Hồi còn nhỏ tôi đã đến vườn Nhà thờ hàng ngàn lần. Nhưng hồi đó tôi chưa bao giờ nghĩ rằng vườn Nhà thờ lại đẹp đến thế! Nó nằm trên ngọn đồi cao, giữa hai nhánh sông Peschinka và Tikhaya hợp lại, xung quanh có bức tường bao bọc. Bức tường thành được gìn giữ rất tốt, nhưng ngọn tháp đã bé đi nhiều so với lần cuối cùng tôi và Petya đến đây để “trích máu ăn thề tình bạn”.
Tuyết dày đặc, nhưng tôi vẫn trèo lên tầng cao nhất của cái tháp cổ Martyn: phải ngắm xem cánh đồng cỏ Irinovsky, trường Nikolai, xưởng thuộc da đã biến đổi như thế nào. Tất cả dường như ở đâu vẫn đấy, chỉ có tuyết là bạt ngàn, tuyết chạy dài đến tận chân trời…
Cuối cùng Katya và Sanya đã đến. Tôi thấy Sanya khoác cái áo da lông màu vàng, trông như một bà cụ già, nó chỉ tay nói: “Đây, vườn Nhà thờ”, đoạn nó gật đầu với vẻ rất thần bí rồi quay về ngay lập tức. Tôi gọi to.
- Katya!
Katya giật mình, nhìn thấy tôi và cười…
Chúng tôi cứ trách nhau hàng tiếng đồng hồ: tôi trách cô ta tại sao không báo tin cho tôi biết là cô đi, còn cô thì trách tôi tại sao không chờ thư của cô mà đã đến. Sau đó chúng tôi sực nhận ra là chưa báo cho nhau cái tin quan trọng nhất. Thì ra Nikolai Antonych đã nói chuyện với Katya. Nhân danh “người em đã quá cố” ông ta cấm chỉ không cho Katya được gặp tôi. Ông ta nói tràng giang đại hải và đã khóc.
- Sanya, có lẽ cậu không tin mình, – Katya nghiêm nghị nói. – nhưng mình thề với cậu, chính mắt mình đã nhìn thấy ông ta khóc!
- Thế à, – tôi nói và đặt bàn tay lên ngực.
Bức thư của thuyền trưởng Tatarinov tôi xin của dì Dasha được gói trong tờ giấy dầu đang nằm trong túi áo ngực của tôi. Tôi nói dứt khoát:
- Katya, nghe mình nói nhé, mình muốn kể cho cậu nghe một câu chuyện. Đại khái là như thế này: cậu cứ tưởng tượng rằng cậu đang sống bên bờ sông và vào một ngày nào đó có một túi thư bưu điện trôi dạt vào bờ. Tất nhiên nó không phải từ trên trời rơi xuống mà do nước lũ trôi về. Anh nhân viên bưu điện chết đuối! Túi thư này rơi vào tay một người đàn bà rất thích đọc thư. Bên cạnh nhà người đàn bà ấy có một thằng bé lên tám rất thích nghe kể chuyện. Có một lần bà ta đã đọc cho thằng bé nghe một bức thư như sau: “Bà Maria Vasilievna kính mến…”
Katya giật nảy mình và nhìn tôi sửng sốt.
“… Trước hết xin báo tin để bà rõ là ông Ivan Lvovich hãy còn sống và khỏe mạnh, – tôi tiếp tục đọc nhanh. – Cách đây bốn tháng, theo lệnh của ông…”
Tôi đọc thuộc lòng một lèo hết bức thư của người hoa tiêu. Mặc dù có mấy lần Katya kinh hãi, níu tay áo tôi, tôi cũng không ngừng.
- Cậu thấy bức thư đó à? – Cô hỏi, mặt tái đi. – Bức thư viết về ba? – Cô lại hỏi tôi, hình như ở đấy còn có thể có cái gì đó đáng ngờ.
- Ừ! Nhưng như thế chưa phải đã hết!
.jpg)
Tôi đã kể cho cô ta nghe có một lần dì Dasha còn tìm thấy một bức thư khác, trong thư kể chuyện sinh hoạt trên tàu khi tàu bị nghẽn trong lớp băng và trôi dần lên phía Bắc.
- “Mashenka yêu quý, thân thiết, yêu thương…!” – Tôi lại đọc thuộc lòng và lại ngừng.
