Một hôm chúng tôi vừa đi nằm và em tôi cũng vừa mới im mồm – bao giờ nó cũng ngủ đi ngay sau khi vừa nói dứt lời – thì cái tĩnh mịch thê lương lại ập đến, kế đó có tiếng gió rít trong ống khói rồi tôi bỗng nghe tiếng có ai gõ vào cửa sổ.
Đó là một người thân hình cao lớn, râu ria xồm xoàm, mình mặc chiếc áo bơ-lu-dông da, đầu đội mũ bịt tai, ông ta bị rét cóng đến nỗi khi tôi châm đèn và mở cửa cho ông vào thì ông không còn đủ sức để đóng cửa lại nữa. Tôi lấy tay che ánh đèn và nhìn thấy mũi ông bị cóng trắng bệch ra. Ông cúi lưng định tháo ba-lô ra nhưng bỗng ngồi thụp xuống sàn.
Lần đầu tiên người này xuất hiện trước mặt tôi là như vậy, giờ đây tôi có thể ngồi viết cuốn truyện này cũng là nhờ ơn người đó. Ông bị rét cóng đến gần chết, hầu như đã phải bò lê đến nhà tôi. Ông ngồi trên sàn, thở phì phò và cố nhét những ngón tay run rẩy vào mồm. Tôi bèn nhấc áo ông ra. Ông nói lắp bắp mấy câu gì rồi ngả nghiêng ra bất tỉnh nhân sự.
Có lần tôi đã thấy mẹ tôi bị ngất và dì Dasha thổi vào mồm mẹ tôi. Thế là lần này tôi cũng làm y như vậy. Vị khách của tôi nằm bên cạnh chiếc lò ấm và không rõ rốt cuộc cái gì đã trợ lực cho ông, mặc dù tôi ra sức hà hơi đến nỗi hoa cả mắt lên. Nhưng dù sao thì ông đã tỉnh lại, ngồi dậy và áp vào lò mà sưởi lửa. Mũi ông trở lại bình thường. Khi tôi rót cho ông một cốc nước nóng, ông đã cố nhếch mép cười.
- Chỉ có hai anh em ở đây với nhau thôi à?
Sanya vừa nói xong câu “Chỉ có hai chúng cháu” thì ông ấy đã ngủ mất rồi. Ông ta ngủ nhanh như vậy làm cho tôi không khỏi kinh hãi: hay là chết rồi? Nhưng hình như để trả lời điều thắc mắc của tôi, ông bắt đầu ngáy.
Đến hôm sau thì ông thật sự tỉnh táo. Lúc tôi thức dậy, ông đã ngồi trên bệ lò sưởi bên cạnh em gái và hai người đang nói chuyện với nhau. Em tôi đã biết tên ông là Ivan Ivanych, biết rằng ông bị lạc đường và không được nói chuyện về ông với bất cứ ai, nếu không thì ông ấy sẽ bị người ta bắt đi “xu-gun-đe”. Thật thà mà nói, cho đến nay cũng chưa biết ý nghĩa rõ ràng của câu nói này. Song tôi nhớ kỹ, hai anh em tôi hiểu ngay rằng vị khách của chúng tôi đang có nguy hiểm gì đe dọa. Chúng tôi không bàn với nhau nhưng cùng có quyết định chung là không đời nào nói một lời với bất cứ ai về ông ấy cả. Dĩ nhiên việc tôi không nói dễ hơn đối với bé Sanya nhiều.
Ivan Ivanych thường ngồi trên bệ lò, tay lót xuống dưới đùi lắng nghe bé Sanya nói huyên thuyên. Nó đã kể ra tất cả: chuyện cha bị bắt vào tù, chuyện chúng tôi đệ đơn kêu; mẹ đưa chúng tôi về quê rồi mẹ lại ra tỉnh; tôi bị câm; chuyện bà Petrovna sống ở ngôi nhà thứ hai tính từ cái giếng trở đi, bà cũng có râu, nhưng ít hơn một chút và đã bạc.
- Ồ, hai cháu thân yêu của ta, – ông Ivan Ivanych nói và nhẹ nhàng nhảy xuống khỏi bệ lò.
Ông có đôi mắt sáng, bộ râu đen nhánh và xén phẳng. Lúc đầu tôi lấy làm lạ là sao ông cứ động đậy, tay luôn luôn có những động tác thừa làm cho người ta cảm thấy như ông sắp giơ tay vòng qua đầu để sờ tai mình hay là gãi gan bàn chân. Song chẳng bao lâu tôi cũng quen đi. Trong khi nói chuyện, ông thường bất thình lình nắm trong tay một vật gì đó rồi lại làm trò tung hứng trên tay như là những nhà ảo thuật vậy.
