Chuyến đi qua những nơi mà thuở trước tôi cùng Petya Skovorodnikov đã từng lang thang trộm cắp, ăn xin để sống qua ngày đã để lại cho tôi một ấn tượng vô cùng phóng khoáng.
Lần đầu tiên trong đời tôi đi tàu hỏa có vé trong tay. Tôi có thể ngồi ở chỗ cạnh cửa sổ, có thể nói chuyện với người ngồi bên cạnh, nếu tôi biết hút thuốc thì tôi cũng có thể hút thuốc. Khi có người soát vé đến, tôi không còn phải chui xuống gầm ghế nữa, mà có thể tiếp tục câu chuyện một cách đàng hoàng, lấy tấm vé ra đưa cho họ. Cảm giác đó thật là đặc biệt, rất thoải mái, mặc dù trong toa chật như nêm. Cảm giác đó đã lôi cuốn tôi, và giờ đây tôi nghĩ đến Ensk, nghĩ đến đứa em gái, đến dì Dasha, đến việc tôi sẽ về đột ngột như tuyết ập xuống đầu họ, và họ sẽ không nhận ra tôi.
Tôi thiếp đi với ý nghĩ đó và ngủ rất lâu khiến cho những người ngồi bên cạnh phát hoảng – không biết tôi còn sống hay đã chết? Nhưng các bạn biết đấy, tôi nào có chết.
Được trở lại thành phố quê hương sau tám năm xa cách thật thú vị biết bao! Cái gì cũng quen thuộc mà cái gì cũng xa lạ. Chẳng lẽ đây là tòa thị chính cũ đó sao? Xưa kia tôi có cảm tưởng nó cao to ghê lắm. Chẳng lẽ đây lại là bức tường thành? Chẳng lẽ nó vẫn nhỏ bé và cong queo như vậy? Chẳng lẽ đây lại là đại lộ râm mát mang tên Lopukhin? Có điều cái đại lộ này cũng an ủi tôi đôi chút, đó là đằng sau hàng cây bồ đề, dọc con đường chính đã mọc lên những ngôi nhà mới đẹp đẽ. Những cây bồ đề đen đen như được vẽ trên cái phông trắng. Bóng cây bồ đề ngả xuống mặt tuyết trắng trông thật là đẹp mắt.
Tôi bước nhanh và cứ mỗi bước đi tôi lại nhận ra được cảnh vật cũ hoặc là ngạc nhiên với những đổi mới. Đây là trại trẻ mà dì Dasha định gửi tôi và em gái tôi vào đấy. Tòa nhà đã được sơn lại màu xanh lục, trên tường có một tấm bảng lớn bằng đá hoa khắc chữ vàng. Tôi đọc xong những hàng chữ ấy mà không dám tin ở mắt mình: “Năm 1824 Aleksandr Sergeevich Pushkin đã tạm trú ở đây”. Khỉ thật! Pushkin đã từng ở trong ngôi nhà này! Bọn trẻ ở trại hồi đó mà biết việc này thì thế nào cũng lại vênh mặt lên.
Đây là “tòa án”. Tôi và mẹ tôi đã đưa đơn đến đây. Bây giờ ở đây không còn có vẻ gì là tòa án nữa! Người ta đã lấy ra khỏi cửa sổ những cái chấn song sắt thấp và cổ kính. Cạnh cổng có treo tấm bảng đề: “Nhà văn hóa”.
Còn đây là bức tường pháo đài. Tim tôi đập rộn lên. Bờ sông lát đá hoa cương hiện ra trước mắt tôi. Tôi khó mà nhận ra nó chính là cái bờ sông dốc thoai thoải đáng thương ngày trước. Tôi càng ngạc nhiên hơn nữa vì nơi mà chúng tôi ở ngày trước, nay đã thành một cái vườn hoa nhỏ. Mấy bà giữ trẻ tay ôm những đứa bé quấn kín ngồi trên ghế đá trông như những pho tượng. Tôi thật không ngờ như vậy. Tôi đứng mãi trên bức tường thành nhìn xuống cái vườn hoa nhỏ, nhìn xuống bờ sông lát đá hoa cương và con đường râm mát chúng tôi thường chơi đánh khăng ở đó mà thầm sửng sốt. Trên mảnh đất trống ở sau những dãy nhà bán tạp hóa trước kia, nay bỗng mọc lên một tòa nhà nhiều tầng màu xám. Ngoài cổng có một người gác mặc áo to xù đi đi lại lại. Tôi đi lại chỗ ông ta, trỏ vào ngôi nhà hỏi xem đó là cơ quan gì.
