Tôi không thể thừa nhận mình là người không có tính nhẫn nại. Song hình như chỉ có những bậc thiên tài nhẫn nại nhất mới có thể đọc hết được những quyển nhật ký này! Rõ ràng là chúng được viết vào những lúc nghỉ, dưới ngọn đèn thắp bằng mỡ những con hải cẩu nên ánh sáng lù mù với bàn tay mệt mỏi, tê cứng vì trời lạnh bốn mươi nhăm độ âm. Ở một vài chỗ có thể nhìn thấy nét bút ngoằng xuống khỏi chữ thành một vệt dài chẳng có ý nghĩa gì.
Nhưng tôi cần phải đọc hết những trang ấy!
Thế là tôi lại bắt tay vào làm cái công việc khổ não này. Mỗi buổi tối (hôm nào không phải bay thì tôi làm từ sáng sớm) tôi ngồi cạnh bàn, tay cầm cái kính lúp bắt đầu một cách căng thẳng, chậm chạp biến những cái lưỡi câu này thành văn tự của loài người, có chữ thì bi quan thất vọng, có chữ lại tràn đầy hy vọng. Thoạt đầu tôi tiến hành một cách mù quáng, ngồi xuống là đọc. Nhưng sau đó tôi nảy ra một ý nghĩ láu lỉnh hơn, tôi không đọc từng chữ một như trước, mà đọc luôn từng trang một.
Trong khi đọc những quyển nhật ký này, tôi nhận thấy có một số trang viết tương đối rõ ràng, ví dụ như bản mệnh lệnh mà bác sĩ đã chép lại chẳng hạn. Căn cứ vào những đoạn này, tôi chép lại tất cả những chữ cái từ “a” đến “z” rồi xếp thành một cái “bảng chữ cái của hoa tiêu” rồi bắt chước từng nét chữ đủ hình đủ vẻ của ông ấy mà viết ra. Dựa vào bảng chữ cái ấy, công việc tiến hành được nhanh hơn nhiều. Chỉ cần căn cứ vào bảng chữ cái này mà đoán cho thật đúng một hai chữ cái, thế là tất cả những chữ khác tự nhiên cũng sẽ ra.
Tôi ngồi dò cuốn nhật ký hết ngày nọ sang ngày kia như vậy.
* * *
NHẬT KÝ CỦA HOA TIÊU TÀU BIỂN VIỄN HÀNH IV. DM. KLIMOV
Thứ tư, ngày 27 tháng 5:
Khởi hành tương đối muộn, trong vòng sáu tiếng đồng hồ chỉ đi được có bốn véc-xtơ. Hôm nay ăn mừng ngày chúng tôi rời tàu được một tháng. Chúng tôi tính, sau khi rời khỏi tàu, chúng tôi mới đi được có một trăm véc-xtơ. Tất nhiên một tháng trời mà đi được có ngần ấy không lấy gì làm nhiều nhưng đường xấu quá, chúng tôi thật không ngờ. Chúng tôi long trọng ăn mừng ngày kỷ niệm tròn một tháng của chúng tôi: nấu một nồi xúp bằng rong khô và để cho xúp thêm ngọt thêm ngon, chúng tôi cho thêm vào hai hộp sữa đặc.
Thứ sáu, ngày 29 tháng 5:
Nếu chúng tôi đến được bờ biển thì những người này – tôi không muốn nêu tên tuổi họ ra – hãy vĩnh viễn ghi nhớ lấy cái ngày 29 tháng 5, cái ngày mà họ đã thoát khỏi tay thần chết, và hàng năm họ hãy kỷ niệm ngày hôm ấy. Nhưng nếu người được cứu thoát thì khẩu súng hai nòng và toàn bộ dụng cụ nấu ăn của chúng tôi đều rơi xuống nước hết. Vì thế mà ngày hôm qua chúng tôi đành phải ăn thịt sống và uống sữa pha với nước lã. Ôi, chỉ cầu trời làm sao tôi có thể lên bờ cùng bọn ngớ ngẩn này.
Chủ nhật, ngày 31 tháng 5:
Dưới đây là văn kiện chính thức, căn cứ vào văn kiện này thì tôi phải dẫn một đội thủy thủ lên đường.
“Gửi ông Hoa tiêu Iv. Dm. Klimov.
Căn cứ theo ý nguyện của ông và những người có tên sau đây, tôi đề nghị ông cùng với họ rời khỏi tàu đi tìm đất liền có người ở. Phải làm điều này từ ngày mồng mười tháng Tư năm nay bằng cách đi bộ trên băng, phải mang theo xe trượt tuyết chở thuyền da thú và lương thực đủ ăn trong hai tháng. Sau khi rời khỏi tàu phải đi về phía nam cho đến khi nào nhìn thấy đất liền mới thôi. Sau khi nhìn thấy đất liền thì có thể tùy theo tình hình khách quan mà hành động cho thích đáng, nhưng tốt nhất nên tranh thủ đến cho được con sông đào British ở giữa đảo Franz Josef. Đi dọc theo con sông đào này vì người ta biết rõ nó hơn cả đến mũi Flora. Ở đấy theo tôi có thể tìm cách kiếm được thực phẩm và chỗ ở. Sau đó nếu thời gian và điều kiện cho phép nên tìm đường đến Spitsbergen[1]. Sau khi đến Spitsbergen rồi, một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn đối với các bạn là đi tìm dân cư địa phương, những người chúng ta còn chưa biết họ sống ở đâu, nhưng tôi hy vọng rằng ông sẽ tìm được ở phía nam đảo này. Nếu ông không tìm được dân cư sống trên bờ thì cũng có thể tìm được một chiếc thuyền buôn. Một đội thủy thủ mười ba người tự nguyện cùng đi với ông.
