Tuổi thiếu niên không kết thúc trong một ngày – và ngày đó cũng chẳng đánh dấu ở trên tờ lịch: “Hôm nay tuổi thiếu niên của tôi kết thúc”. Nó lặng lẽ trôi qua, thậm chí bạn còn không kịp từ biệt nó nữa. Vừa mới ngày nào bạn còn rất trẻ, rất xinh đẹp, thế mà kia – trên một chuyến xe điện có một đội viên thiếu niên tiền phong đã gọi bạn là “chú”, bạn vội vàng quay nhìn vào tấm kính cửa sổ lờ mờ trên xe điện và không khỏi ngạc nhiên nghĩ: “Ừ, là chú rồi”. Tuổi thiếu niên đã kết thúc, nhưng khi nào, ngày nào giờ nào? Không biết.
Tuổi trẻ của tôi kết thúc như thế. Nhưng có một ngày thế này, từ ngày hôm đó trở đi tôi hiểu rằng mình đã có một lối nhìn khác hẳn để nhìn những khát vọng của mình trước đây. Cái ngày hôm đó tôi nhớ rõ lắm…
Tôi được cử từ Leningrad đến Balashov. Vừa tốt nghiệp Trường Hàng không này tôi được cử đi học ngay ở một Trường Hàng không khác. Lần này tôi được học với một huấn luyện viên cừ và một chiếc máy bay ra trò.
Tôi không nhớ rõ trong đời tôi có thời kỳ nào tôi đã làm việc cần mẫn như thế không.
- Anh có biết anh đã bay như thế nào không? – Hồi còn ở Leningrad thầy hiệu trưởng nói với tôi như vậy. – Như cái hòm gỗ ấy. Mà ở miền Bắc thì cần phải có kỹ thuật lái hạng nhất.
Khi màn đêm vừa buông xuống tuyến đường bay tôi cũng bắt đầu học bay đêm. Lúc tôi bắt đầu lấy chiều cao, tôi cảm thấy hình như mình đang lò dò đi trong hành lang tối. Phía dưới, trên sân bay, tín hiệu hạ cánh hình chữ T sáng rực lên. Những bóng đèn đỏ vạch thành hai đường thẳng tắp, ngăn cách với cánh đồng đen ngòm. Trên những đoạn bẻ ghi đường sắt có tín hiệu lấp lánh. Ban đêm những đoạn đường tránh này sao ngay ngắn lạ kỳ, khác hẳn với ban ngày. Bầu trời đen kịt, không nhìn thấy mặt đất. Xa xa bỗng hiện lên ánh lửa, sau vài phút nữa, thì ra đây không phải là ánh lửa mà là một thành phố – có hàng ngàn ngọn đèn, đủ các màu sắc, đủ các hình dáng… Thật là một bức tranh kỳ lạ!
Tôi đã học được cách lái máy bay mò. Khi tất cả xung quanh bị sương mù trắng xóa bao phủ, bạn sẽ cảm thấy hình như bạn đã bay hàng triệu năm sang một thời kỳ địa chất khác. Hình như bạn không ngồi trên máy bay mà là lao đi vun vút trên một chiếc xe thời gian!
Tôi hiểu rằng người phi công cần phải biết đặc tính của không khí, mọi xu hướng và tính đồng bóng của nó cũng như người thủy thủ ưu tú hiểu biết thuộc tính của nước vậy…
Trước đây, vùng Bắc cực hình như còn là nơi xa vời, hình như đó chỉ là những núi băng chẳng ai cần đến. Nhưng mấy năm lại đây nó trở nên gần gũi với chúng ta và những chuyến bay vĩ đại đầu tiên đã được cả nước chú ý.
Mỗi người chúng tôi đều có lý tưởng riêng của người phi công. Chúng tôi cãi nhau không cùng, chứng minh rằng đồng chí A. bay giỏi hơn đồng chí L., nhưng đồng chí Ch. lại bay giỏi hơn cả hai đồng chí trên. Ben Eyelson, một đại tá quân đội Mỹ bị chết vì cánh tay trái anh ta đè dập tim. Thi hài anh ta được phủ quốc kỳ và được phi công S. chở bằng máy bay đưa về Mỹ. Không hiểu tại sao chuyến máy bay đó đã gây cho chúng tôi rất nhiều ảo tưởng. Không, thời kỳ đó vẫn còn là thời kỳ niên thiếu!
