọng run run nhưng cương quyết. – Hiện nay dù cho có phải chết tôi cũng phải chứng thực là tôi đúng. Và tôi sẽ chứng minh điều đó… Hôm nay tôi sẽ đến gặp Nikolai Antonych và yêu cầu ông ta cho xem những tài liệu và thư từ đó. Ông ấy đã thuyết phục thầy rằng trong thư không phải viết về ông ấy mà về lão “von” nào đó. Vậy thì hãy để cho ông ta thuyết phục tôi.
- Tùy anh muốn làm thế nào thì làm, – ông Korablyov chán nản nói.
Tôi đi ra. Ông ấy không rời khỏi chỗ, vẫn ngồi bên cạnh lò sưởi, mệt mỏi và hoàn toàn tuyệt vọng, cả hai chúng tôi cùng tuyệt vọng nhưng ở tôi ngoài cái cảm giác ấy còn có một sự căm giận lạnh lùng, còn ông ở trạng thái mệt mỏi tuyệt vọng, già nua, hoàn toàn đơn độc trong căn phòng rỗng không, lạnh lẽo.