Thuyền trưởng tàu “St. Maria”
Ivan Tatarinov”
Tại Bắc Băng Dương, ngày 10 tháng Tư năm 1914
Xin trời chứng giám, tôi ra đi thật vô cùng đau đớn sau khi để ông ở lại trong hoàn cảnh gian khổ, hầu như tuyệt vọng.
Thứ ba, ngày 2 tháng 6:
Trước khi rời khỏi tàu, anh thợ máy Kornev đã làm cho chúng tôi bốn cặp kính, nhưng những chiếc kính ấy cũng chẳng có tác dụng gì. Mắt kính làm bằng vỏ chai rượu “Hoa lan”. Ngồi trên chiếc xe tuyết đi trước là những “người mở mắt” gặp may, còn “những người mù” thì nhắm mắt lếch thếch theo sau, chỉ thỉnh thoảng mới hé mắt một tí để nom đường. Mắt bị nhức nhối vì ánh sáng gay gắt rất khó chịu. Tôi sẽ không bao giờ có thể quên được cảnh hành quân của chúng tôi: chúng tôi đi bước rất đều, nhưng tiến được một bước thì người nghiêng bên nọ, ngả bên kia, ngực đè xuống sợi dây da, một tay giữ chặt lấy mép thuyền bằng da thú. Chúng tôi nhắm tịt mắt lại mà tiến lên. Tay phải cầm gậy trượt tuyết, trượt lên phía trước rất chính xác như một cái máy, nghiêng người về bên phải rồi lại đi từ từ tụt lại phía sau. Tuyết dính ở đầu gậy kêu lạo xạo, nghe sao mà chán tai thế. Bạn miễn cưỡng phải nghe cái tiếng lạo xạo đó và hình như nghe rõ tiếng: “Còn xa lắm, xa – xa – lắm”. Hình như chúng tôi đi trong trạng thái mất hết cả tri giác, chân bước đi như cái máy, ngực đè lên sợi dây… Hôm nay tôi cảm thấy như mình đang đi dưới bóng những tòa nhà cao vào một ngày hè nóng nực ở bên bãi biển. Trong những tòa nhà này có chứa những hoa quả vùng châu Á. Cửa đóng kín mít. Có thể ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt và ngọt lự của hoa quả tươi và quả khô. Mùi cam, mùi đào, táo khô và đinh hương làm người ta ngây ngất. Những nhà buôn Ba Tư đang tưới nước lên vỉa hè, nhựa đường chảy ra vì trời nóng. Tôi nghe thấy họ nói chuyện bình tĩnh. Trời ơi, sao mà thơm thế, sao mà sảng khoái, dịu dàng đến thế!… Lúc đó tôi bỗng bị vướng vào cái gậy trượt tuyết của mình, tinh thần bỗng tỉnh hẳn ra, tôi níu chặt lấy cái thuyền da thú và dừng bước. Thì ra trước mắt toàn là tuyết, tuyết và tuyết, mắt chỉ nhìn thấy có tuyết trắng xóa. Mặt trời vẫn gay gắt chói lọi như cũ, mắt vẫn bị đau nhức nhối như cũ.
Thứ năm, ngày 4 tháng 6:
Hôm nay, đi theo vết chân Dunaev, tôi để ý thấy anh ta thổ ra huyết. Kiểm tra hàm răng thì ra là bệnh hoại huyết. Mấy hôm nay anh ta cứ kêu ca về cái chân bướng bỉnh.
Thứ sáu, ngày 5 tháng 6:
Hình ảnh Ivan Lvovich không sao rời khỏi đầu óc tôi. Khi ông ra tiễn chúng tôi và nói mấy lời từ biệt, ông bỗng ngừng lại cắn chặt răng, nhìn chung quanh mỉm cười cay đắng. Ông vẫn còn đang ốm. Tôi bỏ ông lại vào lúc ông vừa ở giường bệnh dậy. Trời ơi, đó là một sai lầm kinh khủng nhất. Nhưng giờ đây không thể quay trở lại được nữa.
Thứ bảy, ngày 6 tháng 6:
Bắt đầu từ ngày mồng ba, Morev cứ quấn riết lấy tôi, nói rằng anh ta trông thấy trên đỉnh núi băng có một vùng như “bình nguyên”, tức là một dải băng rất bằng phẳng kéo dài rất xa xuống phía nam. “Chính mắt tôi trông thấy, ông hoa tiêu ạ! Bình nguyên trơn nhẵn đến nỗi móng con thú cũng không đứng nổi”. Sáng hôm nay anh ta không còn ở trong lều nữa. Anh ta ra đi không cần giày trượt tuyết, trên lớp tuyết mỏng và cứng có thể nom thấy dấu giày lông lờ mờ của anh. Chúng tôi đi tìm anh mất cả một ngày, nào gọi, nào huýt sáo, nào bắn súng. Nếu nghe thấy nhất định anh ta sẽ trả lời chúng tôi, bởi vì anh có mang theo khẩu súng trường tự động và mười hai viên đạn. Nhưng chẳng nghe thấy một tiếng nào cả.
Chủ nhật, ngày 7 tháng 6:
Chúng tôi dùng thuyền da, bàn trượt tuyết và gậy trượt tuyết nối thành một cái cán cờ cao khoảng năm xa-gien[2] rồi buộc vào đó hai lá cờ, cắm lên đỉnh đồi. Nếu còn sống, anh nhất định sẽ nhìn thấy tín hiệu của chúng tôi.
Thứ ba, ngày 9 tháng 6:
Lại lên đường. Còn lại đúng mười ba người – một con số bất hạnh. Bao giờ cuối cùng mới có thể đến được đất liền, dù cho đó là một nơi trơ trụi, lạnh lùng cũng được, chỉ cần nó là một nơi đất liền không di động, chỉ cần chúng tôi ở trên đó không phải lo lắng từng phút giây rằng nó đang đưa chúng tôi trôi lên miền Bắc!