Ngày nào báo chí cũng đăng những bài viết về các đội thám hiểm Bắc cực – bằng đường biển và bằng đường hàng không. Tôi đọc những bài báo ấy mà thấy xúc động. Toàn bộ trái tim tôi đều đã bay lên miền Bắc.
Thế rồi một hôm, tôi phải bay một chuyến bay sát hạch rất khó khăn. Tôi đã ngồi vào máy bay rồi, nhưng nhìn thấy tờ báo ở trong tay huấn luyện viên. Tôi nhìn thấy một mẩu tin ở trên báo, thế là tôi không kìm được, liền bỏ mũ bay, bỏ kính chắn gió ra nhảy từ trên máy bay xuống.
“Nhiệt liệt chào mừng những người tham dự đội thám hiểm đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ xuyên qua Bắc Băng Dương” – đó là hàng chữ lớn in ở giữa trang nhất.
Tôi buộc lòng phải tuân theo lời huấn luyện viên đang nói với tôi với vẻ kinh ngạc, nhưng vẫn cố nhìn theo trang báo một lần nữa, tôi muốn sao nhìn một cái là đọc được hết cả bài báo. “Tuyến đường phía Bắc vĩ đại đã được mở”, đó là tên một bài báo. “Những người Sibir trên eo biển Bering” – là đầu đề một bài báo khác! “Xin kính chào những người chiến thắng” – tên bài báo thứ ba. Toàn là những tin về chuyến đi lịch sử của “những người Sibir”. Lần đầu tiên trong lịch sử hàng hải có một chiếc tàu buồm đi theo đường biển lên được Bắc cực. Tuyến đường biển này cũng là tuyến đường mà thuyền trưởng Tatarinov dự định dùng chiếc tàu buồm “St. Maria” để vượt qua.
- Anh làm sao thế? Anh ốm à?
- Không, thưa đồng chí huấn luyện viên!
- Độ cao một nghìn hai trăm mét. Lượn theo độ dốc lớn, hai vòng sang phải, hai vòng sang trái. Bốn lần lộn ngược.
- Rõ, thưa đồng chí huấn luyện viên!
Lúc đó tôi rất xúc động, đến nỗi tí nữa thì xin hoãn chuyến bay…
Suốt ngày hôm đó tôi toàn nghĩ đến Katya, đến bà Maria Vasilievna đã quá cố, đến thuyền trưởng, cuộc đời của ông đã gắn bó với tôi một cách kỳ lạ. Nhưng giờ đây tôi nghĩ về họ không giống như trước kia, giờ đây tôi đã bình tĩnh trước mọi sự việc xảy ra. Tất nhiên là tôi không quên một điều gì. Tôi không quên buổi nói chuyện cuối cùng với bà Maria Vasilievna, trong đó mỗi lời nói chứa đựng một điều bí ẩn, chứa đựng lời vĩnh biệt tuổi trẻ và cuộc đời. Tôi không quên một hôm khác tôi và bà cụ ngồi ở phòng cấp cứu như thế nào, cánh cửa mở ra, tôi nhìn thấy cái gì trăng trắng có cái đầu đen và cánh tay trần buông thõng ra ngoài ghế đi-văng. Tôi cũng không quên việc Katya quay đi không thèm nhìn tôi hôm đưa đám, và không quên những mơ ước của mình về cuộc gặp gỡ sau mấy năm để đưa cho cô xem những bằng chứng về sự đúng đắn của mình. Tôi không quên việc Nikolai Antonych đã nhổ vào mặt tôi như thế nào.
Bỗng tôi cảm thấy tất cả những cái đó như một vở kịch, trong đó vai chính lại xuất hiện vào hồi cuối, cho đến bây giờ, người ta chỉ toàn nói về ông ta. Mọi người đều đang nói về một người, ảnh của người đó đang treo trên tường – tấm ảnh một nhà hàng hải có trán rộng, cái cằm quắt, đôi mắt sâu hoắm.
