Muốn tìm ngôi nhà này chẳng lấy gì làm khó, bởi vì cả thành phố chỉ có một dãy nhà, còn tất cả những ngôi khác thì mới chỉ ở trong trí tưởng tượng của các nhà xây dựng Zapolyarye mà thôi.
Khi tôi đến gõ cửa nhà bác sĩ thì trời đã tối. Đúng lúc đó cửa sổ mở ra, một bóng người tư lự đi qua sau rèm cửa. Mãi chẳng có ai ra mở cửa cho tôi, tôi phải tự tay đẩy khẽ cánh cửa nặng nề và bước vào một căn phòng rộng rãi, sạch sẽ.
- Ông chủ có nhà không ạ?
Chẳng có ai đáp lại. Ở góc nhà có cái chổi. Tôi lấy chổi quét tuyết bám trên giày ống, tuyết bám lên đến tận đầu gối.
- Trong nhà có ai không?
Chẳng có ai cả. Chỉ có con mèo con màu hung từ dưới mắc áo sợ hãi nhìn tôi rồi lủi mất. Sau đó bác sĩ xuất hiện ở ngoài cửa.
Đứng về mặt y học mà nói, có lẽ chuyện này cũng khó tin. Nhưng trong mấy năm qua, không những ông không già đi mà còn trẻ ra rất nhiều và rất giống cái ông bác sĩ vui tính, cao cao, râu rậm đã dạy tôi và em gái tôi làm xiên gỗ để nướng khoai tây năm nào ở làng quê.
- Anh tìm tôi?
- Thưa bác sĩ, tôi muốn mời bác đi thăm một người ốm, – tôi nói nhanh. – Một người bệnh rất thú vị: người câm mà không điếc. Người đó nghe được tuốt, nhưng đến chữ “ma-ma” cũng không nói được.
Ông bác sĩ từ từ nâng cái kính lên trán.
- Xin lỗi…
- Tôi nói có một người bệnh rất thú vị, – tôi nghiêm chỉnh nói tiếp. – Người đó chỉ có thể phát âm được sáu tiếng: gà, yên ngựa, hòm, bão tuyết, uống, Abram. Bệnh nhân G. đã được đăng trên tạp chí.
Bác sĩ đi đến chỗ tôi, trông dáng điệu của ông hình như định kéo lưỡi tôi ra xem hoặc ngó vào tai tôi. Nhưng ông chỉ nói.
- Sanya!
Chúng tôi ôm nhau.
- Thế ra đã bay đến rồi à?
- Vâng, bay đến rồi.
- Cừ lắm! Phi công à? Ừ, giỏi lắm! Giỏi lắm!
Ông ôm vai tôi dẫn vào phòng ăn. Ở đây có một cậu bé khoảng mười hai tuổi, trông giống bác sĩ như đúc. Chú bé chìa tay cho tôi và nói rõ âm “o”: “Volodya”.
Ở đây sáng hơn ở phòng ngoài, bác sĩ lại ngắm nhìn tôi tứ phía và lần này hình như không kìm nổi nữa, tí nữa thì ngó vào tai tôi thật.
- Ừ, cừ lắm, – ông nhắc lại đến lần thứ mười. – Còn em gái? Cô ấy đâu? Cũng biết bay chứ?
- Em cháu gửi bác lời chào thân ái, – tôi nói. – Cô ấy trở thành họa sĩ rồi, đã lấy chồng và sống ở Leningrad.
- Lấy chồng rồi? Vẫn tết đuôi sam chứ?
Tôi cười vang lên. Thì ra lúc bé Sanya đã tết đuôi sam.
- Ồ, tôi già rồi, – bác sĩ thở dài nói. – Ai ngờ chú bé trước kia vừa gầy vừa nhỏ, mặc chiếc quần rộng thùng thình, giờ đây đã trở thành phi công. Cô bé để tóc đuôi sam đã trở thành họa sĩ, đã lấy chồng và sống ở Leningrad.
- Thưa bác Ivan Ivanych, cháu nói thật đấy, bác chả thay đổi tí nào cả. Thật lạ lùng. Lại còn trẻ ra nữa.
Ông cười. Thấy tôi nói thế, ông rất phấn khởi. Còn tôi, suốt cả buổi tối hôm ấy tôi cứ nhắc đi nhắc lại mãi là ông trẻ ra hoặc là ít nhất ông cũng không thay đổi gì.