Thứ tư, ngày 10 tháng 6:
Buổi tối hôm nay lại có một ảo giác trông thấy thành phố miền nam, bờ biển, quán cà phê đêm cùng những người đội mũ cỏ Panama màu trắng. Sukhumi chăng? Lại ngửi thấy mùi thơm ngon dịu dàng của hoa quả tươi, lại nảy ra những ý nghĩ đau khổ. “Tại sao mình lại tham gia chuyến đi trên biển băng giá rét khốc liệt này, trong khi đi về biển phía nam thú vị biết bao? Ở đó ấm áp. Chỉ cần mặc một áo sơ-mi thôi cũng được, thậm chí còn có thể đi chân không nữa. Có thể được ăn vô khối hoa quả: cam, nho và táo”. Kỳ lạ thật, tại sao không bao giờ mình đặc biệt thích hoa quả? Nhưng kẹo sô-cô-la – cũng là một món tốt, ăn cùng với bánh mì khô, như hiện nay chúng mình ăn bữa thứ ba (sau khi ngủ trưa) cũng rất tốt. Có điều là chúng mình nhận được ít quá. Mỗi cái phải chia ra làm nhiều phần nhỏ và mỗi lần chỉ được ăn có một miếng. Nếu có một đĩa bánh mì khô bày ở trước mặt, tay cầm cả cái kẹo sô-cô-la, muốn ăn bao nhiêu thì ăn thì hay biết chừng nào! Còn bao nhiêu véc-xtơ nữa mới đạt đến cái khả năng ấy, bao nhiêu giờ, bao nhiêu ngày, bao nhiêu tuần!
Thứ năm ngày 11 tháng 6:
Đường đi thật tồi. Tuyết rất dày. Dưới tuyết lại có rất nhiều nước. Thỉnh thoảng lại có hồ nước băng cản đường đi của chúng tôi. Hôm nay chúng tôi đi không được quá ba véc-xtơ. Suốt ngày chỉ thấy có sương mù và ánh sáng mờ mờ, thứ ánh sáng làm cho người ta rất nhức mắt. Giờ đây tôi đang nhìn vào quyển vở ghi như nhìn qua một lớp vải sa. Một dòng nước mắt nóng hổi chảy xuống má. Ngày mai sẽ là lễ Giáng sinh. Nếu hôm nay đã “ở đó”, ở một nơi nào đấy của miền nam thì hay biết bao! Còn ở đây, trên khối băng trôi gần vĩ tuyến 82° chỗ nào cũng bị núi băng và hố băng ngăn cách, thật chẳng thoải mái tí nào cả! Trước mắt là cả một khối băng cứ di chuyển từng phút. Cứ hố băng này bị lấp đi thì hố khác lại mở ra, chẳng khác gì những anh chàng khổng lồ đang chơi cờ trên một bàn cờ khổng lồ.
Chủ nhật, ngày 14 tháng 6:
Có một phát hiện mới, nhưng tôi không nói gì với các bạn đồng hành của tôi về việc đó: chúng tôi đang trôi bên cạnh đất liền. Hôm nay chúng tôi đã đến được vĩ độ của đảo Franz Josef và vẫn còn đang tiếp tục di chuyển về phía nam, nhưng chẳng nhìn thấy bóng dáng hòn đảo đâu cả. Chúng tôi đang trôi bên cạnh dải đất. Dù căn cứ vào chiếc đồng hồ thiên văn vô dụng của tôi, hay căn cứ vào hướng gió thổi hay căn cứ vào chiều nước chảy dưới chiếc dây thả xuống nước, tôi đều có thể nhìn thấy như vậy.
Thứ hai, ngày 15 tháng 6:
Tôi đã bỏ ông ta lại trong cảnh ốm đau tuyệt vọng. Chỉ có ông mới có thể giấu kín được tâm trạng này. Điều đó làm tôi hết niềm tin là mình có thể được cứu.
Thứ ba, ngày 16 tháng 6:
Hiện nay chúng tôi đã có hai người bị bệnh hoại huyết. Sotkin cũng ốm rồi. Lợi anh ta sưng lên, mọng máu. Cách chữa của tôi là cho họ mang bàn trượt tuyết đi tìm đường, buổi tối cho họ một viên ký ninh. Có lẽ cách chữa này tàn khốc quá, nhưng theo tôi, nếu một người chưa mất hết sức mạnh tinh thần, thì đây là cách chữa duy nhất. Tôi thấy người mắc bệnh hoại huyết nghiêm trọng nhất lại chính là Ivan Lvovich. Ông mắc bệnh này đã gần nửa năm nay. Chỉ có người nào có nghị lực phi thường mới làm cho mình bình phục được, tức là dứt khoát không chịu chết. Nhưng giờ đây con người có nghị lực ấy, có đầu óc rộng rãi ấy, có sự thông minh tuyệt vời ấy, con người có tinh thần sảng khoái ấy đang lâm vào cái chết không thể tránh khỏi.
Thứ năm, ngày 18 tháng 6:
Vĩ độ 81°. Lại trôi về phía nam rất nhanh. Thật là kỳ lạ.
Thứ sáu, ngày 19 tháng 6:
Khoảng bốn giờ. Ở về phía đông nam căn lều của chúng tôi, tôi trông thấy một cái gì đó. Đó là hai đám mây màu hồng hồng ở ngay sát chân trời. Hình dáng của nó mãi mãi không thay đổi cho đến tận khi bị sương mù che khuất. Có lẽ suốt đời chưa bao giờ chúng tôi bị những mảnh băng bám xung quanh nhiều như lần này. Rất nhiều chim hải âu trắng bay lượn, kêu hót. Ôi, những con hải âu kia! Ban đêm chúng thường không cho tôi ngủ yên. Chúng vây quanh những con hải báo chết bị vứt ở trên băng, tranh nhau moi ruột gan chúng. Bọn chúng như lũ ác quỷ quấy rầy chúng tôi, chúng điên cuồng kêu hét, y như chúng đang mắng mỏ chúng tôi. Tôi sẽ nhớ mãi mãi “tiếng kêu của chim hải âu trên tuyết trắng” này, nhớ mãi mãi những đêm trong lều vải này không sao ngủ được và cả cái ông mặt trời chiếu qua vải bạt của nhà lều mà không bao giờ lặn nữa.