- Đây là nhà máy điện Ensk, – ông ta trả lời trịnh trọng.
- Ông có biết gia đình ông Skovorodnikov ở đâu không?
- Chánh án à?
- Không.
- Thế thì tôi không biết. Chúng tôi ở đây chỉ có một ông Skovorodnikov làm chánh án thôi.
Tôi bước đi. Hay ông lão Skovorodnikov giờ đây đã làm chánh án? Tôi quay lại. Tôi lại nhìn tòa nhà cao, đẹp được xây dựng trên chỗ những ngôi nhà tồi tàn của chúng tôi xưa kia. Và tôi quả quyết rằng có thể như thế được lắm.
- Thế ông chánh án ấy người như thế nào? Người cao lớn có phải không?
- Rất cao lớn.
- Có để ria không?
- Không, không để ria, – hình như người gác nhà máy bực mình thay cho ông Skovorodnikov nên bác lại.
Hừ… không để ria. Thế thì ít có hy vọng.
- Ông chánh án ấy ở đâu hả ông?
- Ở phố Gogol, nhà Marcuse cũ.
Tôi biết đó là một trong những ngôi nhà tốt nhất ở thành phố này. Hai bên cửa có hai cái đầu sư tử đá. Tôi lại thấy bí. Nhưng chẳng còn cách nào khác, tôi đành phải đi lên phố Gogol, song cũng rất ít hy vọng là ông già Skovorodnikov đã cạo ria đi, trở thành chánh án và dọn đến ở ngôi nhà sang trọng như thế.
Nửa giờ sau tôi đã ở phố Gogol, trước cửa nhà Marcuse. Qua tám năm hai cái đầu sư tử đá cũng già đi, nhưng vẫn có vẻ gầm gừ hùng dũng như xưa. Tôi lưỡng lự đứng trước lối vào cửa rất rộng đang đóng kín. Có nên bấm chuông không? Hay đi hỏi công an xem phòng chỉ dẫn địa chỉ ở đâu.
Trên các cửa sổ có những tấm màn che bằng the mà dì Dasha xưa kia rất thích. Tôi bỗng quyết định ấn chuông.
Một cô gái khoảng mười sáu tuổi ra mở cửa cho tôi, cô mặc chiếc áo váy bằng len mịn màu xanh lam, tóc rẽ đầu ngôi giữa chải rất mượt, nước da ngăm ngăm đen. Chính cái nước da ấy làm tôi đâm bối rối.
- Có phải gia đình Skovorodnikov ở đây không?
- Phải.
- Vậy… bà Daria Gavrilovna có nhà không?
- Bà ấy sắp về. – Cô gái trả lời, mỉm cười và tò mò nhìn tôi. Cô ta cười giống hệt như Sanya. Nhưng Sanya trắng trẻo hơn nhiều, có hai cái đuôi sam tóc quăn, mắt xanh biếc cơ. Không phải, không phải là Sanya.
- Tôi chờ được không?
- Xin mời.
Tôi cởi áo bành-tô ở buồng treo áo. Cô ta dẫn tôi vào một căn phòng lớn sáng sủa, bày biện sạch sẽ và có thể nói là sang trọng nữa. Mới vào phòng đã trông thấy ngay một cái đàn pi-a-nô – cái này thật không giống nhà dì Dasha. Nhưng tấm ảnh ở giữa hai cái lọ hoa thủy tinh màu xanh, tấm ảnh của người anh hùng khi xưa ngồi trên chiếc ghế đan trên nền dãy núi tuyết thì lại rõ ràng như chính dì Dasha vậy.
Có thể nói lúc đó tôi ngắm nghía mọi thứ vừa vui thích vừa có vẻ ngớ ngẩn nên cô gái cứ tròn mắt nhìn tôi. Bỗng cô hơi cúi đầu xuống và nhướn cao lông mày lên, giống hệt như mẹ thuở trước. Tôi hiểu, đây vẫn đúng là Sanya.
- Sanya? – Tôi rụt rè thốt lên.
Cô ta giật mình.
- Vâng.
- Hượm đã, trước kia em rất trắng cơ mà, – tôi nói tiếp giọng run run. – Tại sao thế? Khi chúng mình về nông thôn em rất trắng. Thế mà bây giờ sao lại đen đi thế này.
Cô ta sửng sốt há hốc mồm ra.
- Ở nông thôn nào?
