Như tôi đã kể, tối nào bà tôi cũng đến thăm tôi. Lần nào đến bà cũng giữ một vẻ quan trọng đặc biệt và lần nào bà cũng hãnh diện bắt chuyện rất chặt với bà mẹ của Kira. Bà rất bình tĩnh về chuyện tôi đã rời bỏ “căn phòng đẹp nhất” của mình để đến ở “nhà người khác”. Và bà còn tỏ ý lo sợ một bà tên là Dora Abramovna, vì đã hai lần, bà ấy “mò đến đánh hơi căn phòng của tôi”.
- Bà tuổi cao sức yếu rồi, – có một lần bà nói với tôi, nước mắt lưng tròng, – nhưng chưa bao giờ bà phải sống cảnh cô đơn buồn vắng như thế này cả.
Nhưng bỗng có một hôm bà không đến chỗ tôi. Sáng hôm sau bà gọi điện thoại báo cho tôi biết tim bà làm sao ấy. Khi nghe tôi hỏi Nikolai Antonovich có nhà không thì bà nổi cáu ầm lên:
- Sao mày hỏi ngu thế? – Bà hét tướng lên. – Nó còn đi đâu nữa mà không có nhà? Có phải ai cũng như mày, chỉ toàn đi ăn nhờ ở vạ nhà người ta đâu.
Một chặp sau dịu lại, bà bảo rằng Nikolai Antonovich đã đi vắng rồi. Thế là tôi phải vội vã thu xếp các thứ để về thăm bà ngay.
Bà nằm thượt trên ghế đi-văng, mình đắp chiếc áo khoác màu xanh đã cũ của bà. Một lọ thuốc nước đặt trên chiếc bàn con cạnh đi-văng. Đó là thứ thuốc duy nhất mà bà chịu dùng và khi tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe của bà thì bà chỉ khoát tay.
- Cô ấy là người hễ gặp chuyện rắc rối là co rụt lại ngay, – bà nói về người giúp việc cũ, giọng bực tức. – Bây giờ mới biết trước kia cô ta đã từng đi tu. Cô ta là một người rất ngoan đạo. Tao bèn hỏi cô ta “Thế sao cô còn đi làm việc làm gì?” và rồi tao cho cô ta thôi việc ngay.
Bà đuổi chị giúp việc thật là một việc làm rất không hay. Vì dẫu chị là một người ngoan đạo, chị vẫn là một người rất tốt. Và trước đây thậm chí bà còn rất thích chị ấy chỉ vì chị ấy đã từng sống cuộc đời đi tu.
- Bà ơi, sao bà lại làm như vậy? – Tôi hỏi. – Thế là cuối cùng bà ốm và chỉ có mỗi một mình! Cháu phải đưa bà sang ở bên cháu thôi.
- Tao không đi đâu cả! Thật là càng ngày càng chẳng ra làm sao cả!
Bà dứt khoát không chịu lên giường nằm lại và tự khẳng định rằng bà không mắc bệnh tim, chỉ vì chiều hôm qua không nấu thức ăn, chỉ ăn tạm một ít cải củ với thịt mỡ nên bị say đó thôi.
- Nếu bà không đi nằm, cháu sẽ đi ngay bây giờ!
- Ồ, mày lại dọa tao rồi!
Nhưng rồi bà cũng chịu nằm lên giường và chỉ một lát đã ngủ say…
Trong căn phòng của mẹ không biết tại sao hễ mở cửa sổ ra là gió lại lộng lên. Để cho mát tôi mở cả cánh cửa thông ra hành lang. Xong đâu đấy, tôi bước vào căn phòng riêng của mình. Tuy tôi có cảm giác rất khó chịu khi bước vào căn phòng trống trải này, song dẫu sao nó vẫn là nơi mà tôi đã sống qua bao nhiêu năm trời! Sau ngày tôi ra đi, căn phòng trở nên đẹp đẽ dễ trông hơn nhiều. Trên nệm giường được trải một tấm khăn ren cũ của bà, rèm che cửa sổ được giặt trắng tinh, thậm chí còn được hồ bột nữa. Trên trang quyển từ điển đại bách khoa toàn thư tôi đang đọc dở trước ngày ra đi giờ vẫn nguyên chỗ cũ. Rõ ràng là mọi thứ ở đây đang chờ tôi trở về…
Tôi tìm thấy một quyển nhật ký trong đống sách vở cũ xếp trên khung cửa sổ. Trong đó có chép một số câu trong những quyển sách tôi hằng yêu thích: “Trái tim con người vốn là một thứ kỳ lạ, trái tim người đàn bà càng kỳ lạ hơn. Lermontov”.