Thứ bảy, ngày 20 tháng 6:
Sau một tuần lễ trong nhà lều, chúng tôi trôi theo băng về phía nam được đúng một độ.
Thứ hai, ngày 22 tháng 6:
Buổi chiều, theo thường lệ tôi trèo lên đỉnh một mỏm núi băng để nhìn chân trời. Lần này tôi nhìn thấy ở phía đông có một vật gì làm tôi rất hồi hộp, phải ngồi xuống đỉnh núi băng, vội vàng dụi mắt và lau ống nhòm. Đó là một dải sáng, giống như một nét bút ngay ngắn vẽ lên nền trời xanh biếc. Thoạt đầu tôi cho rằng đó là mặt trăng, nhưng không hiểu sao nửa vành trăng bên trái lại cứ mờ dần, còn nửa vành bên phải cứ càng ngày càng sáng ra. Đêm hôm đó tôi đem ống nhòm ra xem năm, sáu lần, mà lần nào cũng vẫn tìm thấy mảnh trăng này ở nguyên chỗ cũ.
Tôi rất ngạc nhiên, tại sao các bạn của tôi không ai nom thấy gì cả. Phải mất nhiều sức lắm tôi mới kìm được mình khỏi chạy vào trong lều, khỏi kêu ầm lên rằng: “Sao các bạn cứ như người rơm cả thế, sao các bạn cứ ngủ mãi thế? Chẳng lẽ các bạn không nhìn thấy chúng ta đang trôi vào đất liền hay sao?” Nhưng không hiểu sao tôi lại im. Nào ai biết, có thể đây lại là ảo ảnh chăng? Tôi chẳng đã từng tưởng tượng là mình nom thấy thành phố miền nam, thấy bờ biển, thấy mùa hè nóng bỏng và thấy bóng những tòa nhà cao đó sao!
* * *
(Quyển thứ nhất viết đến đây kết thúc. Quyển thứ hai bắt đầu ghi từ ngày 11 tháng 7).
* * *
Thứ bảy, ngày 11 tháng 7:
Bắn chết một con hải báo, lấy được hai bát ô-tô tiết. Dùng tiết này nấu với vịt le le được một món canh rất ngon. Khi chúng tôi pha trà hay nấu canh, nói chung chúng tôi không thích pha trò. Sáng hôm nay chúng tôi ăn hết một xô canh, uống hết một xô nước chè; bữa trưa ăn hết một xô canh, uống hết một xô nước chè; hiện nay là bữa tối, chúng tôi mỗi người ăn hơn một phun thịt và đang sốt ruột ngồi chờ xô nước chè của chúng tôi sôi. Cái xô của chúng tôi thì to, hình dáng nó giống cái nón. Thật ra nếu có một xô canh nữa cho anh em ăn thỏa thích chắc cũng chẳng có ai phản đối, nhưng chúng tôi ngượng, bởi vì phải “tiết kiệm”. Sức ăn của chúng tôi không phải chỉ ăn như chó sói mà còn ăn nhiều hơn chó sói nhiều; điều này cũng không bình thường đâu, đó là hiện tượng bệnh hoạn đấy.
Thế là chúng tôi đã ngồi trên một hòn đảo, dưới chân chúng tôi không phải là băng, thứ băng ám ảnh chúng tôi suốt hai năm qua, mà là đất rắn và rêu. Mọi việc đều ổn, nhưng có một ý nghĩ vẫn không cho tôi được yên lòng: tại sao thuyền trưởng không cùng đi với chúng tôi? Ông không muốn bỏ tàu, ông không thể quay về với “hai bàn tay trắng”. “Họ sẽ giết chết tôi, nếu tôi quay về với hai bàn tay trắng”. Sau đó còn một ý nghĩ nông nổi, trẻ con nữa là: “Nếu hoàn cảnh tuyệt vọng buộc tôi phải bỏ tàu thì tôi sẽ đến cái đất liền mà chúng tôi đã phát hiện ra”. Tôi cảm thấy thời gian gần đây cái đất liền này quấy rầy ông ấy khá nhiều. Chúng tôi phát hiện ra đất liền này vào tháng Tư năm 1913.
Thứ hai, ngày 13 tháng 7:
Tại hướng đông nam phía đông, biển không đóng băng cho tới tận chân trời. Ôi “St. Maria” thân yêu, giá người ở đấy thì tuyệt biết bao.
Thứ ba, ngày 14 tháng 7:
Hôm nay Sotkin và Korolkov đi đến mỏm tận cùng của hải đảo thì phát hiện ra một điều vô cùng tuyệt diệu. Ở một chỗ cách biển không xa họ trông thấy một đống đá nhỏ. Họ lấy làm lạ về hình dáng đống đá này sao lại ngay ngắn đến thế. Lúc đến gần, họ nom thấy cái vỏ chai ở cách đó không xa. Đó là vỏ chai bia của người Anh. Trên cổ chai có nút xoáy. Hai người liền bới đống đá ra xem, thấy ở dưới mấy tảng đá có một cái hộp bằng sắt. Trong hộp sắt có một lá cờ nước Anh được gói ghém rất cẩn thận. Bên dưới lá cờ cũng có một cái chai, như nãy. Có một mảnh giấy dán lên cái chai, trên mảnh giấy có viết tên, họ mấy người. Trong chai có một mảnh giấy viết bằng tiếng Anh. Tôi và Nils phải cố gắng mãi mới đọc được mảnh giấy này. Thì ra đây là đội thám hiểm Bắc cực người Anh dưới sự lãnh đạo của Jackson, rời khỏi mũi Flora vào tháng Tám năm 1897, đến được mũi Mary Harmsworth và để lại lá cờ cùng tờ giấy ở đây. Cuối cùng báo tin rằng chiếc tàu buồm “Windward” được bình an vô sự.