Trên lưng tôi như có kiến bò, cổ tôi tắc lại. Chẳng khác gì trong giấc mộng, trước mắt tôi bỗng hiện lên khuôn mặt u sầu, già sọm với đôi mắt buồn bã nhìn trộm của bà Maria Vasilievna. Khi ông ấy viết cho bà thư này thì bà cũng giống như Katya hiện nay, còn Katya hồi đó là một cô gái bé tí tẹo, ngày nào cũng chờ “thư của ba” gửi về. Cuối cùng chờ mãi cũng vô ích!
- Tất cả đây này! – Tôi nói xong liền rút trong túi áo ngực ra bức thư gói trong giấy dầu. – Ngồi đây mà đọc đi. Mình đi đây, khi nào cậu đọc xong mình sẽ quay lại.
Tất nhiên là tôi chẳng đi đâu cả. Tôi đứng ở dưới chân cái tháp cổ Martyn và nhìn Katya trong suốt thời gian cô ta đọc thư. Tôi rất thông cảm với Katya, khi tôi nghĩ đến cô, lòng tôi thấy ấm lên rạo rực. Nhưng khi nghĩ đến việc cô ta sẽ kinh hãi như thế nào khi đọc những bức thư này lòng tôi lại tê tái. Tôi đã nhìn thấy những động tác tự nhiên khi cô gạt những sợi tóc làm ảnh hưởng đến việc đọc và có lúc cô đã đứng lên, hình như làm như vậy thì sẽ lần ra được một chữ khó. Trước đây tôi không biết rằng nhận được một bức thư như thế người ta sẽ đau khổ hay vui sướng. Nhưng giờ đây nhìn Katya tôi liền hiểu ngay rằng đó là một điều cực kỳ đau khổ. Tôi hiểu rằng chưa bao giờ cô hết hy vọng! Mười ba năm trước, ba cô bị biệt tăm trên biển băng Bắc cực. Ở Bắc cực không có gì dễ chết hơn là đói và rét. Nhưng đối với cô thì chỉ đến bây giờ ba cô mới chết!
Khi tôi quay trở lại thấy mắt Katya đỏ ngầu lên, cô ngồi trên ghế đá, tay nắm lá thư đặt trên đầu gối. Tôi hỏi:
- Lạnh cóng rồi phải không? – Tôi không biết nên bắt đầu câu chuyện như thế nào.
- Có mấy chữ mình đọc chẳng ra… Đây chữ này: “Cầu xin em…”
- À, mấy chữ ấy à! Ở đây viết: “Cầu xin em, đừng có tin con người ấy…”
Tối hôm đó Katya đến chơi nhà tôi, nhưng chúng tôi không đả động gì đến chuyện những bức thư cũ, – chúng tôi đã giao hẹn trước với nhau như vậy. Chỉ có dì Dasha vô tình kể lại chuyện anh nhân viên bưu điện bị chết đuối. Thì ra không phải anh chết đuối ngẫu nhiên – dì Dasha giải thích như vậy, – anh nhảy xuống nước tự tử vì “thất tình”. Anh có yêu một cô gái, nhưng cô gái này lại đi lấy người khác. Dì Dasha nói tiếp vẻ hờn giận:
- Giá anh ta phân phát hết những bức thư này trước đã thì hơn!
Tối hôm đó Katya rất buồn. Mọi người đều chăm sóc cô, đặc biệt là Sanya quyến luyến cô ngay lập tức. Chỉ có các cô gái mới có thể làm như thế. Sau đó tôi và Sanya tiễn cô về đến tận chỗ con dê. Con dê vẫn đứng trên con đường nhỏ, nhưng lần này nó không kêu be be lên nữa mà chỉ cáu kỉnh lúc lắc bộ râu.
Chúng tôi về đến nhà, người lớn vẫn chưa ngủ. Ông chánh án chỉ hơi trách dì Dasha tại sao không gửi tiếp những bức thư này đi “mặc dù những bức thư đó phải lần mò mới ra địa chỉ”, còn đối với dì chỉ có một lời biện hộ, tưởng đây là chuyện cũ cách đây đã mười năm. Dì Dasha nói về Katya. Theo ý kiến dì thì số phận tôi đã được quyết định rồi.
- Khá lắm! Mê ly! – Dì thở dài nói. – Rất xinh, nét mặt hơi buồn một tí. Khỏe mạnh!