Đúng, ông ấy quả là nhân vật chính của câu chuyện này. Nếu tuổi thơ của tôi có chiếm mất nhiều chỗ trong câu chuyện này thì đó chỉ là những ý nghĩ thú vị nhất nảy sinh ra trong đầu óc của con người khi anh ta mười tám tuổi. Ông – một nhà thám hiểm vĩ đại nhưng đã bị mai một. Lịch sử của ông vượt rất xa ra ngoài phạm vi những quan hệ cá nhân hoặc những quan hệ gia đình. Lịch sử của ông là mở ra tuyến đường biển vĩ đại lên miền Bắc. Ý nghĩ của ông là mở một con đường xuyên qua Bắc Băng Dương. Ông thuộc loại người đã giải quyết nhiệm vụ đặt ra cho loài người đã bốn trăm năm nay. Ông hoàn toàn có quyền đứng ngang hàng với họ.
Những ước mơ, những hy vọng, những mong muốn của tôi làm sao có thể so sánh được với điều đó. Tôi mong muốn gì? Tại sao tôi lại làm phi công? Tại sao tôi lại tranh thủ lên miền Bắc?
Đúng như trong vở kịch tưởng tượng của tôi, bỗng tất cả đều được xếp đặt đâu vào đấy và những ý nghĩ rất đơn giản về tương lai, về sự nghiệp của tôi hiện lên trong óc. Nhiều điều tôi hiểu biết được về cuộc sống gian khổ của người phi công Bắc cực bỗng chuyển sang hướng khác và tôi tưởng tượng đủ các loại tình huống: đêm bên ngoài vòng Bắc cực khá dài triền miên hàng nửa năm trời; mấy tuần lễ liền mệt mỏi chờ đợi thời tiết; bay cả trên những dãy núi tuyết trắng xóa trong khi đôi mắt miễn cưỡng tìm chỗ hạ cánh; bay trong bão tuyết, nhìn không rõ ngay cả cánh máy bay của mình; quay máy phát động một cách khổ sở trong thời tiết năm mươi độ dưới không. Tôi nhớ lại cái công thức của một phi công Bắc cực: “Thế nào gọi là bay lên miền Bắc? – Đó là bão tuyết hoành hành và hâm nước nóng lên”. Tôi nhớ lại những câu chuyện kinh khủng về bão tuyết Bắc cực, chỉ cần đi ra khỏi nhà độ hai thước đã có thể bị bão tuyết vùi mất xác.
Nhưng chẳng lẽ “người Sibir” lại sợ những khó khăn và nguy hiểm này? Không, thuyền phá băng của họ tuy đã bị mất bánh lái nhưng họ vẫn căng buồm đi đến được biển Bering.
Không, Petya đã nói đúng. Phải chọn cái nghề gì mà anh có thể phát huy được toàn bộ sức mạnh tâm hồn của anh. Tôi tranh thủ lên miền Bắc, hy vọng làm một phi công Bắc cực, bởi vì nghề này đòi hỏi ở tôi tinh thần nhẫn nại rất cao, lòng quả cảm và tình yêu đối với Tổ quốc, đối với sự nghiệp của mình rất lớn.
Nào ai biết, rất có thể, một ngày nào đó tôi cũng được người ta liệt vào trong số những người ngang hàng với thuyền trưởng Tatarinov cũng nên.
Tôi ghi nhớ kỹ trong lòng cái ngày nảy sinh ra ý nghĩ này, đó là ngày mồng ba tháng Mười năm 1932.
Trước khi tốt nghiệp Trường Hàng không Balashov một tháng, tôi làm đơn xin cử tôi lên miền Bắc. Nhưng nhà trường không cho tôi đi. Tôi ở lại làm huấn luyện viên ở trường Balashov đúng một năm. Tôi không dám nói mình là một huấn luyện viên giỏi. Tất nhiên tôi có thể dạy người ta bay, đồng thời, tôi không hề có ý muốn cứ động một tí là mắng người ta. Tôi rất hiểu những học viên của mình. Ví dụ tôi hiểu rất rõ tại sao học viên này ra khỏi máy bay là vội vàng hút thuốc, còn học viên khác khi hạ cánh lại tỏ ra rất phấn khởi. Nhưng tôi sinh ra không phải để làm huấn luyện viên, tôi rất buồn vì phải giảng giải cho người khác hàng trăm nghìn lần những điều mà tôi đã biết từ lâu.