Thế là mọi ngờ vực của tôi không ngờ lại được giải quyết hết. Thì ra chúng tôi đang ở trên mũi biển Mary Harmsworth. Đây là đầu phía tây nam hòn đảo Aleksandra. Ngày mai chúng tôi có thể chuyển xuống bờ nam của đảo, sau đó tiến đến mũi Flora, đến lãnh thổ của Jackson nổi tiếng.
Thứ tư, ngày 15 tháng 7:
Chúng tôi nhổ trại. Trước mắt chúng tôi có hai con đường phải chọn: tất cả đi làm một nhóm, mang theo đồ đạc theo băng hà đi xuống, hay chia ra làm hai nhóm, một nhóm đi giày trượt tuyết tiến theo băng hà, còn nhóm khác độ năm người bơi theo băng hà bằng thuyền da thú. Chúng tôi chọn cách thứ hai để tiến.
Thứ 5, ngày 16 tháng 7:
Sáng sớm Maksim và Nils bơi thuyền da thú đến gần chỗ chúng tôi đóng. Nils bị dòng nước trôi đi rất xa, phải cử hai người đi vớt anh ta. Tôi nhìn qua ống nhòm thấy Nils đã nhấc mái chèo lên, bất lực ngồi nhìn cái thuyền da thú đến cứu. Nils ốm rất nặng, nếu không tôi không có cách nào giải thích về hành động này của anh ta. Nói chung gần đây anh ta có cái gì rất lạ lùng: đi đứng không vững, thường hay ngồi xuống ven đường. Bữa trưa hôm nay chúng tôi nấu hai con le le và một con chim cụt.
Thứ sáu, ngày 17 tháng 7:
Thời tiết thật là ác liệt. Chúng tôi tiếp tục ngồi ở mũi Grant chờ đội đi bộ tới. Ban đêm trời trở nên sáng sủa. Phía trước, mạn phía tây tây bắc, ở một nơi không xa lắm có thể nhìn thấy một hòn đảo lởm chởm đá ở phía sau khối băng dày. Chẳng lẽ đó lại là Northbrook, trên đó có mũi Flora? Giờ đây sắp đến lúc chứng minh được việc tôi vội vã tiến về phía mũi này là đúng hay sai. Hai mươi năm – đó là một thời gian dài. Rất có thể với thời gian đó, những vật kiến trúc của Jackson ở đó không còn lại dấu vết gì. Nhưng còn có cách nào khác nữa? Đi một vòng rộng nữa ư? Liệu những người bạn đường ốm yếu bất hạnh của tôi quần áo tả tơi, cáu ghét, chấy rận đầy người có thể kiên trì được nổi không?
Thứ bảy, ngày 18 tháng 7:
Ngày mai nếu thời tiết cho phép, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không thể chờ đợi thêm được nữa. Nils cố gắng miễn cưỡng đi. Korolkov có khá hơn một tí. Mặc dù Dunaev có phàn nàn về đôi chân của mình, nhưng ở anh ta tôi không thấy có biểu hiện gì về sự suy nhược tinh thần và thể lực đáng sợ như ở Nils và Korolkov. Cái gì có thể kìm chân những người bộ hành này lại? Tôi không biết, nhưng nếu ở lại đây thêm nữa thì nhất định chỉ có chết.
Thứ hai, ngày 20 tháng 7:
Đảo Ben. Bước ra khỏi cái thuyền da thú, chúng tôi biết rõ là Nils không thể đi được nữa; anh ta ngã lăn ra và cố gắng bò bằng cả chân lẫn tay. Chúng tôi làm một cái tựa như cái cáng, đặt Nils lên rồi lấy chiếc khăn duy nhất của chúng tôi đắp cho anh. Anh cứ định bò đi đâu ấy, nhưng về sau cũng chịu nằm yên. Nils là người Đan Mạch. Sau hai năm phục vụ trên tàu “St. Maria”, anh học nói tiếng Nga rất sõi. Nhưng bắt đầu từ hôm qua trở đi, anh quên hết tất cả tiếng Nga. Điều làm cho tôi kinh hãi nhất là đôi mắt ngây dại đáng sợ của anh – đôi mắt của một người đã mất hết lý trí. Chúng tôi nấu canh thịt và đem đến cho anh nửa bát. Anh ăn xong rồi nằm xuống. Mất một thủy thủ ưu tú rất thông minh và cần mẫn như vậy thật là tiếc. Mọi người nằm ngủ, còn tôi, tôi xách khẩu súng trường đến một ghềnh đá nhìn về mũi Flora.
