Không biết thằng Petya nghe ở đâu cái tin nói rằng hiện nay trên mọi tuyến đường sắt đi tàu đều không mất tiền. Chắc là cái tin đồn đi tàu điện không mất tiền truyền đến tai nó, được phóng đại lên như vậy.
- Người lớn thì phải có giấy thông hành, – nó nói dứt khoát như thế. – Còn chúng mình thì chẳng cần gì.
Nó không lầm lì nữa. Nó dỗ dành, nói khích tôi, trách tôi là nhát gan, khinh thị cười tôi. Bất kỳ trên trời đất xảy ra những sự kiện gì cũng chỉ làm cho nó càng thêm tin tưởng rằng chúng tôi không được trù trừ gì nữa, phải lập tức tẩu đến Turkestan. Skovorodnikov công khai tuyên bố rằng ông là Bolshevik và bắt dì Dasha phải bỏ bức tượng thánh đi. Petya liền giải thích cái sự kiện ấy có lợi cho nó và chứng minh rằng dẫu sao thì bây giờ trong xóm này cũng không ai còn có thể yên ổn mà sống được nữa.
- Các bà trong xóm sẽ xé xác ông ấy ra, – nó buồn bã nói. – Từ nay tao không chịu trách nhiệm về ông ấy nữa.
Ủy ban quân sự cách mạng ra lệnh phá những cái hầm chứa rượu, và đổ hết rượu xuống sông Peschinka. Xem ra sự kiện đó cũng có lợi cho kế hoạch của chúng tôi.
- Cá sẽ chết hết, – thằng Petya nói như người lớn. – Thế nào rồi người ta cũng sẽ nấu rượu lậu. Không được! Phải đi thôi!
Tôi không biết rằng rút cục liệu Petya có thuyết phục được tôi hay không nếu trong cuộc họp gia đình dì Dasha và ông Skovorodnikov không đưa ra quyết định cho tôi và em gái Sanya vào trại trẻ mồ côi. Dì Dasha là người khéo tay, dì may áo sơ-mi, làm chụp đèn, việc gì cũng thành thạo. Nhưng bây giờ thì ai cần đến những cái chụp đèn ấy của dì. Có lẽ khi dì Dasha lấy ông Skovorodnikov đã hy vọng rằng sẽ cải thiện được hoàn cảnh kinh tế khó khăn của mình. Nhưng hiện nay ông ấy lại say mê hoạt động chính trị, vứt bỏ cả thứ hồ dán vạn năng của ông, do đó chẳng còn lấy gì mà sống được nữa.
Dì vừa khóc vừa tuyên bố rằng dì sẽ đến trại thăm chúng tôi hàng ngày, rằng chỉ gửi chúng tôi vào đó hết mùa đông, đến mùa hè nhất định chúng tôi lại được về. Đến trại, chúng tôi sẽ được ăn, mặc, học hành. Chúng tôi sẽ được phát mỗi đứa một đôi giày da mới, hai chiếc áo sơ-mi, một cái áo bành-tô có liền cả mũ, bít tất và quần lót. Tôi còn nhớ lúc đó tôi đã hỏi dì:
- Quần lót là cái gì ạ?
Chúng tôi có biết bọn trẻ trong trại mồ côi. Mặt đứa nào cũng xanh bủng, mặc áo chẽn màu xám và cái quần nhàu nát cũng màu xám. Chúng nó bắn chim bằng súng cao su rất cừ, sau đó đem nướng chim ngay ở trong vườn của trại rồi chia nhau ăn. Đấy, người ta nuôi chúng nó ở trong trại như thế đấy. Tóm lại chúng nó đều là những tên “tiểu phạm nhân”, chúng tôi đã đánh nhau với chúng và thế là giờ đây chúng tôi cũng trở thành những tên tội phạm.
Ngay hôm đó tôi đến bảo thằng Petya là tôi đồng ý. Tiền thì chúng tôi không có nhiều – chỉ có mười rúp. Chúng tôi bán đôi giày da của mẹ tôi ở chợ giời được mười rúp nữa. Tổng cộng là hai mươi rúp. Chúng tôi hết sức thận trọng lấy cắp cái chăn ở nhà mang đi, và cũng lại phải rất thận trọng mang cái chăn ấy về như thế, bởi vì mặc dù chúng tôi đòi giá rất rẻ, chỉ có bốn rúp rưỡi, mà cũng chẳng ai thèm mua chăn cả. Trong khi chúng tôi tha cái chăn đi khắp chợ thì đã ăn quà mất đúng bốn rúp rưỡi. Như vậy tổng cộng số tiền còn mười lăm rúp rưỡi.
Thằng Petya còn định bán sổ sách cũ của nó đi nữa. Rất may là chẳng có ai mua. Sở dĩ tôi nói “rất may” là vì hiện nay những quyển sách này đều để ở chỗ trang trọng nhất trong tủ sách của tôi. Song có một cuốn hình như là cuốn “Yury Miloslavsky” đã bán được. Do đó tổng cộng có mười sáu rúp.