Tháng Tám năm 1933, tôi được nghỉ phép và liền đi Moskva. Tôi được giấy đi tàu không mất tiền đến Ensk qua Leningrad. Tại Leningrad và tại Ensk đều có người chờ tôi. Nhưng tôi vẫn quyết định đi Moskva, mặc dù ở đó chẳng có ai chờ đợi gì tôi cả…
Tôi có việc ở Moskva. Thứ nhất, tôi phải đến Tổng cục đường Hàng không Bắc cực để trao đổi về việc điều tôi lên công tác ở miền Bắc. Thứ hai, tôi muốn gặp Valya Zhukov và thầy Korablyov. Nói chung là tôi có khối việc, tôi có thể tìm ngay cho mình được đủ lý do, tôi cần phải đi Moskva một chuyến…
Tất nhiên tôi hoàn toàn không có ý định gọi dây nói cho Katya, nhất là trong ba năm qua, tôi chỉ nhận được lời hỏi thăm của cô qua Sanya có một lần – mọi cái đều đã xong xuôi và quên đi từ lâu rồi. Mọi việc đã kết thúc và quên đi một thời gian dài như thế, đến nỗi khi tôi quyết định lại gọi dây nói cho cô, tôi đã chuẩn bị sẵn câu nói đầu tiên rất lịch sự mà vô vị. Nhưng không hiểu sao tay tôi cứ run run khi nhấc ống nghe máy điện thoại lên, và thật là không ngờ, tôi đã gọi nhầm phải số khác – gọi cho thầy Korablyov.
Tôi không gặp được ông, ông đang đi nghỉ phép. Giọng một người đàn bà lạ báo cho tôi rằng khi nào bắt đầu năm học ông mới về.
- Học sinh của thầy gửi thầy lời chào nhiệt liệt, – tôi nói. – Xin nhắc thầy là phi công Grigoriev đã gọi dây nói cho thầy.
Tôi đặt ống nghe xuống. Tôi đang ở trong khách sạn, cho nên phải xin tổng đài cho dây nói thành phố trước rồi mới quay số điện mình cần gọi. Tôi nhìn cái máy điện thoại buồn thiu và thôi không gọi nữa. Tôi cứ nghĩ hoài. Mình sẽ nói gì với cô ấy? Mình không thể nói chuyện với cô ấy như nói với người xa lạ được.
Tôi quyết định gọi dây nói đến Vườn bách thú cho Valya trước.
Nhưng Valya cũng không có ở Moskva. Người ta báo cho tôi một cách lịch sự rằng trợ lý Zhukov hiện nay đang ở miền Cực bắc, có lẽ phải sau nửa năm nữa mới trở về Moskva.
- Xin hỏi anh là ai đấy ạ?
- Đề nghị chuyển lời chào anh ấy, – tôi nói. – Tôi là phi công Grigoriev.
Ngoài ra tôi không còn ai ở Moskva để mà gọi dây nói nữa. Họa chăng có thể gọi cho ông thư ký nào đó của Cục Hàng không dân dụng nữa thôi. Nhưng lúc này tôi chẳng còn tâm tư nào mà đi tìm ông thư ký. Tôi nhấc ống nghe và nói:
- Cho tôi xin thành phố.
Thành phố trả lời, tôi quay số.
Cụ Nina Kapitonovna chạy đến máy nói, tôi nhận được ra ngay giọng nói hòa nhã, quyết đoán của cụ.
- Có thể cho nói chuyện với Katya được không ạ?
- Katya? – Cụ Nina Kapitonovna ngạc nhiên hỏi lại. – Nó không có nhà.
- Không có nhà?
- Không có ở nhà và không có ở trong thành phố. Thế ai hỏi nó đấy?