Tôi xin Sanya một tấm bản đồ Bắc cực và chỉ ra con đường mà thuyền trưởng Tatarinov phải đi từ Leningrad đến Vladivostok. Mãi đến lúc này tôi mới nhớ đến phát hiện mới của ông. Phía bắc bán đảo Taymyr có đất đai gì nhỉ?
- Hượm đã, – Sanya nói. – Đó chẳng phải là Bắc địa đó sao! Khỉ thật! Đó là Bắc địa do trung úy Vilkitsky phát hiện năm 1913. Chiều rộng của nó ở vĩ độ 79°35’ giữa kinh tuyến tám mươi sáu và tám mươi bảy. Kỳ lạ thật!
- Sai rồi, các bạn ơi! – Tôi nói và hình như lúc đó mặt tôi hơi tái đi nên dì Dasha sợ hãi nhìn tôi. – Tôi hiểu hết rồi! Lúc đầu đây là một cái dải dài màu trắng bạc, nhô ra từ phía chân trời, ngày mồng ba tháng Tư cái dải dài ấy biến thành một miếng đất mờ mờ. Ngày mồng ba tháng Tư.
- Sanya… – dì Dasha lo lắng định nói.
- Không đúng, các vị ạ! Ngày mồng ba tháng Tư! Còn cái Bắc địa mà Vilkitsky phát hiện ra là vào mùa thu, tôi không nhớ rõ là vào ngày tháng nào, nhưng đúng là vào mùa thu khoảng tháng Chín hay tháng Mười gì đó. Vào mùa thu, như vậy là sau những nửa năm! Vào mùa thu, như vậy có nghĩa là anh ta chẳng phát hiện được cái gì cả, bởi vì cái đó đã được phát hiện rồi.
- Sanya! – Ông chánh án cũng nói.
- Mảnh đất đã được phát hiện và đã được đặt tên là Maria Vasilievna, – tôi nói tiếp, gí chặt ngón tay lên chỗ Bắc địa, hình như sợ có ai nói điều gì sai lầm nữa về nó. – Để kỷ niệm Maria Vasilievna, lục địa này đã được đặt tên là Châu Maria hoặc đảo Maria gì đó đại loại như thế. Còn bây giờ xin mời các vị ngồi xuống, tôi xin giải thích cho các vị nghe!
Trải qua một ngày như vậy làm sao có thể ngủ ngon được! Tôi cứ uống nước luôn và lật đi lật lại tấm bản đồ. Trong phòng ăn có treo một số tranh phong cảnh Ensk, tôi cứ ngắm những bức tranh ấy mãi, lúc đó tôi chưa biết những bức tranh này là do Sanya vẽ. Tôi không biết là cô ấy đang học hội họa và đang ao ước được vào Viện Hàn lâm Mỹ thuật. Tôi lại nghiên cứu tấm bản đồ. Tôi nhớ ra là những hòn đảo ở miền Bắc này mãi gần đây mới được đặt tên là Bắc địa. Còn trước kia Vilkitsky gọi những hòn đảo ấy là “Châu Nikolai đệ nhị”.
Ba của Katya thật tội nghiệp! Ông ấy quả là bất hạnh! Chẳng có một quyển sách địa lý nào nhắc đến tên ông, trên thế giới này chẳng một ai biết đến những việc ông đã làm.
Tôi bắt đầu cảm thấy lạnh vì thông cảm và phấn khởi. Lúc đó đã là sáu giờ sáng, ngoài đường phố đã có tiếng chổi quét đường kêu soàn soạt, tôi bèn đi nằm. Song tôi không tài nào ngủ được. Từng đoạn trong bức thư của viên thuyền trưởng cứ giày vò tôi. Hình như tôi nghe thấy tiếng dì Dasha đọc thư. Hình như tôi nom thấy dì đeo kính vừa thở dài, vừa lắp bắp đọc thư. Trong trí tưởng tượng của tôi đã hiện lên một bức tranh như thế này, những chiếc lều trắng ở trên tuyết, một đàn chó kéo xe trượt tuyết, một người khổng lồ đi ủng da lông rất cao, đầu đội mũ lông cao. Tôi rất muốn rằng tôi gặp tất cả những cái đó, để tôi được ở trên chiếc tàu đó, trôi dần theo núi băng, từ từ tiến lên xông pha nguy hiểm, tôi chính là người thuyền trưởng đã viết bức thư vĩnh biệt vợ, – viết nhưng không thể viết xong. “Anh lấy tên em đặt cho hòn đảo này, như vậy trên bất cứ bản đồ địa lý nào em cũng sẽ tìm thấy lời chào thân yêu nhất của… anh”.