Cũng trong ngày đầu tiên đó, ông đã biểu diễn cho chúng tôi xem nhiều trò thú vị: ông lấy những que diêm, vỏ cây và củ hành làm thành một con vật ngộ nghĩnh giống như con mèo, lấy ruột bánh mì làm thành chú chuột con. Con mèo con kêu meo meo đi bắt chuột giống y như mèo thật. Ông còn biểu diễn trò ảo thuật: ông nuốt cái đồng hồ đeo tay rồi móc nó ra từ trong tay áo. Ông còn dạy chúng tôi xiên khoai tây đem nướng. Tóm lại trong mấy ngày ông ở trong nhà chúng tôi, hai anh em tôi không thấy buồn.
- Các cháu này, ta là bác sĩ đấy, – có một lần ông nói như vậy. – Có cháu nào đau ốm gì không, ta sẽ chữa khỏi ngay.
Chúng tôi đều rất khỏe. Đứa con gái ông trưởng thôn bị ốm, nhưng không hiểu sao ông lại không chịu đến chữa.
- “Tình thế này ta vừa lo vừa sợ.
Tu sĩ kia đừng tố pháp đình…”
Ông đọc xong câu ca ấy rồi cười.
Ông là người đầu tiên đọc thơ cho tôi nghe. Ông thường ngồi xếp bằng trước lò sưởi, giương đôi lông mày lên mà nói thơ, thậm chí lại ngâm nga hay lẩm bẩm những gì đó.
Thoạt đầu có lẽ ông rất thích là tôi không thể hỏi ông điều gì cả, nhất là ban đêm. Mỗi khi có tiếng chân người đi bên ngoài cửa sổ làm ông tỉnh giấc và ông cứ nằm mãi, chống khuỷu tay nghe ngóng. Hoặc là khi ông trốn trên trần nhà ngồi đến lúc trời tối. Tôi còn nhớ hôm đó là ngày lễ Yegory[1] ông ấy đã ngồi như vậy suốt một ngày. Hay như khi ông từ chối không muốn đến làm quen với bà Petrovna.
Nhưng hai ba ngày trôi qua, ông lại quan tâm đến cái tật câm của tôi.
- Sao cháu không nói? Cháu không thích nói à?
Tôi im lặng nhìn ông.
- Nhưng bác bảo cháu là cháu cần phải nói. Cháu đã nghe được thì cháu phải nói được. Này anh bạn ạ, đây là một “ca” rất ít thấy. Câm nhưng nghe được tất. Hay là vừa câm vừa điếc?
Tôi lắc đầu.
- Đấy, nghĩa là cháu sẽ nói được.
Ông lấy trong ba-lô ra mấy thứ dụng cụ. Hôm đó tuy trời rất đẹp, có ánh nắng, thế mà ông vẫn than vãn là ít ánh sáng quá và khám ống tai tôi.
- Tai bình thường, – ông rất hài lòng nói thế. – Tai rất bình thường.
Ông đi đến một góc nhà và nói khẽ: “Đồ ngốc”.
- Nghe thấy không?
Tôi cười.
- Nghe rất rõ, như tai chó vậy. – Ông nháy mắt với bé Sanya đang há hốc mồm nhìn ông và tôi. – Nghe tốt lắm. Cháu thân yêu, thế sao cháu không nói?
Ông lấy hai ngón tay cầm lưỡi tôi kéo ra rõ dài làm cho tôi sợ quá thở khò khè.
- Họng tốt lắm! Hệt như cổ họng của Chaliapin[2]. Đúng thế!
Ông nhìn tôi một lát.
- Phải học cháu ạ, – ông nói rất nghiêm chỉnh. – Cháu có thể nói trong ý nghĩ của mình được câu gì không, nói trong óc ấy?
Ông gõ vào trán tôi.
- Nghĩa là nói trong đầu ấy, hiểu không?
Tôi ầm ừ, tỏ ra hiểu.
- Nào, thế nói ra tiếng đi? Nói được những gì thì nói ra hết đi. Nào, nói “có”.
Hầu như tôi không hiểu nói được gì cả. Nhưng dầu sao cũng cứ nói ra:
- Có.
- Hay lắm! Nói lại lần nữa nào!
Tôi nói lại một lần nữa.
- Bây giờ huýt sáo.
Tôi huýt sáo.
- Bây giờ nói “U”.
Tôi nói “U”.
- Chẳng qua chỉ là đồ lười thôi! Nào! Nào, theo nhé…
Ông không biết rằng xưa nay tôi vẫn nói mọi điều trong óc. Không nghi ngờ gì nữa, chính vì thế tôi mới có thể nhớ được những năm còn bé một cách rõ ràng như vậy. Nhưng từ chỗ nói không thành tiếng đến chỗ phát ra các âm “e”, “u”, “ư”, đến chỗ làm được những động tác không quen thuộc của môi, lưỡi, họng như thế này thì còn rất xa. Thậm chí những tiếng đơn giản nhất cũng tắc nghẽn trong cổ họng tôi. Tôi có thể nhắc lại theo ông một số âm cá biệt, chủ yếu là những mẫu âm. Nhưng còn ghép những âm đó lại rồi phát ra một cách trơn tru theo như ông dặn, chứ không phải là “sủa”, – đó mới thật là gay go.