Toàn là những câu bay bướm mà buồn cười. Tôi đọc được từ đầu đến cuối một lượt. Tôi mơ màng như đang trong giấc mộng thấy mình đến chơi nhà cô bạn thân. Cô ta hình dung mọi việc trên đời đều vô cùng tốt đẹp, cả thế giới hiện ra dưới mắt cô với cảnh tượng hết sức huy hoàng tráng lệ.
“Cuộc đời là sân khấu, mà mỗi con người là một diễn viên”.
Khi tôi cầm quyển nhật ký từ trong phòng bước ra, tôi có cảm giác như có người nào đó đang vội vã đi lướt qua hành lang.
Tất nhiên ngay lúc ấy tôi không hề nghĩ rằng người đó chính là người bà đang ốm của tôi. Song rõ ràng là có người vừa đi lướt qua ngoài hành lang và người ấy choàng chiếc áo khoác màu xanh. Nhưng ai chạy, lại khoác chính cái áo khoác màu xanh. Sau đó tôi biết đích xác rằng chính là bà tôi vì khi tôi quay trở lại phòng, tuy bà đã lại nằm lên giường như cũ, nhưng là cái dáng vừa mới nằm xuống, thậm chí còn chưa kịp kéo áo đắp kín người.
Thật là buồn cười, bà còn cố nhắm nghiền hai mắt làm ra bộ đương ngủ say và không hề nghĩ đến chuyện chạy ra hành lang. Tất nhiên đó là bà bí mật thăm dò tôi, xem tôi có thay đổi ý định, có chịu dọn về ở nhà không?
- Bác sĩ đã đến chưa hở bà? – Chờ khi bà mở mắt ra và giả vờ ngáp dài, tôi liền hỏi.
- Bác sĩ không hề đến. Bà nào có đi mời bác sĩ. Bà biết chắc rằng căn bệnh của bà là do củ cải gây nên.
- Nhưng bà gọi điện thoại bảo cháu là tim bà bị làm sao cơ mà.
- Tim làm sao cũng là do củ cải gây nên thôi.
- Không thể như thế được! Cháu đi mời bác sĩ ngay đây.
Thế là bà nổi cáu ngay lên. Bà tuyên bố rằng nếu tôi cứ mời bác sĩ đến thì bà sẽ lập tức thay quần áo và đến nhà chị láng giềng tên là Maria Nikitichna.
Nếu muốn mời bác sĩ thì chắc chắn là sẽ phải cãi nhau với bà một trận ra trò, nên tôi thôi không giữ ý định của mình nữa; hơn nữa bà cũng có vẻ mỗi lúc một tỉnh táo hơn. Cuối cùng bà đã cảm thấy dễ chịu hoàn toàn, vì lúc ấy bà đột nhiên ngửi thấy mùi lạ, liền hét lên: “Bị cháy rồi!” Bà vùng dậy, ba chân bốn cẳng chạy bổ xuống bếp.
Những chiếc bánh nướng nhân thịt đặt trong lò hơi bị cháy khét, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt. Bà nói ngay rằng nếu tôi không ở lại ăn bánh thì bệnh của bà sẽ càng nặng lên.
Tất cả các mưu kế này là do bà bày ra, đặc biệt là việc bà làm món bánh nướng nhân thịt mà tôi hằng ưa thích, bà không hề tiếc mỡ để làm món đó. Món bánh nướng ấy cần được khẳng định rằng, món ăn ở nhà mình hơn hẳn món ăn ở nhà “người khác”. Nhưng sau khi ăn mấy miếng, tôi ôm hôn bà và chỉ nói một câu là bánh rất ngon thôi.
Về việc Nikolai Antonovich, thoạt đầu không ai nhắc đến. Nhưng về sau bà làm ra vẻ đắn đo suy nghĩ khiến tôi đoán ngay rằng câu chuyện sắp sửa mở đầu. Bà bắt đầu bằng những lời rất xa xôi, bóng gió.
- Tao vừa nhận được thư của Olechka và Lara, – bà nghiêm giọng nói. – Họ khuyên tao chớ cố quản việc nhà. Mà thực, dạo này tao hay mệt lắm, không thể quản nổi nữa.
Olechka và Lara là hai bà dì đã có tuổi của tôi. Đó chính là hai bà già họ Bubenchikov đang sống ở Ensk.
- Nhưng không quản việc nhà làm sao được, cả hai người đều chẳng hiểu tao chút nào cả. Con bé giúp việc ấy nó sống theo sự xếp đặt tỉ mỉ của cha cố, – giọng bà có vẻ hào hứng. – Nó chỉ nhìn thấy có Chúa, ngoài ra chẳng nhìn thấy ai nữa. Cha cố viết thư cho nó nói: “Hãy im lặng, chịu đựng và khóc lóc!” và nó đã làm đúng như thế. Nó đóng mấy cây đinh vào trong tủ áo, treo ảnh thánh lên và rì rầm khấn: “Con xin nghe lời Chúa!” Tao là chúa ghét hạng người như thế.