Câu này xem ra kết thúc như thế nào nhỉ?… Bỗng có một cái gì đó từ từ thoáng qua trong đầu óc tôi, rất chậm rãi, tựa hồ như miễn cưỡng và tôi ngồi phắt dậy trên giường, không dám tin ở mình và cảm thấy bây giờ hình như mình sắp hóa điên – sắp hóa điên bởi vì tôi đã nhớ ra:
“… lời chào hỏi thân thiết nhất của anh, Mongotimo Yastrebinyi Kogot[1] của em như đã có lần em gọi anh như vậy. Lạy Chúa! Đó là chuyện đã lâu lắm rồi! Nhưng anh không than phiền… Nhưng anh không than phiền”, – tôi tiếp tục nhớ lại, mồm lắp bắp, cứ sợ nhớ ra một chữ, một chữ nữa, rồi sau đó thì quên tiệt, không sao nhớ ra được nữa. “Anh không than phiền. Chúng ta nhất định sẽ lại gặp nhau, và mọi việc đều sẽ êm đẹp cả. Nhưng có một ý nghĩ, một ý nghĩ làm cho anh vô cùng khổ tâm!”
Tôi bỗng nhảy ra khỏi giường, châm đèn và chạy vội đến bên cái bàn có tấm bản đồ và bút chì.
“Thật là đau khổ, – Lúc đó tôi viết lên tấm bản đồ, – khi nhận thấy rằng lẽ ra mọi việc có thể sẽ khác hẳn. Bọn anh liên tiếp gặp phải những điều rủi ro mà điều rủi ro đầu tiên, đó là anh đã giao việc chuẩn bị vật chất của đội thám hiểm cho Nikolai. Đó là cái sai lầm mà bọn anh phải trả giá từng giờ từng phút.”
Nikolai ư? Đúng không? Đúng, chính Nikolai rồi!
Tôi ngừng lại bởi vì tôi đã vấp phải một chỗ quên. Nhưng sau đó, – những sự việc sau đó thì tôi lại nhớ rất rõ – đó là đoạn kể về anh thủy thủ Skachkov bị rơi xuống vực chết. Nhưng đó lại là chuyện khác hẳn. Đó là nội dung của bức thư chứ không phải là nguyên văn, trừ vài chữ rời rạc ra, còn nguyên văn bức thư như thế nào tôi chịu không sao nhớ ra được nữa.
Thế là tôi không ngủ, ông chánh án dậy vào lúc tám giờ sáng và giật mình khi thấy tôi chỉ mặc có một chiếc áo may-ô ngồi trước những tấm bản đồ Bắc cực. Trên tấm bản đồ này tôi đã có thể đọc được hết tất cả những chi tiết về vụ chiếc tàu buồm “St. Maria” bị đắm – chi ly đến mức nếu thuyền trưởng Tatarinov có trở về cũng phải ngạc nhiên…
Tối hôm trước chúng tôi đã hẹn với nhau là sẽ đi thăm Viện bảo tàng thành phố. Sanya muốn dẫn chúng tôi đi xem Viện bảo tàng này vì đó là niềm rất tự hào của thành phố Ensk. Viện bảo tàng đặt trong cung điện Pagankin, tòa nhà của tên chủ hiệu buôn hồi trước. Petya Skovorodnikov trước đây nói rằng tòa nhà này có đầy ắp những vàng, tên chủ hiệu Pagankin ở dưới hầm của cái nhà này và hễ ai vào đến nhà hầm là nó bóp cổ chết. Quả thật, cửa vào nhà hầm đóng kín, trên cánh cửa treo một ống khóa rất to, có lẽ khóa của thế kỷ thứ mười hai. Nhưng cửa sổ thì lại mở. Những người đánh xe ngựa thường ném củi vào trong nhà hầm qua cửa sổ này.