Chỉ có ba tiếng “tai”, “mẹ”, “bếp” là tôi nói được ngay, tựa như có hồi nào đó tôi đã từng nói những tiếng này, bây giờ chỉ cần nhớ lại thôi. Sự thực cũng chính là như vậy. Mẹ thường nói là khi mới hai tuổi tôi đã bắt đầu học nói, nhưng sau bị một trận ốm gì đó, tôi bỗng nhiên không nói nữa.
Ông thầy dạy tôi nằm ngủ trên sàn, mình đắp chiếc áo ngắn, trước khi đi ngủ ông nhét một vật gì bằng sắt sáng loáng xuống dưới đệm rơm. Còn tôi cứ trằn trọc mãi, tôi dậy uống nước rồi ngồi trên giường nhìn ra cửa sổ băng đóng lại loang lổ. Tôi đang nghĩ xem bao giờ về nhà sẽ nói chuyện với mẹ tôi và dì Dasha như thế nào. Tôi nhớ lại những giây phút đầu tiên khi tôi hiểu rằng tôi đã bị câm không thể nói năng được: đó là một buổi tối, mẹ tưởng tôi đã ngủ say rồi, bà đứng thẳng người, mặt tái nhợt, hai bím tóc đen vắt trước ngực, cứ nhìn tôi mãi. Lúc đó lần đầu tiên trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ cay đắng luôn luôn day dứt tôi những năm trước đây: “Tôi hèn hơn mọi người và mẹ phải xấu hổ vì tôi”.
Tôi cứ nhắc đi nhắc lại những âm “e”, “u”, “ư” và một cảm giác sung sướng làm cho tôi không sao ngủ được cho đến tận gần sáng. Lúc bé Sanya đánh thức tôi dậy thì đã trưa rồi.
- Em đã sang bên bà về rồi mà anh vẫn còn ngủ, – em gái nói rất nhanh. – Con mèo con nhà bà đi mất rồi. Thế bác Ivan Ivanych đâu?
Chiếc đệm rơm vẫn nằm trên sàn, vẫn còn những vết hằn ở chỗ đầu, vai và chân. Nhưng còn ông Ivan Ivanych thì không thấy nữa. Chiếc ba-lô ông vẫn kê dưới đầu bây giờ cũng không còn.
- Bác Ivan Ivanych!
Chúng tôi leo lên trần nhà – chẳng có ai cả.
- Lạ chưa, lúc đi sang bên bà, bác ấy vẫn đang ngủ. Em còn nhìn bác ấy, thấy rõ là bác ấy đang ngủ, em nghĩ thế thì hãy sang bên bà tí đã. Sanya, anh xem kìa!
Trên bàn có cái ống màu đen, hai đầu loe ra: một đầu nông, hơi to, đầu kia nhỏ hơn và sâu hơn. Chúng tôi nhớ ra là bác Ivan Ivanych đã lấy nó trong ba-lô ra cùng với những dụng cụ khác để khám tai cho tôi.
- Bác ở đâu rồi? Bác Ivan Ivanych?…
Từ đó đã bao nhiêu năm qua. Tôi đã bay qua các biển Bering và Barents. Tôi đã từng ở Tây Ban Nha. Tôi đã nghiên cứu địa hình lưu vực giữa sông Lena và sông Yenisey. Lúc nào tôi cũng đem theo cái ống màu đen mà ông đã bỏ quên ở nhà chúng tôi hay cũng có thể là ông để lại để làm kỷ niệm. Đó không phải là mê tín mà là để nhớ ơn người đó. Chẳng bao lâu tôi được biết đó là một cái ống nghe, một dụng cụ rất thông thường để người thầy thuốc nghe tim, nghe phổi. Nhưng hồi đó tôi cảm thấy cái ống nghe này đầy vẻ bí hiểm và đáng yêu, cũng như chính bản thân ông Ivan Ivanych, cũng như tất cả những điều ông nói, những việc ông làm.
- Bác Ivan Ivanych!
Ông đã biến mất tăm, đã ra đi mà chẳng nói với ai!
Tôi buồn bã bước ra sân và đi xung quanh nhà. Dấu chân! Trên dấu chân của ông đã bị lớp tuyết mỏng phủ lên. Những dấu chân này không đi qua đường cái ở phía bên kia nhà mà đi thẳng ra cánh đồng. Dấu chân mỗi lúc càng thưa, đến bên bờ một cái đầm thì mất hút trên lối mòn mà các bà già vẫn đi giặt quần áo ở những hố băng.
❀ ❀ ❀
[1] Ngày lễ Yegory vào ngày mồng bảy tháng Năm hàng năm, theo tập quán người Nga hôm đó mọi người đi dong chơi ở ngoài trời gần giống như tết Thanh minh của ta trước đây. – N.D.
[2] Chaliapin (1873 – 1938) danh ca nổi tiếng của nước Nga. – N.D.