Chúng tôi ngồi uống trà. Lúc đó bà vợ vào. Bà Anna Stepanovna vừa cao lớn vừa to béo, mặc áo lông mà người dân tộc miền Bắc thích mặc, đi giày ống da lông. Tôi cảm thấy bà giống như một vị thần Bắc cực. Bà bỏ áo khoác lông ra, thay đổi giày ống, thế mà vẫn cao lớn. Thậm chí ông bác sĩ cao lêu nghêu như thế so với bà cũng chẳng cao hơn mấy. Khuôn mặt bà rất trẻ. Bà rất tương xứng với căn nhà gỗ sạch sẽ, với cái sàn nhà màu vàng và với những tấm thảm nông thôn. Bà có những nét cổ Nga, đồng thời lại có những nét của chính vùng Zapolyarye, mặc dù đây là một thành phố hoàn toàn mới, vừa xây dựng cách đây có năm sáu năm. Về sau tôi được biết bà là người vùng Bạch hải.
Chúng tôi nói chuyện về Zapolyarye. Bây giờ tôi mới biết lịch sử của cái thành phố kỳ lạ toàn bằng gỗ này: vỉa hè bằng gỗ, cầu gỗ, tóm lại mọi thứ đều làm bằng gỗ, thậm chí đến cả móng nhà cũng đóng bằng cọc gỗ.
- Cứ như đi ở trong nhà ấy, – bà Anna Stepanovna nói. – Toàn sàn là sàn. Đến đường cái quan cũng làm bằng gỗ.
Hình như bác sĩ là người đến Zapolyarye bằng chuyến tàu biển đầu tiên, chính mắt bác sĩ đã được chứng kiến việc xây dựng tất cả cái thành phố này.
- Ở đây năm 1928 vẫn còn là rừng rậm, – ông nói. – Ngay như chỗ chúng ta đang ngồi uống trà đây, trước kia người ta cũng bắn thỏ.
- Nhưng bây giờ thì được dựng một ngôi nhà, – bà Anna Stepanovna nói, – còn cái phố này thì cứ chuẩn bị xây mãi, chuẩn bị mãi mà chả thấy khởi công.
- Thế bà bảo rạp hát cũng tồi à?
- Rạp hát rất tốt.
- Năm ngoái, Nhà hát nghệ thuật Moskva có lên đây, – Volodya nói và đỏ mặt lên. – Chúng em tặng hoa hoan nghênh họ. Họ rất ngạc nhiên, không biết chúng em lấy đâu ra hoa. Thực ra chỗ chúng em đây cần bao nhiêu hoa có bấy nhiêu. – Mọi người nhìn chú, thế là chú lại càng đỏ mặt tợn.
- Volodya thích xem kịch, – Anna Stepanovna nói, – nó còn thích…
- Mẹ!
Bác sĩ cười.
- Mẹ, mẹ ra con hỏi một tí! – Volodya nói giọng đe dọa, nói xong chú đi ra.
Bà Anna Stepanovna cũng cười và đi ra theo chú.
- Nó đang làm thơ, – bác sĩ nói nhỏ. – Thật vậy, giờ đây hồi tưởng lại thật là thú vị, – ông nói tiếp. – Thật là tuyệt! Khi xây dựng xưởng gỗ đầu tiên, trên tờ báo, thay cho chỗ in ngày tháng, người ta in dòng chữ còn bao nhiêu ngày nữa thì xưởng gỗ đi vào sản xuất. Hai mươi ngày. Mười chín ngày. Cuối cùng chỉ còn có một ngày! Chuyến bay đầu tiên đến! Họ được hoan nghênh nhiệt liệt quá! Còn anh? – Tự nhiên ông bác sĩ nhớ ra, nói. – Anh thế nào? Anh chuẩn bị làm gì?
- Cháu chuẩn bị bay.
- Bay đi đâu?
- Cháu chưa biết. Kế hoạch thì rất lớn. Nhưng hiện nay tạm thời chở da lông thú đến Krasnoyarsk.
- Theo kế hoạch thì có tuyến đường bay mới chứ?
- Vâng… Thưa bác có ạ, – tôi nói khi đã ăn hết các thứ bày trên bàn, chúng tôi bắt đầu uống thứ rượu vang vàng tự chế rất hợp khẩu vị, – bác có nhớ những bức thư mà hồi cháu ở Leningrad trao đổi với bác không?
- Nhớ chứ.
- Bác có viết cho cháu một bức thư rất thú vị nói về người hoa tiêu ấy, – tôi nói tiếp, – và trước hết cháu muốn biết quyển vở ghi ấy có còn giữ được hay không?
- Còn giữ được.
- Hay lắm. Thế bây giờ bác nghe cháu nói nhé. Đây là một câu chuyện khá dài, nhưng cháu vẫn xin kể bác nghe. Mọi người đều biết, chẳng phải ai khác mà chính bác đã dạy cháu nói được. Cháu phải đền ơn bác.
Và tôi đã kể lại cho ông nghe tất cả, – bắt đầu từ những bức thư lạ mà hồi xưa dì Dasha đã đọc cho tôi nghe, về Katya tôi chỉ nói có vài lời, kiểu một bản tin. Nhưng không hiểu sao đến chỗ này bác sĩ lại cười và làm ra vẻ như chẳng chú ý gì cả.
