Mùa hè chúng tôi sống ở Rừng thông bạc, trong một ngôi nhà cổ kính bỏ không có những cầu thang hẹp. Trần nhà bằng gỗ chạm trổ. Những đoạn hành lang bị cắt ngang đột ngột giữa chừng. Trong nhà này chỗ nào cũng phát ra tiếng kêu cót két: cửa lớn ken két một kiểu, cửa sổ cọt kẹt kiểu khác. Có một căn buồng lớn bị đóng ván chặn cửa rất chặt. Nhưng ngay trong căn phòng này cũng luôn luôn có tiếng sột soạt, cọt kẹt, có khi bỗng nhiên lại có tiếng rè rè nhịp nhàng như có chiếc búa con bằng đồng hồ gõ trượt qua cái chuông trong chiếc đồng hồ quả lắc. Trên gác xép đã mọc nấm lên, ngổn ngang những cuốn sách nước ngoài mất bìa, nhiều trang rách tung.
Hồi trước cách mạng, ngôi nhà này thuộc về một bá tước phu nhân đã già người di-gan. Bá tước phu nhân lại là người di-gan! Thật là ly kỳ! Nghe đồn rằng trước khi chết bà ta đã chôn giấu của. Thằng Romashka đi tìm kho của này suốt cả mùa hè. Thân hình nó ốm yếu, cái đầu to kếch sù. Nó cầm cái gậy đi khắp các phòng vừa gõ vừa nghe. Ban đêm nó cũng đi gõ cho đến khi có ai trong bọn học sinh lớn đến nện cho nó một cái mới thôi. Mới mười ba tuổi nó đã quyết chí làm giàu. Cứ mỗi lần nói đến chuyện tiền tài là cái tai xám ngoét của nó lại đỏ bừng lên. Thật đúng là một kẻ đi tìm của bẩm sinh, vừa tham lam vừa mê tín.
Chung quanh ngôi nhà hóng mát đã bị sụp đổ mọc chi chít những bụi đinh hương tím. Có những bức tượng đặt dọc những con đường cây xanh. Những bức tượng này không giống các tượng thần Hy Lạp. Những tượng thần Hy Lạp nom lạnh lùng với những cặp mắt trắng dại. Còn tượng ở đây giống như những con người bình thường.
Có một bức tượng mặt để ria mép giống như thầy Korablyov, còn một tượng khác là một cô gái bình thường trạc mười tuổi. Cô ta mặc chiếc áo ngủ dài đến gót chân đang vươn vai và lấy cùi tay dụi mắt như vừa ngủ dậy.
Tôi cũng bắt chước nặn cô ta; song chẳng ra cái gì cả. Chỉ được hai vòng tóc tết và những vòng tóc trước trán như mớ tóc của Katerina Ivanovna, cô gái có cái mũi hếch lên kiêu kỳ. Có lẽ cái mũi cũng rất giống mũi cô ta. Nhưng dù sao thì nặn người cũng không dễ như nặn cóc và nặn thỏ.
Chỉ có lúc đầu hè khi chúng tôi vừa mới đến Rừng thông bạc là cuộc sống được tốt đẹp như thế. Sau đó thì kém đi, hầu như chúng tôi không được cung cấp lương thực nữa. Tất cả trại trẻ chuyển sang “tự cấp tự túc”. Chúng tôi mò tôm, bắt cá, khi nào có cuộc vui thì ra sân vận động bán hoa đinh hương, vớ được cái gì thì tha cái ấy về ăn. Tối đến chúng tôi thường đốt lửa ở ngoài vườn hoa rồi đem nướng những thứ ban ngày kiếm được.
Đại khái một buổi tối như thế này; mà tối nào thì cũng như tối nào cả.
Chúng tôi ngồi quanh đống lửa, đứa nào cũng mệt mỏi và cáu kỉnh. Cái cà-mèn, các chạc gỗ để treo cà-mèn cũng như chân tay mặt mũi chúng tôi đều đen nhẻm vì khói. Như những người da đỏ đang sắp ăn thịt viên thuyền trưởng Cook[1], chúng tôi lặng lẽ nhìn vào ngọn lửa. Những mẩu than hồng bỗng bùng lên rồi vụn ra, một đám khói đỏ sẫm như một cái mũ xoay tròn úp lên đống lửa.
Chúng tôi là một “công xã”. Tất cả trại trẻ chia ra làm mấy “công xã”. Đơn thương độc mã thì khó lòng mà “tự cấp”. Mỗi “công xã” có một chủ tịch của mình, một đống lửa riêng và lương thực dự trữ riêng – những thứ vì một lý do nào đó hôm nay chưa ăn thì để lại hôm sau.
