Trước kia đây chỉ là một ngõ cong queo, bình thường nhất ở Moskva, cũng giống như cái quảng trường Sobachy mà Petya đã ở hồi nào. Nhưng khi Katya dọn đến ở ngõ Sivtsev Vrazhek thì từ đó trở đi nó lại thay đổi lạ thường. Chính vì nó trở thành cái ngõ mà Katya ở cho nên nó không còn giống bất cứ một ngõ nào khác ở Moskva. Ngay như tên ngõ, trước đây cứ nhắc đến là tôi buồn cười, giờ đây cũng trở nên có ý nghĩa sâu xa và hình như tất cả đều có liên quan đến Katya, đều có cái “vẻ Katya”…
Ngày nào tôi cũng đến ngõ Sivtsev Vrazhek. Hôm ấy Katya và Kira chưa về nhà, bà mẹ Kira tiếp tôi và nói chuyện với tôi. Đó là một bà mẹ tuyệt diệu, một diễn viên ngâm thơ. Bà thường ngâm những tác phẩm cổ điển ở các câu lạc bộ ở Moskva. Bà người nhỏ bé, tóc đã điểm hoa râm và giàu tính lãng mạn, chẳng giống Kira một tí nào. Bà nói về việc gì cũng rất nhiệt tình, khiến cho người ta hễ gặp là biết ngay bà rất yêu văn học. Điều này cũng chẳng giống Kira tí nào, nhất là khi nhớ lại hồi xưa Kira phải vất vả lắm mới đọc xong “Dubrovsky”, mà vẫn còn yên trí rằng rốt cuộc “Masha đã lấy Dubrovsky”.
Có khi chúng tôi đã nói chuyện với bà mẹ này đến hai tiếng đồng hồ, nhưng đáng tiếc là chỉ toàn nói về bà Varvara Robinovich nào đó. Bà này cũng là một diễn viên kể chuyện, nhưng rất nổi tiếng. Lúc đầu bà mẹ Kira định đến xin học bà này, nhưng sau bà lại bỏ ý định ấy, bởi vì bà Varvara lúc tiếp bà cứ “vênh mặt” lên.
Sau đó Katya về. Thầy Ivan Pavlych đã nói đúng, tôi chưa hiểu cô. Sở dĩ như vậy không phải vì tôi không hiểu nhiều sự kiện trong cuộc sống của cô, – ví dụ như năm ngoái đội địa chất của cô (cô là đội trưởng một đội thăm dò địa chất) tìm thấy ở miền nam Ural một cái mỏ rất giàu trữ lượng vàng, hay là việc những tấm ảnh của cô đã chiếm giải nhất trong cuộc triển lãm ảnh nghiệp dư, mà chính là tôi không hiểu tinh thần cương quyết, tính thẳng thắn, thái độ công bằng và thông minh của cô đối với cuộc đời, – nghĩa là tất cả những cái mà thầy Korablyov gọi một cách thán phục là “tâm hồn nghiêm túc, đĩnh đạc”. Tôi cảm thấy cô già dặn hơn tôi rất nhiều – đặc biệt khi cô nói chuyện về nghệ thuật, những năm gần đây tôi đã lạc hậu về mặt này rất xa. Nhưng cũng có khi bỗng nhiên cô lại trở lại như Katya cũ, cô Katya say mê với thuốc nổ và hết sức xúc động vì “Ferdinand Cortés mang theo những lời chúc mừng tốt đẹp của người Tlaxcalan lên đường và chỉ vài ngày sau đã tới Honolulu”. Tôi sực nhớ đến Ferdinand Cortés, khi tôi xem bức ảnh Katya cưỡi ngựa, mặc quần dài và đi đôi giày ống dài của nam giới, vai đeo khẩu súng các-bin, đầu đội mũ rộng vành. Cô đã trở thành một nhà thăm dò địa chất! Nếu thuyền trưởng trông thấy tấm ảnh này, nhất định ông sẽ rất hài lòng.
Mấy ngày đã trôi qua như vậy, chúng tôi vẫn chưa nói gì đến chuyện xảy ra sau lần gặp nhau hôm trước, mặc dù sự việc đã rất nhiều. Nếu nói về những chuyện này, hình như có thể nói suốt đời được. Hình như chúng tôi cảm thấy trước hết nên nhớ lại nhau một cách kỹ càng đã. Không có một lời nào về Nikolai Antonych, về Romashov, về việc tôi đã có lời đối với cô. Nhưng việc đó không phải dễ dàng, bởi vì hầu như tối nào bà cụ cũng đến ngõ Sivtsev Vrazhek.
Thoạt đầu bà đến rất trang trọng, rất khách khí. Bà mặc cái váy áo chiết li và toàn kể lại những chuyện cũ – lúc đó Nikolai Antonych chưa về. Bà kể chuyện về người bạn gái của bà. Bà này đi lấy một ông chồng “cố đạo đã cắt tóc ngắn”, ông cố đạo này đã phát tài. Về sau có một hôm ông ta lên bục giảng và nói: “Hỡi các công dân, giờ đây tôi tin tưởng chắc chắn rằng không có Chúa”. Tôi không hiểu bà cụ kể lại câu chuyện này là có ý gì – có lẽ bà cụ đã phát hiện ra giữa lão cha cố này và Nikolai Antonych có chỗ nào đó giống nhau.
Rồi một hôm bà cụ chạy đến hoang mang và thì thầm nhưng lại rất to: “Về rồi!”
Nói xong cụ liền đóng ngay cửa, ở trong đó với Katya. Lúc ra về cụ hầm hầm nói:
- Sống với người đời cũng cần phải có chiến thuật.