- … Đó là một người bị mệt mỏi kiệt sức, – ông nói về người hoa tiêu. – Thực ra ông ta chết không phải vì bệnh hoại huyết mà là vì quá ư mệt mỏi. Ông ta đã phải dùng rất nhiều sức lực để trốn tránh thần chết, vì thế mà không còn sức để sống nữa. Ông ta đã để lại một ấn tượng như vậy.
- Bác có nói chuyện với ông ấy?
- Có.
- Về vấn đề gì ạ?
- Theo tôi, về một thành phố miền nam nào đó, – bác sĩ nói, – nếu không nói về Sukhumi thì nói về Baku. Đó là tư tưởng chủ đạo quán xuyến ông ta suốt cả thời gian ấy. Lúc đó mọi người đều đang bàn tán về chiến tranh, bởi vì chiến tranh vừa mới bắt đầu. Nhưng ông ta lại nói về Sukhumi – ở đó đẹp ra sao, ấm áp thế nào. Chắc hẳn ông ta là người vùng ấy.
- Thưa bác Ivan Ivanych, thế những quyển nhật ký ấy bác có để ở đây chứ? Ở ngay ngôi nhà này?
- Ở đây.
- Bác cho cháu xem.
Tôi luôn luôn nghĩ về những cuốn nhật ký này, cuối cùng hình thành trong tôi một cảm giác cho rằng đó là những quyển sổ dày, bìa cứng bọc vải đen. Bác sĩ đi ra, sau mấy phút ông quay lại đem ra hai quyển vở mỏng tang, trông giống như quyển từ điển ngoại ngữ của học sinh. Tôi tiện tay giở luôn một quyển ra xem, tự nhiên thấy vô cùng xúc động.
“Gửi Hoa tiêu Iv. Dm. Klimov.
Căn cứ theo ý nguyện của ông cùng các bạn sau đây, tôi đề nghị ông cùng với họ rời khỏi tàu để đi tìm đất liền có người ở…”
- Bác sĩ ạ, bút tích của ông ấy rất rõ ràng đây thôi! Cháu đọc chả thấy gì là khó cả.
- Không, những nét bút rất rõ ràng ấy là của tôi, – bác sĩ bác lại. – Cái đoạn anh đang đọc ấy tôi đã mò ra được rồi. Những chỗ nào tôi đã đọc được tôi đều viết lại và có cài tờ giấy vào đó… Nhưng còn những chỗ khác thì anh tự xem lấy!
Thế là ông giở ngay trang đầu của quyển vở ra.
Tôi cũng đã từng đọc những chữ rất khó đọc. Ví dụ như chữ của Valya Zhukov. Chữ nó viết đến nỗi các giáo viên cũng phải suy nghĩ mãi và cho rằng cậu này cố tình trêu ngươi như vậy. Nhưng còn chữ viết như thế này thì tôi mới trông thấy lần đầu. Đây chỉ là những cái lưỡi câu vẽ loằng ngoằng loạn xạ trên trang giấy.
Ngay mấy trang đầu đã bị dầu mỡ thấm ướt, phải cố gắng lắm mới nhìn rõ nét bút chì trên tờ giấy màu vàng trong suốt. Tiếp theo là cái gì như mớ bòng bong và những chữ tẩy xóa, dưới nữa là hình phác thảo một bản đồ, rồi lại đến một đám bát nháo mà không một nhà đoán chữ nào có thể mò được ra.
- Thôi được. – Tôi nói và gấp quyển vở lại. – Cháu sẽ đọc được quyển này.
Bác sĩ nhìn tôi hài lòng và nhiệt tình nói:
- Chúc anh thành công.
Tôi ngủ lại ở nhà bác sĩ, bởi vì trời đã tối ngay từ khi tôi ngồi nói chuyện trong nhà và bên ngoài đã bắt đầu có bão tuyết. Ở Zapolyarye, khi đã có bão tuyết thì không nên đi ra khỏi nhà. Bà Anna Stepanovna bố trí cho tôi ngủ trong buồng Volodya trên chiếc giường xếp có trải đệm. Trước khi ngủ tôi cứ ngắm mãi cậu Volodya. Cậu nằm nghiêng, hai tay chắp lại đặt dưới má. Trong giấc ngủ ngon lành, cậu bé quả là một bác sĩ tí hon thực sự, chỉ có điều là không có râu. Tôi ngồi xuống chiếc giường xếp, định cởi giày thì chiếc giường kêu răng rắc. Cậu bé mở đôi mắt xanh to tướng ra chớp chớp rồi lẩm bẩm câu gì đó nhưng không tỉnh dậy.