Chủ tịch của chúng tôi là Stepka Ivanov mười lăm tuổi, mặt mày nhẵn nhụi, một thằng tham lam đểu cáng mà ai cũng sợ…
- Chơi đáo không? – Stepa uể oải nói.
Mọi người im lặng. Chẳng ai muốn đánh đáo cả. Thằng Stepa no nê rồi nên mới muốn chơi.
- Thôi được, Stepa. Nhưng tối rồi còn gì nữa, – thằng Romashka nói.
- Mày biết ở đâu tối nào? Đứng lên!
Chủ tịch “công xã” của chúng tôi thích chơi đáo nhất trên đời. Ai cũng biết là nó đánh đáo bịp.
Nhưng trừ tôi và Valka ra còn tất cả, đặc biệt là thằng Romashka, đều nịnh nó. Thằng Romashka còn cố tình thua nó để cho nó khỏi giận.
Không nên nghĩ rằng chúng tôi nướng những con chim ngon lành gì trên đống lửa của chúng tôi đâu. Trong cái cà-mèn mà phải nện nhau mới giành được ở nhà bếp ra, chỉ có một ít xúp. Đây là thứ xúp nấu với “những que xúc xích” chính cống y như trong câu chuyện cổ tích hồi mùa đông bà Serafima Petrovna đã đọc cho chúng tôi nghe. Có khác chăng là ở chỗ món xúp ở trong truyện thì nấu bằng đuôi chuột, xúp của chúng tôi thì vớ được cái gì nấu cái ấy – nhiều khi có cả đùi nhái.
Thế rồi bỗng cánh cửa nhà chúng tôi mở ra, một người béo lùn, đội mũ rộng vành bước ra ngoài hiên.
- Bác Petya, vào đây với chúng cháu!
- Vào đây, bác Petya!
Đó là bác nấu bếp của chúng tôi. Bác tên là Pyotr Andreevich Lopukhov. Bác bước đi lảo đảo – không phải vì uống nước lã – ư ử giọng mũi một đoạn trích trong nhạc kịch, bác đi một lượt qua các “công xã”. Đến cái nồi nào bác cũng nếm thử rồi nhổ toẹt và nói với vẻ ghê tởm:
- A, bả độc đây.
Bác là người yêu âm nhạc và ca hát, thuộc lòng tất cả mọi vở nhạc kịch. Đối với bác thì không có gì khoái hơn là bắt chước diễn lại một cảnh trong vở “Evgeny Onegin” hay là vở “Con đầm pích”, còn đối với chúng tôi thì không có gì khoái hơn là nghe bác hát và tỏ lòng khâm phục bác.
- Tuyệt! Chẳng kém gì Chaliapin cả! Bác Petya, sao bác không đi làm diễn viên?
- Tao sợ.
- Sợ cái gì hả bác Petya?
- Sợ sa chân.
Bác dừng lại bên đống lửa của chúng tôi, nếm thử, nhổ toẹt rồi kể chuyện thao thao bất tuyệt. Bác kể rằng ngày xửa ngày xưa cách đây khoảng một trăm năm, thậm chí đến hai trăm năm trước loài người ăn uống thế nào. Bác không những chỉ mê âm nhạc, mà bác còn là một nhà sử học, là một người sành sỏi các món ăn cổ, những món sốt thỏ và thịt thăn hươu.
- Món trứng ngự, – bác thì thào nói. – Lấy lòng đỏ mười tám quả trứng, trộn với bánh bích-quy rồi thêm vào hạnh nhân cay, kem sữa, đường trắng rồi lấy dầu rán lên. Đã được ăn chưa?
Chúng tôi đồng thanh đáp:
- Chưa ăn đâu!
- Ố ồ! Thế món táo đường nướng? Lấy quả táo đem gọt vỏ đi, moi hạt ra, nhét nho khô vào, đắp lên một lượt váng sữa, đặt lên bếp lò nướng rồi sau đó tẩm mật ong. Đã được ăn chưa?
- Chưa ạ!
- Ố ồ!
Nhưng trong tất cả các món thì bản thân ông bếp của chúng tôi lại chỉ thích nhất có một món gọi là “uống vốt-ca”. Bác là người phụ trách duy nhất của chúng tôi trong mùa hè 1921. Bà Serafima Petrovna bị rối trí và cũng chẳng có ai chú ý đến bà ta cả. Trong trại trẻ cũng còn một vài cô trông trẻ nữa. Các cô này rất xung khắc với bác bếp, không hiểu tại sao bác bếp phát lương khô cho chúng tôi lại không có lợi cho các cô ấy. Nói tóm lại là nếu không có bác bếp này thì chúng tôi đã bỏ đi mỗi đứa một nơi rồi.
Thế là bác đứng bên đống lửa của chúng tôi và kể chuyện người thời xưa ăn uống thế nào. Đôi khi bác tự cắt ngay câu chuyện để chen vào vài lời giải thích về mặt y tế.