Trên tầng ba là phòng triển lãm tranh của họa sĩ Tuv, thầy giáo hội họa của Sanya và cô muốn dẫn chúng tôi đến xem những bức tranh này trước. Trong số những bức tranh này có bức chân dung của tác giả: người nhỏ bé, khoác chiếc áo nhung ngắn kiểu Tolstoy, niềm nở, tóc đen rất rậm, thỉnh thoảng điểm vài ba sợi tóc trắng lóng lánh. Tranh của ông kể cũng không tồi, nhưng hơi đơn điệu, chỉ toàn là cảnh Ensk, đêm và ngày, cảnh dưới ánh trăng và dưới ánh nắng mặt trời, thành phố Ensk cũ và mới. Song chúng tôi vẫn cứ tán dương những tác phẩm ấy bởi vì ông họa sĩ Tuv này thật ra cũng rất đáng yêu và vẻ mặt Sanya khi nhìn ông ta trông thật là tôn kính!
Hình như cô đoán được là tôi và Katya muốn nói chuyện riêng với nhau nên cô đã tìm một cái cớ vớ vẩn để đi và để chúng tôi ở lại một mình ở phòng triển lãm. Còn chúng tôi thì xuống tầng dưới, vào một gian phòng rất lớn, trong phòng có rất nhiều tượng các hiệp sĩ, hiệp sĩ nào cũng mặc áo giáp sắt, trước ngực lại có tấm thép chắn y như người ta mặc áo gi-lê ra ngoài áo sơ-mi vậy.
Rất dễ hiểu là lúc này tôi đang muốn kể cho Katya nghe những phát hiện của tôi hồi đêm. Nhưng bắt đầu câu chuyện như thế nào? Chính cô ta lại phải khơi mào trước.
- Sanya, – cô nói khi chúng tôi dừng lại trước bức tượng người chiến sĩ thời Stefan Batory, làm người ta nhớ đến thầy Korablyov, – mình nghĩ ra rồi, ông cụ viết “Đừng tin ở con người ấy” là nói về ai rồi.
- Nói đi!
- Mình khẳng định rằng đó không phải nói về Nikolai Antonych.
Chúng tôi im lặng. Cô vẫn không rời mắt khỏi bức tượng người chiến sĩ.
- Không, về ông ta đấy, – tôi bác lại. – Hơn nữa chính ba cậu đã phát hiện ra Bắc địa. Chính là ba cậu chứ không phải là Vilkitsky. Mình đã xác minh được điều đó.
Nhưng cái tin đã làm chấn động các nhà địa lý học trên toàn thế giới trong nhiều năm giờ đây lại chẳng gây ảnh hưởng gì đặc biệt đối với Katya cả.
- Thế tại sao cậu lại nghĩ rằng, – cô nói tiếp có vẻ khó nhọc, – đó chính là ông ta… là Nikolai Antonych? Trong thư chẳng có chỗ nào nói rõ như thế cả?
- Có khối chỗ nói rõ, – tôi cảm thấy mình đã bắt đầu nóng tiết. – Thứ nhất là về chỗ những con chó. Ai thường hay khoe khoang hàng nghìn lần là đã mua cho đội thám hiểm những con chó tốt nhất? Thứ hai…
Sanya đến, chúng tôi lại im lặng. Chúng tôi xem “Cuộc sống của giới quý tộc cổ Nga”, xem “Những cái nhà như chuồng gà của nông dân tỉnh Ensk dưới chế độ tư bản” mà chẳng hiểu gì cả. Sanya giải thích cho chúng tôi điều gì đó nhưng tôi không nghe thấy hay ít nhất thì Katya cũng không nghe được. Cô cứ nhìn tôi suốt, hình như muốn hỏi tôi: “Cậu tin thế chứ?”. Còn tôi thì trả lời nhưng không nói ra lời: “Mình tin chắc như vậy”.
Sau đó Sanya lại từ giã chúng tôi để về. Chúng tôi còn đi mãi trong gian phòng lớn thiếu ánh sáng của Viện bảo tàng thành phố Ensk.
- Còn điều thứ hai?
- Điều thứ hai là đêm qua mình nhớ ra một đoạn nữa của bức thư. Đó là…
Và tôi đã đọc cái đoạn đó, bắt đầu từ chữ: “Mongotimo Yastrebinyi Kogot”. Tôi đọc rất đĩnh đạc, hùng dũng như ngâm thơ, còn Katya thì trợn tròn mắt nghe tôi, nghiêm trang như một pho tượng. Bỗng mắt cô thoáng hiện vẻ lãnh đạm và tôi cảm thấy rằng cô không tin tôi.
- Cậu có tin mình không?
Mặt cô biến sắc, cô khe khẽ đáp:
- Tin.