Katya không trả lời, chỉ im lặng, trầm ngâm rồi hôn cụ lúc chia tay.
Ngày hôm sau bà cụ đến, tay cầm cái dù, khóc đỏ mắt lên, vẻ mệt mỏi, cụ ngồi ở phòng ngoài.
- Ốm rồi, – cụ nói. – Tao đã đi gọi đốc-tờ cho ông ấy. Nhưng ông ấy lại đuổi người ta đi. Ông ấy nói: “Tôi đã cống hiến cả đời mình cho cô ấy và cô ấy đền ơn tôi như thế đấy”.
Bà cụ hạ giọng:
- Ông ấy nói “Đây là người cuối cùng giúp cho tôi sống. Bây giờ thì hết”. Toàn là những câu đại loại như vậy.
Rõ ràng là tất cả chưa phải đã hết, bởi vì sau đó Nikolai Antonych đã khỏe lại, tuy bệnh tim trầm trọng quả có bắt lão phải nằm trên giường mấy ngày. Lão gọi Katya đến. Nhưng cô không đến. Tôi nghe cô nói với cụ Nina Kapitonovna:
- Bà ạ, ông ấy ốm đau hay khỏe mạnh, sống hay chết, cháu đều không muốn gặp. Bà hiểu chứ?
- Hiểu rồi, – cụ Nina Kapitonovna đáp. – Bố nó ngày xưa cũng thế đấy, – trước khi ra về bà cụ nói với bà mẹ Kira như vậy. - Làm sao mà uốn nắn được nó – ừ ừ. Có ném nó xuống dưới bánh xe lửa cũng vô ích! Thật là kẻ cuồng tín!
Nhưng Nikolai Antonych đã khỏe hẳn và bà cụ cũng phấn khởi. Giờ đây mỗi ngày bà cụ đến hai lần – do đó chúng tôi thường xuyên được biết những tin tức mới nhất về Nikolai Antonych và về Romashov. Nhưng có một lần Katya cũng nhắc đến Romashov.
- Nó đến chỗ mình làm việc, – cô nói vắn tắt, – nhưng mình nhờ người ta nói hộ là mình không có thì giờ và sẽ không bao giờ có thì giờ.
- … Họ đang viết thư, – có một lần bà cụ báo tin. – Toàn là nói về phi công G., phi công G. Có lẽ lần này lại mật báo gì đó. Thằng cha cố đạo non ấy bực phát điên lên. Còn Nikolai Antonych thì im lặng. Người ông ta phù sũng lên, ngồi im không nói một lời. Choàng cái khăn của tao ngồi đó…
Valya có đến Sivtsev Vrazhek mấy lần. Lúc đó mọi người đều bỏ công việc của mình đấy, ngừng nói chuyện để xem cậu ta ve vãn Kira. Cậu ta đang ve vãn Kira rất đúng quy cách và rất tự tin rằng không ai nghi ngờ việc này được.
Cậu ta lấy hoa tươi cắm vào lọ đem tặng Kira – bao giờ cũng chỉ có mấy loại hoa, căn phòng của cô biến thành một cái vườn ươm nhỏ những loại hoa hồng trà và hoa thảo anh. Cậu ta nhìn tôi và Katya, lúc đó trông cậu ta như nửa tỉnh nửa mê. Chỉ khi cậu ta nhìn Kira và đôi khi nhìn bà mẹ Kira, cậu mới là người tỉnh táo. Cậu cũng tặng bà mẹ Kira tặng phẩm, ví dụ như có lần cậu tặng bà cuốn “Nhà kể chuyện” in năm 1917.
Có khi cậu phấn khởi lên, cậu kể chuyện vui về đời sống của loài chuột hoặc loài dơi.
Muốn làm cho Kira cười chẳng có khó khăn gì…
Những buổi tối ở ngõ Sivtsev Vrazhek trôi qua như vậy. Đó là những buổi tối cuối cùng trước khi tôi trở lại miền Bắc.
Tôi có rất nhiều công việc bận rộn: không thể nói rằng đề nghị của tôi tổ chức việc đi tìm đội thám hiểm của thuyền trưởng Tatarinov đã được hoan nghênh nhiệt liệt, hay là tôi làm không nổi?
Tôi đã viết một bài báo: bài gửi cho tạp chí “Hàng không dân dụng”, tôi nói về phương pháp cố định máy bay trong bão tuyết; bài gửi cho báo “Sự thật” viết về những cuốn nhật ký của người hoa tiêu, và một bản báo cáo gửi cho Tổng cục đường Hàng không Bắc cực. Mấy ngày sau, đúng vào hôm trước ngày tôi lên đường, tôi phải đến báo cáo ở Đại hội thường kỳ của Hội Địa lý học về vấn đề tình hình trôi giạt của chiếc tàu buồm “St. Maria”. Đây là bản báo cáo tổng hợp chủ yếu nhất.
Có một lần, tôi về đến khách sạn đã quá mười hai giờ đêm, lòng rất phấn khởi. Tôi đến gặp ông thường trực để lấy chìa khóa, ông ta bảo:
- Anh có thư.
Ông ta đưa cho tôi bức thư và tờ báo.
Bức thư rất ngắn: thư ký Hội Địa lý học báo tin cho tôi, vì tôi không viết báo cáo thành văn bản gửi đến đúng thời hạn cho nên buổi báo cáo không thể tiến hành được. Tôi vừa cầm tờ báo vào tay thì tự nó đã mở ra theo vết gấp. Đầu đề bài báo là “Để bảo vệ một nhà bác học”. Tôi bắt đầu đọc bài báo ấy, và những dòng chữ hòa thành một khối trước mắt tôi.