- Không phải là ai ăn cá măng cũng bổ cả đâu. Nó làm dạ dày khó tiêu.
Hay là:
- Cá chép làm máu đặc lại. Loại cá này khỏe.
Bác đã nhấc cái cà-mèn của chúng tôi ra rồi ngửi cái hơi bốc lên. Có khi ngửi xong bác không nói “bả độc” mà lại nói là “mả người chết” rồi hắt nồi xúp của chúng tôi vào bụi cây. Lần này bác sẽ nói gì? Bác ngửi rồi ngước mắt nhìn lên trời, im lặng…
- Bả độc!
Bảy cái đầu cùng cúi xuống cái cà-mèn. Bảy cái thìa lần lượt sục vào cà-mèn xúp. Chúng tôi ăn.
Với kiểu ăn uống như vậy thì sang đến mùa thu làm sao mà chúng tôi khỏe ra được. Trừ thằng Stepa Ivanov giống như con đà điểu, ăn bất cứ cái gì cũng có thể tiêu hóa được, tất cả chúng tôi đều gầy đi, đau ốm và cảm thấy người rất yếu.
Dù sao thì đó cũng là một mùa hè tốt đẹp. Suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên được, hoàn toàn không phải vì người ta cho chúng tôi ăn uống tồi quá. Tôi đã quá quen với chuyện đó rồi, cho đến lúc ấy tôi đã được ăn ngon bao giờ đâu. Không phải, tôi nhớ mãi mùa hè ấy vì một nguyên nhân khác. Đó là lần đầu tiên tôi thấy mình đáng được tôn trọng.
Sự kiện đó xảy ra vào cuối tháng Tám, chỉ ít lâu trước khi chúng tôi trở về thành phố, cũng đúng vào lúc chúng tôi nấu bữa ăn chiều bên đống lửa. Bỗng nhiên Stepa tuyên bố một cách ăn mới. Trước đó chúng tôi ăn theo thứ tự mỗi người múc một thìa. Stepa là chủ tịch, cho nên bắt đầu từ hắn rồi đến Romashka vân vân. Nhưng bây giờ tất cả cùng xô vào ăn ngay từ lúc xúp còn nóng, mạnh đứa nào đứa ấy ăn.
Chẳng ai thích cái trật tự mới này cả. Còn phải nói! Chơi với cái vị chủ tịch này thì chỉ có chết đói. Nó chỉ cần húp ba lần là hết sạch cà-mèn xúp.
- Thế không được! – Valka kiên quyết nói.
Chúng tôi nhao nhao lên tán thành. Stepa chậm rãi đứng dậy, phủi đầu gối rồi đấm thẳng vào mặt Valka. Nó đấm mạnh đến nỗi máu chảy ra đầy mặt và chắc là bắn cả vào mắt nên Valka quờ quạng hai tay như người mù.
- Nào, – Stepa uể oải nói, – thằng nào muốn ăn đòn nữa!
Tôi là người bé nhất trong “công xã”, và tất nhiên là nó chỉ dùng một tay cũng đánh gục được tôi, nhưng thế mà tôi đã đánh thằng Stepa. Stepa bỗng lảo đảo và ngã ngồi xuống. Tôi không biết đã đánh trúng vào chỗ nào, chỉ thấy nó cứ đờ mặt ra, ngồi thừ người trên mặt đất. Tất nhiên là nó tỉnh táo lại ngay và nhào vào người tôi, nhưng lúc này các bạn đã không để cho tôi bị bắt nạt. Stepa bị nện nhừ tử. Trong lúc nó còn nằm rống lên bên đống lửa, chúng tôi vội bầu ngay một chủ tịch mới. Đó là tôi. Đương nhiên là thằng Stepa không bầu. Nhưng có tham gia vào thì nó cũng chỉ là thiểu số, bởi vì mọi người đều nhất trí bầu tôi.
Tôi có thể nói trước ở đây rằng, tôi là một chủ tịch không tồi. Lúc đã qua thời kỳ đói khát, sang mùa đông chúng tôi được gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong, cái “công xã” của chúng tôi trở thành một phân đội khá nhất toàn trường. Phân đội “Chapaev” dũng cảm đầu tiên.
Kỳ lạ biết bao. Cuộc đấm nhau ấy lại trở thành hoạt động xã hội đầu tiên của tôi. Tôi nghe thấy các bạn bàn tán về tôi: “Yếu nhưng dũng cảm!” A ha, tôi là người dũng cảm! Mà nói chung, tôi là một người như thế nào? Thế là có những chuyện để suy nghĩ.
❀ ❀ ❀
[1] Cook (1728 –1779) nhà hàng hải người Anh đã hoàn thành ba chuyến đi vòng quanh trái đất bằng đường biển. – N.D.