Thứ ba, ngày 21 tháng 7:
Nils đã chết hồi đêm. Anh không kịp bỏ cái chăn chúng tôi đắp cho anh ra nữa. Nét mặt anh bình thản, chẳng có vẻ gì là đau đớn trước khi chết… Hai giờ sau chúng tôi khiêng người bạn yên nghỉ giấc ngàn thu này ra đặt lên xe trượt tuyết. Mặt đất đóng băng rắn như đá nên không đào được huyệt sâu. Chúng tôi chẳng có ai khóc nấm mồ cô đơn ở nơi xa vời này. Cái chết của người này chẳng làm cho chúng tôi ngạc nhiên cho lắm, hình như đó là một việc rất bình thường đã xảy ra. Tất nhiên đây không phải là thờ ơ, không có tình cảm. Đây chỉ là sự đờ đẫn không bình thường trước cái chết sẽ đến với mỗi người chúng tôi. Hình như chúng tôi cố tình nhìn xem giờ đây đến lượt “vị ứng cử” nào – có lẽ đến lượt Dunaev, chúng tôi thầm đoán: “Liệu anh có rời bỏ chúng tôi trước khi đến nơi không”. Một bạn đồng hành thậm chí còn trêu anh ấy một cách cay độc: “Thế nào, cậu còn ngồi đây làm gì hả con gà nhúng nước? Cậu muốn đi theo Nils hay sao? Đi, đi tìm gỗ trôi đi, hoạt động lên một tí!”. Sau khi Dunaev phục tùng đứng lên đi, có người còn gọi với theo anh: “Cậu đi lảo đảo thế à, đi nhanh lên!” Họ nói như vậy không phải là căm ghét Dunaev. Giờ đây mấy cây gỗ trôi có gì là quan trọng. Họ căm ghét bệnh tật đã cướp đi mất của chúng tôi người đồng chí, kêu gọi chúng tôi phải đấu tranh với cái chết đến cùng. Khi nào chân bị tê dại, muốn khuỵu xuống thì đó là đặc tính của bệnh. Sau đó lưỡi cứng ra. Bệnh nhân cố gắng thế nào cũng không phát ra thành tiếng, hình như bối rối rồi im bặt.
Thứ tư, ngày 22 tháng 7:
Ba giờ thì khởi hành đến mũi Flora. Lại nghĩ về Ivan Lvovich. Tôi chẳng còn nghi ngờ gì nữa, ông suy nghĩ rất nhiều về hòn đảo chúng tôi đã phát hiện ra. Trong thời gian gần đây ông cứ luôn luôn tự trách mình sao không cử một đội đến đó để nghiên cứu. Trong lời từ biệt ông cũng nhắc đến cái hòn đảo ấy. Không bao giờ tôi quên cái buổi vĩnh biệt ấy, không bao giờ tôi quên khuôn mặt trắng bệch kích động lòng người và cái nhìn xa thẳm ấy! Tất cả những cái đó chẳng còn tí chút gì giống với con người có bộ mặt hồng hào, sức sống sôi nổi, luôn luôn nghĩ ra những chuyện giai thoại khôi hài, toàn đội phải khâm phục; con người trước bất cứ khó khăn lớn nhất nào cũng có thể cười đùa được. Ông nói chuyện xong nhưng chẳng ai muốn bỏ đi. Ông đứng đấy, mắt nhắm lại, hình như đang chuẩn bị sức để nói mấy lời vĩnh biệt. Nhưng thay cho lời nói ra là một tiếng thở dài nhè nhẹ và ở đuôi con mắt có giọt nước mắt long lanh. Ông nói lúc đầu đứt đoạn nhưng càng về sau càng bình tĩnh: “Chúng ta cùng đau lòng phải tiễn biệt những người bạn đã cùng chung sống, làm việc và đấu tranh suốt hai năm qua. Nhưng chúng ta cần phải nhớ rằng, mặc dù nhiệm vụ căn bản của đội thám hiểm chưa được hoàn thành, nhưng chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc. Trong lịch sử thám hiểm Bắc cực, lao động của người Nga đã ghi những trang quan trọng – nước Nga có thể tự hào về điều đó. Chúng ta gánh vác một phần trách nhiệm trọng đại, tỏ ra những người thừa kế xứng đáng với các nhà thám hiểm Bắc cực của nước Nga. Nếu chúng ta có chết đi thì những phát hiện của chúng ta không thể mất đi theo chúng ta được. Các bạn của chúng ta hãy trở về báo tin rằng đội thám hiểm của chúng ta với lao động của mình đã tăng thêm cho nước Nga một lục địa rộng lớn mà chúng ta gọi là “Đảo Maria”. Ông im lặng một lát rồi ôm từng người chúng tôi và nói: “Tôi muốn nói với các bạn không phải “vĩnh biệt” mà là “tạm biệt””.
Thứ năm ngày 30 tháng 7:
Giờ đây chúng tôi chỉ còn lại có tám người: bốn người trên chiếc thuyền da thú, và bốn người đang ở nơi nào đó trên đảo Aleksandra.