Chúng tôi không nói gì thêm về chuyện ấy nữa. Tôi chỉ hỏi cô có một câu là có nhớ câu “Mongotimo Yastrebinyi Kogot” từ đâu ra không? Cô nói là cô không nhớ, hình như từ trong cuốn sách của Gustave Aimard[2] thì phải. Sau đó cô nói: “Mình không biết cái tin này đối với mẹ sẽ đáng sợ như thế nào.”
- Mọi cái đều kinh khủng hơn điều cậu tưởng rất nhiều, – cô nhận xét, buồn bã và hệt một người lớn tuổi. – Hiện nay mẹ sống đã khổ lắm rồi, những nỗi khổ sở phải chịu đựng thì không cần phải nói. Nhưng Nikolai Antonych…
Katya bỗng im bặt. Nhưng sau đó cô cũng giải thích cho tôi vì sao. Đây cũng là một phát hiện mới có lẽ còn bất ngờ hơn cả việc thuyền trưởng Tatarinov phát hiện ra Bắc địa. Thì ra Nikolai Antonych đã yêu bà Maria Vasilievna từ nhiều năm nay. Năm ngoái khi bà ốm, ông túc trực mấy ngày đêm liền không cởi quần áo, thậm chí còn mời riêng cả một chị y tá đến, mặc dù chẳng phải làm như vậy. Sau khi khỏi bệnh, ông trực tiếp đưa bà đến thành phố Sochi. Đáng lẽ đưa vào nhà an dưỡng thì rẻ hơn nhiều, nhưng ông lại để bà nằm ở khách sạn “Riviera”. Cụ Nina Kapitonovna nói “thật là rồ!” Mùa xuân ông đi Leningrad và mua cho bà Maria Vasilievna một áo khoác da có tay kiểu cánh bay rất đắt tiền. Không bao giờ ông đi ngủ trước nếu bà Maria Vasilievna không có nhà. Ông khuyên bà nên thôi học đại học bởi vì bà khó lòng vừa công tác lại vừa học. Nhưng câu chuyện đáng ngạc nhiên nhất lại xảy ra vào mùa đông năm nay: bỗng nhiên bà Maria Vasilievna tuyên bố rằng bà không muốn gặp ông ta nữa. Và thế là ông mất tích. Ông mặc quần áo rồi đi biệt hơn mười ngày liền không thấy về. Chẳng ai biết ông ở đâu cả. Có lẽ ông ở khách sạn. Lúc đó bà cụ Nina Kapitonovna đến can thiệp. Bà cụ nói rằng đó là “một thứ hình phạt kiểu giáo hội” và bà cụ thân dẫn ông ta về. Nhưng bà Maria Vasilievna vẫn không nói chuyện với ông suốt một tháng…
Nói rằng ông Nikolai Antonych phát điên vì tình, đó là một việc không thể có được! Nikolai Antonych với những ngón tay mập mạp, với cái răng vàng, lại già như thế! Nhưng nghe Katya kể, tôi hình dung những quan hệ phức tạp và đau lòng. Tôi tưởng tượng xem bà Maria Vasilievna đã sống những năm trời đằng đẵng ấy như thế nào. Bà xinh đẹp mà mới hai mươi tuổi đầu đã phải sống cô độc. “Không phải quả phụ mà cũng không phải là gái có chồng!” Bà bắt mình sống bằng cách kính trọng kỷ niệm của chồng. Tôi tưởng tượng xem bao năm trời nay Nikolai Antonych đã ve vãn chiều chuộng bà, lường gạt bà, ngọt ngào, kiên tâm, nhẫn nại như thế nào. Ông đã biết thuyết phục bà và không phải chỉ có một mình bà – tin rằng chỉ có mình ông là hiểu rõ và yêu quý chồng bà mà thôi. Katya đã nói đúng. Đối với bà Maria Vasilievna, bức thư này là một cái đòn đáng sợ. Hay cứ để cho bức thư này nằm trên cái giá sách con ở trong buồng của Sanya, giữa hai cuốn sách “Vua Chuông” và “Những cuộc phiêu lưu của chàng Kozak sông Đông trên núi đồi Kavkaz” là hơn?
❀ ❀ ❀
[1] Có nghĩa là Mongotimo Vuốt Chim Ưng (Caruri).
[2] Gustave Aimard (1818 – 1883) nhà văn Pháp đã từng đến Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Phi châu và Kavkaz vân vân; đã từng viết nhiều tiểu thuyết du ký và truyện người da đỏ chống lại sự xâm lược của người da trắng. – N.D.