- Bà đã đuổi người ta đi rồi còn nói gì nữa.
Bà ngồi lặng im một lúc lâu.
- Nhà tao bây giờ khảng tảng quá lắm, – bà thở dài nói. – Mày bỏ nhà đi ở chỗ khác. Còn thằng ấy thì thế nào? Nó bây giờ cũng trở thành thằng bây bửa, chẳng thiết gì. Ăn uống thì bữa có bữa không, có ăn cũng được, không cũng chẳng sao.
Hai chữ “thằng ấy” mà bà vừa nói đến là chỉ Nikolai Antonovich.
- Lúc nào nó cũng viết, viết không biết chán. – bà tiếp tục nói.
- Không hiểu làm sao nó viết suốt ngày suốt đêm. Sáng ngủ dậy vừa uống xong cốc nước chè là quấn ngay cái khăn quàng của tao rồi bám vào bàn viết luôn. Có lần nó nói: “Bà Nina Kapitonovna ạ, viết lách sẽ là nghề lao động suốt đời của tôi. Quyết định này sai hay đúng hãy để cho bạn bè và kẻ thù của tôi phán đoán”. Bây giờ nó gầy đi nhiều rồi, tâm thần có vẻ không ổn định, – bà nói lầm bầm, – mấy hôm gần đây cứ đội mũ trong khi ăn. Chắc thế nào nó cũng lên cơn điên mất.
Giữa lúc ấy chợt có tiếng mở cửa, một bóng người bước vào và dừng lại ở phòng treo áo. Tôi quay nhìn bà, bà giật mình nhìn đi nơi khác. Thế là tôi biết ngay Nikolai Antonovich đã về.
- Bà ạ, cháu đi đây.
- Không, chưa đi được đâu. Cháu đã ăn hết bánh nướng đâu nào.
Nikolai Antonovich gõ nhẹ lên cửa buồng và không đợi trả lời đã đẩy nhẹ cửa, bước vào.
Tôi quay lại, khẽ gật đầu chào. Không biết tại sao lúc ấy tôi cảm thấy rất vui lòng là mình đã có thể gật đầu chào một cách mạnh dạn và phớt lờ như thế.
- Công tác ra sao, Katyusha?
- Cám ơn, cũng bình thường.
Kể cũng lạ, ông ta bây giờ đối với tôi chỉ còn là một con người xa lạ với sắc mặt trắng bệch, hai cánh tay ngắn cũn cỡn, những ngón tay mũm mĩm lúc nào cũng động đậy, lúc thì sờ lên cổ áo, lúc lại sờ lên túi áo gi-lê, cứ như muốn giấu đi vậy. Ông ta có vẻ giống như một diễn viên gầy yếu. Sự quen biết giữa tôi và ông giờ đây xa xôi như chuyện xảy ra hàng trăm năm về trước. Giờ đây cho dù sắc mặt ông ta có nhợt nhạt như thế nào, cổ ông ta có gầy khẳng đến đâu, và tay ông ta có run rẩy mấy đi nữa khi đưa ra để xê dịch chiếc ghế tựa, tôi vẫn không mảy may cảm thấy động lòng.
Những phút ngỡ ngàng ban đầu đã đi qua. Ông ta hỏi đùa tôi về việc vẽ bản đồ, có còn vẽ nhầm dãy núi Zilmerdagskaya với Ashinskaya nữa không. Hồi còn học ở trường đại học Tổng hợp đã có lần tôi vẽ nhầm như thế. Sau đó tôi liền đứng dậy ra về.
- Thôi, cháu về bà ạ.
- Tôi có thể ra khỏi đây, – Nikolai Antonovich nói khẽ.
Ông ta ngồi trong chiếc ghế bành, người co rúm lại, mắt chăm chú nhìn tôi vẻ chân thành. Từ sau ngày mẹ tôi chết, những khi ngồi nói chuyện lâu với nhau, ông ta đều ngồi theo cái dáng ấy. Song đối với tôi giờ đây những hình ảnh ấy cũng đã trở thành xa xôi.
- Nếu cháu vội đi thì lần sau bà sẽ nói chuyện vậy.
- Bà ạ, nói thực là có người đang chờ cháu, – tôi nói vội khi bà đưa tay níu lấy tay áo tôi.
- Không, chẳng có ai chờ cháu cả. Sao lại có thể như thế được? Dầu sao Antonovich cũng là bác cháu kia mà.