Thứ bảy, ngày 1 tháng 8:
Hôm nay xảy ra một việc như sau: Khi chúng tôi đến cách mũi Flora khoảng hai ba dặm thì gió tây bắc nổi lên rất dữ dội, sức gió càng ngày càng mạnh, nửa giờ sau, gió thổi mạnh như từ trong ống thổi ra gây nên những đợt sóng rất ác liệt. Trong sương mù mịt, chiếc thuyền da thú số hai cùng Dunaev và Korolkov biến đi đâu mất. Nhận thấy không thể nào chống lại sóng to gió lớn như thế này được nữa, chúng tôi liền theo chiều gió lên một tảng băng lớn để vào bờ; chúng tôi bò lên núi băng, kéo cả cái thuyền da thú lên theo. Sau khi leo lên được núi băng, chúng tôi cắm một lá cờ lên đỉnh núi băng với hy vọng rằng nếu Dunaev có trông thấy anh sẽ đoán ra và cũng sẽ leo lên một tảng băng nào đó. Lúc đó trời rất lạnh. Chúng tôi mặc áo da lông vào, nằm ngược chiều nhau trên đỉnh núi băng. Chân Maksim thò vào áo da của tôi quặp chặt lấy lưng tôi, còn chân tôi thò vào trong áo của Maksim và quặp chặt lấy lưng anh. Chúng tôi nằm như vậy và ngủ yên lành được bảy tám tiếng đồng hồ. Một việc vô cùng khủng khiếp đã làm chúng tôi tỉnh giấc. Chúng tôi bị một tiếng động long trời lở đất làm tỉnh dậy và cảm thấy như mình đang chìm xuống như bay, chỉ một phút sau, cái chăn chui của hai người chúng tôi đã đầy nước, chúng tôi cố gắng một cách tuyệt vọng để giãy ra khỏi cái chăn chui phản bội này, chân chúng tôi đạp vào người nhau. Chúng tôi ở tình trạng những con mèo bị người ta dìm xuống nước để giết. Tôi không biết tôi giãy giụa như vậy được mấy giây đồng hồ, nhưng tôi cảm thấy lâu lắm, lâu một cách đáng sợ. Cùng với những ý nghĩ được cứu và sẽ chết, trong đầu óc tôi hiện lên bao nhiêu hình ảnh khác nhau trong chuyến đi này; cái chết của Morev, của Nils, của đội người đi bộ. Giờ đây đến lượt chúng tôi, và không bao giờ có ai biết được điều này. Đúng lúc đó chân tôi va phải chân Maksim, chúng tôi đẩy nhau ra khỏi được cái chăn chui, và lát sau chúng tôi đã đứng ướt sũng trên một tảng băng ngầm dưới nước, chúng tôi ra sức ném lên mặt băng nào ủng, nào mũ, chăn, găng tay, những vật này đang trôi lềnh bềnh trong nước xung quanh chúng tôi. Chiếc áo da lông sao mà nặng thế, hai đứa chúng tôi phải khiêng lên, còn chăn thì không vớt kịp, nó chìm mất. Bây giờ chúng tôi phải làm gì đây? Dù tôi có vắt óc suy nghĩ cũng vô ích. Cả hai chúng tôi đều bị lạnh cóng! Hình như để trả lời chúng tôi, chiếc thuyền da thú từ trên đỉnh núi băng bay xuống nước. Cũng có thể gió thổi xuống, mà cũng có thể là khối băng ở dưới chiếc thuyền cũng bị vỡ ra như khối băng ở dưới chỗ chúng tôi khi nãy. Bây giờ chúng tôi hiểu phải làm gì rồi! Chúng tôi vắt đôi bít tất chân và cái áo khoác ngắn kiệt nước rồi mặc vào người, còn tất cả những thứ khác đem bỏ lên thuyền, chúng tôi ngồi lên rồi ra sức chèo thuyền! Trời ơi, đúng là chúng tôi chèo thuyền chí chết! Tôi nghĩ, chỉ có như vậy mới cứu được chúng tôi. Sau sáu tiếng đồng hồ chúng tôi đến được mũi Flora…
* * *
Trong những đoạn hoa tiêu ghi ngay sau khi rời con tàu, tôi tìm thấy một bản đồ rất thú vị. Kiểu bản đồ này rất cũ, tôi cảm thấy nó rất giống tấm bản đồ đính kèm theo chuyến thám hiểm của Nansen trên chiếc tàu “Fram”.
Nhưng điều làm cho tôi kinh ngạc nhất là: đây là tấm bản đồ tuyến đường của chiếc tàu “St. Maria” đã đi từ tháng Mười năm 1912 đến tháng Tư năm 1914. Địa điểm của đợt trôi này lại đúng là nơi được gọi là đảo Peterman. Hiện nay ai mà chẳng biết cái đảo này không còn nữa? Nhưng có ai biết rằng sự thực đó lại do thuyền trưởng Tatarinov đi trên tàu “St. Maria” là người đầu tiên chứng minh?
Người thuyền trưởng mà chẳng có quyển sách địa lý nào nhắc đến ấy rốt cuộc đã làm những việc gì? Ông đã phát hiện ra Bắc địa, ông đã chứng minh rằng đảo Peterman thực tế không có. Ông đã hiệu chỉnh bản đồ Bắc cực – thế mà ông vẫn cho rằng đội thám hiểm của mình thất bại…
Nhưng điều quan trọng nhất: tôi đã đọc những cuốn nhật ký này theo bản sao của tôi đến năm sáu, bảy lượt rồi (thành ra việc đọc đối với tôi không khó khăn nữa) tôi rất chú ý đến đoạn ghi thái độ của thuyền trưởng đối với sự phát hiện của mình như thế nào:
“Những ngày gần đây ông luôn luôn tự trách mình đã không cử một đội đến dải đất này (tức Bắc địa) để nghiên cứu. Nếu chúng ta có phải chết đi, thì sự phát hiện của chúng ta cũng không thể mất đi theo chúng ta được. Các bạn của chúng ta hãy trở về báo tin rằng đội thám hiểm chúng ta với lao động của mình đã tăng thêm cho nước Nga một lục địa rộng lớn mà chúng ta gọi là “Đảo Maria””.
“Nếu hoàn cảnh tuyệt vọng buộc tôi phải bỏ tàu thì tôi sẽ đến cái dải đất mà chúng tôi đã phát hiện ra”.
Và người hoa tiêu đã cho ý nghĩ này là trẻ con và nông nổi.
Trẻ con và nông nổi! Trong bức thư cuối cùng của thuyền trưởng mà hồi nào đó dì Dasha đã đọc cho tôi nghe đã có hai tiếng này.
“Dù muốn hay không bọn anh cũng đành phải từ bỏ cái ý định ban đầu là đi dọc theo bờ biển Sibir để đến Vladivostok. Song chẳng có cái rủi nào lại không có điều may. Giờ đây trong đầu óc anh lại nảy ra một ý nghĩ khác hẳn. Anh mong rằng em sẽ không như những bạn đồng hành của anh, cho những ý nghĩ này của anh là trẻ con hay là nông nổi”.