- Khi bố chết, – tôi nói và bật cười. – Ờ em quên rồi! Quên hết cả rồi! Đến anh đây em cũng không nhớ nữa.
Có lẽ vì vui sướng quá nên tôi hơi líu lưỡi. Tôi rất yêu em gái, đã mười năm xa cách rồi, mà nó lại giống mẹ tôi vô cùng.
- Sanya? – Cuối cùng cô ta cũng nói. – Trời ơi! Thế mà ở nhà cứ nghĩ rằng anh đã chết từ lâu.
Nó ôm ghì lấy tôi.
- Sanya, Sanya! Anh thật đấy ư? Thế mà dì Dasha không có nhà. Anh ngồi xuống đi, sao cứ đứng mãi. Anh từ đâu đến? Về bao giờ?
Chúng tôi ngồi xuống cạnh nhau, nhưng nó lại đứng dậy ngay và chạy ra phòng treo áo đem cái hòm con của tôi vào.
- Chờ tí đã nào! Em chạy đi đâu thế? Hãy nói cho anh nghe em sống thế nào, dì Dasha ra sao?
- Thế anh thế nào? Sao chẳng viết một lá thư nào cả? Cả nhà đi tìm kiếm anh. Lại nhắn tin cả trên các báo nữa.
- Anh không đọc báo, – tôi ân hận nói.
Đến tận bây giờ tôi mới nhận thức được đầy đủ hành vi đốn mạt của mình: tôi đã quên rằng mình còn một đứa em gái như vậy. Lại còn dì Dasha tốt không thể tả được nữa. Như Sanya vừa mới nói, thậm chí không thể báo ngay cho dì biết là tôi đã về, nếu không dì sẽ chết mất vì mừng quá.
- Cả Petya cũng đi tìm anh, – em tôi nói tiếp. – Mới đây anh ấy còn viết thư về Tashkent nữa. Anh ấy vẫn tưởng anh ở Tashkent.
- Petya?
- Vâng.
- Skovorodnikov?
- Thì còn ai nữa?
- Nó ở đâu?
- Ở Moskva, – Sanya nói.
Tôi sửng sốt.
- Lâu chưa?
- Thì từ khi các anh rủ nhau đi ấy.
Petya ở Moskva! Tôi kinh ngạc đớ người ra.
- Sanya, thì chính anh cũng sống ở Moskva đây.
- Thật à?
- Thật. Nó thế nào? Làm việc gì?
- Chẳng thế nào cả. Rất tốt. Năm nay anh ấy tốt nghiệp trường phổ thông.
- Hừ, khỉ thật! Chính anh cũng thế. Em có cái ảnh nào của nó không?
Tôi cảm thấy cô em hơi bối rối khi tôi hỏi đến ảnh của Petya. Nó nói “Để em đi lấy”, đi ra rồi trở lại rất nhanh, cứ như nó vừa rút tấm ảnh Petya ở ngay trong túi áo ra vậy.
- Này, trông cậu ta đẹp trai đấy chứ, – tôi nói và cười vang lên. – Vẫn tóc nâu à?
- Tóc nâu.
- Hừ, khỉ thật, hay quá! Thế còn ông cụ? Ông cụ ra sao? Chẳng lẽ lại thật à?
- Thật cái gì?
- Ông cụ làm chánh án à?
- Trời ơi! Ông ấy làm chánh án đã năm năm nay rồi.
Chúng tôi cứ hỏi nhau mọi chuyện, cắt lời nhau, rồi lại hỏi.
Sau đó Sanya chạy xuống bếp, tôi cũng đi theo nó và nói không có nó tôi rất buồn. Điều đó quả là thật, vắng nó tôi cảm thấy trống trải ngay lập tức.
Chúng tôi đem ấm xa-mô-va ra và dóm bếp lò. Sau đó có tiếng chuông rè rè ở ngoài phòng treo áo.
- Dì Dasha!
- Anh ở lại trong này, – Sanya nói thầm, – để em chuẩn bị tư tưởng cho dì ấy. Thật đấy, dì đang đau tim…
Em tôi chạy ra và tôi nghe thấy tiếng nói chuyện ở phòng bên.
- Dì Dasha ạ, xin dì đừng xúc động nhé. Cháu có một tin rất vui cho nên dì không được xúc động mà trái lại dì phải thật bình tĩnh cơ.
- Ừ, nói đi nào!
- Dì Dasha này, hôm nay dì định không nướng bánh nữa, nhưng bây giờ thì phải nướng thôi.
- Petya về phải không?