- Grigoriev, – tôi nói. – Bà có thể cho cháu biết địa chỉ của cô ấy được không?
Cụ Nina Kapitonovna im lặng. Rõ ràng bà cụ không nhận ra tôi. Thiếu gì Grigoriev ở trên đời này!
- Cháu nó đi thực tập. Địa chỉ: Thành phố Troitsk, Đội thăm dò địa chất của trường Đại học tổng hợp Moskva.
Tôi cám ơn rồi bỏ ống nghe xuống.
Tôi không thể ở một mình trong căn phòng buồn thiu này được nữa. Nhưng chờ đến hai giờ để gặp đồng chí thư ký Tổng cục đường Hàng không Bắc cực thì còn lâu quá. Tôi đi ra và đi lang thang trên đường phố Moskva.
Không bao giờ nên thơ thẩn một mình vào những nơi bạn đã đi qua cùng với người yêu. Cái vườn bình thường ở trung tâm Moskva hình như trở nên nơi buồn tẻ nhất thế giới. Một đường phố không lấy gì làm ồn ào cho lắm mà lại khá bẩn thỉu chẳng hiếm gì ở Moskva cũng có thể làm cho bạn buồn bã đến nỗi bạn bất giác cảm thấy mình già đi và thông minh hơn nhiều.
Hình như sau vài năm tôi đã thản nhiên nhìn lại thế giới nội tâm của mình và đánh giá lại tất cả sự nóng vội không cần thiết trong những việc liên quan đến cái vật thân yêu nhất trên trái đất là con tim – và trên một số vấn đề khác thì lại thiếu tự tin, ở đây có thể là vì hồi nhỏ tôi là một đứa trẻ câm, mà thế giới đối với tôi thì lại phức tạp quá không giải thích nổi. Giờ đây tôi cảm thấy hình như tôi vẫn còn tàn tích của tật câm này. Ví dụ như trong vấn đề tình yêu tôi không dám mạnh dạn bộc lộ hết tình cảm của mình, thậm chí đến những câu quan trọng nhất cũng không nói. Tôi cảm thấy tình yêu của tôi sở dĩ không thành công là bởi vì có rất nhiều hoàn cảnh oái oăm bao quanh nó về mọi mặt. Lần này tôi cũng lại ngớ người ra như thằng bé câm trước cái thế giới phức tạp thuở trước.
Không, tất cả đã thay đổi trong tâm hồn tôi, tôi cảm thấy điều đó! Tôi không còn là một đứa trẻ sôi nổi, sốt ruột muốn lập tức chứng minh ngay là mình đúng nữa. Giờ đây tôi hiểu rằng mình cần phải có tất cả – tính trầm tĩnh và lòng kiên nghị.
Với tâm trạng buồn thương và luyến tiếc đối với chính mình, tôi nghĩ đến những năm tháng của tuổi trẻ và mối tình học sinh của tôi. Tuổi niên thiếu đã kết thúc rồi và mối tình cũng không còn là mối tình xưa nữa. Nhưng vẫn như trước kia, tất cả vẫn còn đang ở phía trước. Tôi nhìn về phía trước với niềm hy vọng lớn hơn trước đây.
Tôi ở lại Moskva không lâu. Tổng cục hàng không Bắc cực và Tổng cục hàng không Dân dụng tiếp tôi rất niềm nở. Nhưng họ nói với tôi rằng, chừng nào Trường Hàng không Balashov chưa nhả ra thì đừng hòng nghĩ đến chuyện công tác ở miền Bắc.
Mãi nửa năm sau tôi mới được ủy nhiệm lên công tác ở miền Bắc và đó cũng là một trường hợp rất không ngờ. Ở Leningrad tôi có quen một phi công Bắc cực đã già, ông ta rất muốn trở về nội địa công tác, bởi vì tuổi tác của ông không thích hợp với những chuyến bay gian khổ miền Bắc nữa. Chúng tôi thay thế nhau. Ông về chỗ tôi làm việc, còn tôi được chỉ định làm phi công số Hai trên một tuyến đường dài miền Bắc.