Trang này viết đến hai chữ ấy thì kết thúc, và trang sau thì không còn nữa. Bây giờ tôi đã hiểu ý nghĩ này là gì: ông muốn rời khỏi tàu và đi đến hòn đảo này. – Cuộc thám hiểm trước đây là mục đích chính của đời ông đã thất bại. Ông không thể quay về với “hai bàn tay trắng”. Ông tha thiết muốn đến cái dải đất mà mình phát hiện ra, cho nên tôi rất hiểu, nếu nói vết tích đội thám hiểm của ông còn lưu lại ở một nơi nào đó thì phải đến cái dải đất này mà tìm! Nhưng có lẽ điều đó chỉ rõ đối với tôi? Có lẽ sở dĩ tôi có thể hiểu được rõ như vậy, là bởi vì tôi có quen một người đàn bà mà tên của bà đã được đặt cho cái dải đất ấy và tôi cũng được thấy bà đã chết như thế nào. Tôi rất muốn tìm bằng được vết tích của đội thám hiểm này để càng chứng minh cho Katya biết rằng tôi yêu cô và mãi mãi yêu cô.
Một đêm khuya vào tháng Ba năm 1935, tôi chép lại trang cuối cùng của cuốn nhật ký này, trang cuối cùng mà tôi có thể đọc được.
Trong ngôi nhà hai tầng đồ sộ của Ban chấp hành khu mà tôi ở hồi đó, tất cả mọi người đều đã ngủ say từ lâu, chỉ có ánh sáng trong cửa sổ buồng tôi chiếu ra một cái cây nhỏ mảnh khảnh phủ đầy tuyết ở ven đường. Đầu và mắt tôi đều nhức nhối. Tôi mặc quần áo và đi ra ngoài.
Đường phố tĩnh mịch, trời giá lạnh nhưng không tồi lắm. Trời đầy sao và ở phía tây vẫn còn thấy chút ánh sáng Bắc cực yếu ớt. Cảm giác trìu mến mà tôi đã thể nghiệm hồi ở sân bay Balashov trước kia lại hiện lên trong đầu óc tôi.
Hình như trong rạp hát đèn bỗng bật sáng, tôi nhìn thấy những người ngồi cạnh mình chính là những người tôi vừa nom thấy trên sân khấu. Chẳng lẽ đó lại là sự thật? Hình như một phút trước đây vẫn không thể nói được rằng những người này sống thật không hay chỉ là một trò chơi bị mờ dần và biến mất dưới ánh sáng của tư tưởng thực tế; nhưng đèn bật sáng, thế là biến mất hết. Trái lại, với sự sáng rõ lạ kỳ và tràn đầy sức sống tôi nhìn thấy xung quanh tôi toàn những người sợ sệt và ốm đau, tuyệt vọng, tràn đầy ảo giác và hy vọng. Khi họ đã rời khỏi con tàu, con tàu đang đỗ cách bờ biển một trăm bảy mươi ki-lô-mét, nhưng họ phải đi gần hai nghìn ki-lô-mét theo biển băng mênh mông bởi vì họ đã bị trôi qua cạnh đất liền. Tuy thuyền trưởng không có trong đám người này, nhưng cuốn nhật ký làm rung động lòng người ấy lại luôn luôn nhắc đến ông, chỗ nào cũng có lời ông nói, tràn đầy tình yêu mến đối với ông và sự lo ngại của mọi người đối với cuộc sống của ông! Những lời từ biệt được viết bằng bút chì, nét bút chì ấn sâu xuống giấy, cho nên đây là đoạn dễ đọc nhất trong toàn bộ cuốn nhật ký. “Nhưng thay cho lời nói là một tiếng thở dài nhè nhẹ và ở đuôi con mắt có giọt nước mắt long lanh…”
Liệu đến một lúc nào đó, tôi có tìm biết được cái gì đã xảy đến với con người ấy, con người hình như đã giao cho tôi nhiệm vụ phải kể lại toàn bộ cuộc sống và cái chết của ông? Ông có bỏ tàu lại để đi nghiên cứu cái dải đất mà ông phát hiện ra không? Hay ông đã hy sinh vì đói cùng với những người bạn của mình? Còn con tàu bị đóng băng giữa biển đang ở bên bờ Yamal mấy năm qua cùng với đoàn thủy thủ đã chết có đi theo con đường của Nansen đến Greenland không? Hay là đã bị băng làm cho vỡ tan vào một đêm đại hàn, có bão tuyết mà chẳng có trăng sao, cũng không có ánh sáng Bắc cực. Cột buồm bị gãy đánh rắc một cái, đổ sụp xuống làm vỡ tan thành tàu, giết chết mọi người, còn thân tàu vỡ tan ra kêu răng rắc và hai giờ sau bão tuyết đã kéo tuyết phủ kín nơi xảy ra tai nạn.
Hoặc trên một hòn đảo nhỏ không người nào đó trên Bắc cực còn có những người của chiếc tàu “St. Maria” đang sống? Những người này có thể kể lại số phận của con tàu, kể lại vận mệnh của thuyền trưởng. Trước kia chẳng phải đã có sáu thủy thủ Nga sống mấy năm trời trên một góc hoang vu của hòn đảo Spitsbergen đó sao? Họ giết gấu và hải báo, lấy thịt chúng để ăn, lấy da lông chúng để mặc, dùng da thú để trải làm đệm trong nhà hầm họ làm bằng băng và tuyết.
Không, làm gì có chuyện như vậy! Từ khi cái ý nghĩ cho rằng rời bỏ tàu để đến đảo Maria là “trẻ con”, là “nông nổi”, được phát biểu đến nay đã được hai mươi năm rồi. Họ có đến cái đảo ấy không? Họ có đến được không?
❀ ❀ ❀
[1] Một hòn đảo ở miền Bắc Na Uy. – N.D.
[2] Đơn vị đo chiều dài cũ của nước Nga, mỗi xa-gien = 2,134 mét. – N.D.