- Nói là Petya thì cũng được, nhưng chưa thật đúng. Dì Dasha à, dì không vui sướng mừng quá chứ?
- Không.
- Dì hứa nhé?
- Ừ thì hứa! Cái con bé này!
- Dì xem hôm nay ai đến nhà ta nào? – Và Sanya mở cánh cửa bếp.
Thật là tuyệt vời. Dì Dasha thoạt nhìn đã nhận ra tôi ngay.
- Sanya, – dì khẽ nói.
Dì ôm ghì lấy tôi. Sau đó ngồi xuống, nhắm nghiền đôi mắt. Tôi nắm lấy tay dì.
- Cháu yêu quý! Có đúng là cháu đây không?
- Cháu đây dì Dasha ạ!
- Dì không nằm mơ đấy chứ?
- Không phải đâu, dì Dasha ạ!
Nhưng hình như dì Dasha vẫn không tin ở tôi, bởi vì dì lại nhắm mắt lại, như đang ngủ thật.
- Cháu yêu quý! Cháu còn sống ư? Cháu đi những đâu? Cả nhà đã tìm cháu khắp thế gian này.
- Cháu biết, dì Dasha ạ. Đấy là lỗi tại cháu.
- Lỗi ư! Lạy Chúa! Người về rồi mà còn nói là lỗi lầm. Cháu yêu quý! Cháu lớn lắm rồi. Trông bảnh trai lắm rồi…
Đối với dì Dasha, tôi bao giờ cũng là một đứa trẻ xinh xắn…
Còn nhớ gì hơn, còn nói gì hơn về cuộc gặp gỡ không thể nào quên được này? Dì Dasha đang nói nửa chừng bỗng đứng lên, vẻ sợ hãi ghé vào tai Sanya nói thầm: “Chưa cho ăn gì à?” Tôi nom thấy trên bàn ăn bày la liệt đủ loại thức ăn, nhưng hai dì cháu lại nói đó chỉ là “nhấm nháp trước khi ăn trưa” làm tôi cười bò ra.
Từ giờ phút đó trở đi, có lẽ tôi chỉ toàn là ăn. Tôi vừa nói chuyện vừa ăn, về sau dì Dasha nói rằng người tôi bẩn quá cho nên tôi đành phải vào bồn nước mà tắm. Thế là hết một ngày.
Chiều tối, tôi đã tắm rửa sạch sẽ, ăn uống no nê và đang ngồi ở trong phòng ăn. Dì Dasha và em Sanya ngồi hai bên nhìn tôi đầy thương yêu khiến cho tôi thấy hổ thẹn. Thực tình là như vậy. Sau đó ông chánh án về.
Người gác nhà máy nọ đã không nói dối. Ông già quả đã cạo ria nhẵn nhụi. Trông ông trẻ ra đến chục tuổi, giờ đây khó mà có thể tưởng tượng được rằng ông đã nấu keo dán bán và đã gửi gấm ở loại keo ấy những hy vọng to lớn.
Ông đã biết tôi về – Sanya đã gọi dây nói báo cho ông biết.
- Này, anh chàng lêu lổng, – nói đoạn ông ta ôm lấy tôi. – Thế không sợ ta vặn cổ đi à? Chà, cái thằng hư!
Tôi còn biết dùng lời lẽ gì để biện hộ cho mình được? Tôi chỉ biết ậm ừ hối hận.
Đêm khuya. Trong phòng chỉ còn lại mình tôi và ông. Ông già muốn biết, sau khi rời khỏi Ensk tôi đã làm những gì, sống ra sao. Đúng như một ông chánh án, ông nghiêm nghị hỏi tôi về mọi chuyện ở trường học cũng như việc riêng.
Tôi nói rằng tôi muốn trở thành phi công. Ông trầm ngâm hồi lâu, đôi mắt có hàng lông mày vừa dài vừa rậm nhìn tôi chằm chằm.
- Lái máy bay quân sự à?
- Lái máy bay đi Bắc cực. Nếu cần thì lái máy bay chiến đấu cũng được.
Ông lại im lặng hồi lâu.
- Một công việc nguy hiểm nhưng rất hay, rất thú vị, – ông nói.
Chỉ có một việc tôi không nói với ông. Tôi không cho ông biết là mình về Ensk vì theo đuổi Katya. Dù sao tôi cũng không thể nói được ra lời với ông là nếu không vì Katya thì có lẽ còn lâu nữa tôi mới trở về thành phố quê hương, trở về ngôi nhà với những người thân của mình.