- Thôi, bà Nina Kapitonovna ạ, – Nikolai Antonovich nói vẻ hiền từ. – Tôi là bác nó hay không thì cũng thế thôi. Katyusha, thế ra cô dứt khoát không muốn nghe tôi nói chuyện phải không?
- Không.
- Thật là mù quáng, – bà giận dữ nói.
Tôi bật cười.
- Tôi không thể nói chuyện được với cô về bất cứ chuyện gì. Tôi thật đau lòng khi cô ra đi, thậm chí cũng không buồn chào tôi lấy một tiếng, – Nikolai Antonovich nói giọng vội vã, tuy vẫn giữ được vẻ hiền từ. – Thật tôi chẳng có cách nào nói chuyện với cô. Cô và Sanya đã quá tin vào một lão già vừa từ trong nhà thương điên ra mà mụ mẫm hết cả.
Ông liếc nhìn tôi qua phía trên cặp kính. Một lão già vừa từ trong nhà thương điên ra! Lại bịa chuyện nữa rồi. Cũng có thể là ông nói đúng, nhưng những chuyện đó đối với tôi giờ đây chẳng có nghĩa gì. Chỉ có một ý nghĩ nhẹ nhàng nhói vào lòng tôi, đó là việc người ta lại nói động đến Sanya.
- Lạy Chúa, tôi thật chẳng còn nghĩ ngợi được gì nữa. Nếu bảo rằng tôi đã giở mọi thủ đoạn để làm cho chú ấy khuynh gia bại sản, bảo rằng tôi cố ý không trang bị tốt cho đội thám hiểm, thì cô thử nghĩ xem để vì cái gì cơ chứ, có phải là để giết hại Ivan chăng?
Nikolai Antonovich bật lên tiếng cười một cách chân thành.
- Vì ghen! Lạy Chúa! Tôi yêu mẹ cô, vì ghen nên tôi phải hại Ivan!
Ông ta lại cười rộ lên, nhưng rồi đột nhiên ông ta bỏ kính ra và lau nước mắt.
- Đúng, tôi đã từng yêu chị ấy, – ông nói qua tiếng khóc. – Có Chúa biết, lẽ ra mọi việc đều có thể khác hẳn. Nếu quả thật là tôi đã sai lầm thì ngoài chị ấy ra còn có ai trừng phạt tôi nữa? Tôi đã phải chịu một sự trừng phạt mà từ xưa đến nay không thể nào nghĩ tới nổi.
Tôi ngồi nghe ông ta nói như qua một cơn mộng. Tôi có cảm giác như cái cảnh này đã có một lần nào đó xảy ra trong đời tôi rồi. Cũng cái đỉnh đầu hói đó, cũng những lời trần tình ai oán như thế, và cũng cùng cái cảm giác khó chịu khi phải nghe tiếng khóc trầm trầm của một người đàn ông đã có tuổi.
- Thế nào? – Bà tôi giận dữ hỏi.
- Bánh ngon lắm, bà cho cháu một cái nữa đi, – tôi vui vẻ nói. – Ông Nikolai Antonovich, ông nói nữa đi.
- Katya, Katya!
- Mọi người đều biết đấy, – tôi nói và cảm thấy hình như mình đang phấn khởi vì giận dữ. – Tôi không còn là trẻ con nữa, năm nay tôi đã hai mươi bốn tuổi đầu. Tôi có thể làm mọi việc theo ý nguyện của mình. Tôi không muốn tiếp tục ở đây nữa, các người có biết không? Tôi sắp lấy chồng rồi. Rất có thể rồi tôi sẽ cùng chồng tôi ra ở ngoài Bắc cực, vì anh ấy là phi công Bắc cực, ở đây anh ấy chẳng có việc gì để làm. Còn về ông Nikolai Antonovich thì tôi đã trông thấy ông khóc nhiều lần rồi, và như thế cũng đã đủ lắm rồi. Tôi chỉ có thể nói rằng, nếu quả là ông không có sai trái gì thì chắc là ông cũng chẳng tốn công để đi làm cái việc xấu xa ấy làm gì. Ví như ông không cần phải đến Tổng cục đường hàng không Bắc cực để chạy vạy tìm cách ngăn trở đội thám hiểm của Sanya làm gì.
Có lẽ lúc này thái độ của tôi đã thay đổi hẳn, không còn vui vẻ như trước nữa, nên bà tôi mới nhìn tôi bằng cặp mắt hoảng hốt như thế, và bà đã lén làm dấu thánh. Nikolai Antonovich ngồi lặng im, những đường gân trên cổ nổi rõ lên và giật rất dữ.
- Xin hãy để cho tôi được yên tĩnh, – tôi nói nhanh như người phát cuồng. – Xin mãi mãi đừng có quấy rầy tôi!