Chúng tôi cho rằng với số tiền này có thể đủ để đi đến chỗ ông chú. Ở đó sẽ mở đầu cuộc sống đầy hấp dẫn tuyệt vời trên đầu máy xe lửa. Tôi còn nhớ lúc ấy vấn đề làm cho chúng tôi quan tâm nhất và tranh cãi nhiều nhất, đó là vấn đề vũ khí. Thằng Petya có con dao Phần Lan. Nó gọi con dao đó là con dao găm. Chúng tôi khâu cho nó cái bao da cắt từ chiếc ủng cũ ra. Song lên đường mà chỉ có một thứ vũ khí lạnh như vậy thôi thì cũng chẳng thú vị gì. Kiếm đâu được khẩu súng lục bây giờ?
Có một hồi chúng tôi hy vọng rằng ủy ban quân sự cách mạng sẽ phân phát cho mỗi người một khẩu súng lục. Sau đó chúng tôi cho rằng người ta sẽ chẳng phát đâu nên rủ nhau ra chợ giời xem có anh chàng lính đào ngũ nào đó bán súng đi chăng.
Sau khi tìm kiếm rất lâu, chúng tôi đã vớ được cái thứ mà chúng tôi đang cần.
Đó là một khẩu súng ngắn năm nòng rất lớn có tay cầm bằng gỗ chạm trổ. Đúng là năm nòng đạn, tôi không nói sai. Năm nòng có thể cùng nạp đạn một lúc nhưng cứ bắn xong một phát thì phải dùng tay xoay đi một nấc. Thật chẳng còn nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những khẩu súng ngắn nguyên thủy nhất trên trái đất này. Sau này tôi cũng nhìn thấy những khẩu súng như thế ở trong Viện Bảo tàng. Thế nhưng chúng tôi lại rất thích khẩu súng này. Chính là năm cái nòng đã chinh phục chúng tôi. Bắn từ cái súng này ra thì phải biết!… Người bán khẩu súng này không phải là một anh lính đào ngũ mà lại là một mụ già vợ tướng, điều đó càng làm cho chúng tôi kiêng nể. Tóm lại một câu là nếu trong khi chúng tôi đi lấy tiền mà mụ vợ tướng cùng với khẩu súng ngắn không biến đi đâu mất thì số tiền mười sáu rúp của chúng tôi chẳng còn được quá ba rúp rưỡi.
Giờ đây tôi mới thấy rằng dù sao thì khi ấy chúng tôi cũng còn gặp may. Nếu như chúng tôi mua vũ khí đó thật và lại mang nó ra mà bắn thử (chúng tôi cũng đã chuẩn bị thuốc súng) thì có lẽ cuộc hành trình của chúng tôi không phải là Ensk – Moskva – Tashkent nữa mà là cuộc hành trình từ nhà đi thẳng ra nghĩa địa Spasskoye rồi.
Thế là chúng tôi quyết định chỉ dùng tạm vũ khí lạnh.
Mọi việc còn lại chúng tôi đều chuẩn bị chu đáo: giày da còn bền, áo bành-tô lành lặn, áo của thằng Petya còn có cả cổ lông nữa, mỗi đứa hai cái quần.
Ngày hôm đó tôi vô cùng buồn bã, dì Dasha cứ an ủi tôi mấy lần. Dì Dasha tội nghiệp! Nếu dì biết rằng sở dĩ chúng tôi hoãn thời gian lên đường chẳng qua chỉ vì còn tính toán chờ bánh của dì đấy thôi! Ngày mai dì sẽ đưa tôi và bé Sanya vào trại mồ côi, do đó mà dì ngồi nướng bánh suốt một ngày và cứ luôn tay nhấc kính ra và hỉ mũi.
Dì bắt tôi phải trịnh trọng hứa rằng sẽ không ăn cắp, không hút thuốc lá, không nói tục, không lười biếng, không rượu chè, không chửi nhau, đánh nhau, nghĩa là nhiều điều khuyên răn hơn cả trong kinh thánh. Em tôi cũng rất buồn, dì tặng cho nó một cái dải buộc tóc rất cổ tuyệt đẹp.
Thật ra thì chúng tôi có thể cứ từ nhà ra khỏi cửa mà đi có trời tìm! Song Petya lại cho rằng như vậy không thú nên có bày ra một kế hoạch phức tạp rất ly kỳ làm tôi phải bái phục.
Thứ nhất là chúng tôi phải “thề máu” với nhau. Lời thề đó như sau:
“Nếu kẻ nào phản bội lời thề thiêng liêng này thì kẻ ấy sẽ không được tha thứ cho đến khi đếm được dưới biển có bao nhiêu hạt cát, rừng có bao nhiêu lá cây và trên trời có bao nhiêu hạt mưa rơi xuống. Muốn tiến lên thì lùi lại. Muốn sang trái thì sang phải. Kẻ nào phá bỏ lời thề thiêng liêng này thì sẽ bị sét đánh như tôi ném cái mũ của tôi xuống đất. Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không đầu hàng”.
Chúng tôi lần lượt đọc xong lời thề rồi bắt tay nhau, sau đó thì cầm cái mũ ném xuống đất. Chúng tôi đã tổ chức buổi lễ ăn thề đó tại vườn Nhà thờ trước ngày ra đi. Tôi đọc thuộc lòng những lời thề, còn thằng Petya phải cầm giấy đọc. Sau đó nó lấy kim băng đâm vào ngón tay rồi lấy máu viết lên giấy hai chữ “PS.” tức là Pyotr[1] Skovorodnikov. Còn tôi phải khó nhọc lắm mới bôi lem nhem được hai chữ “AG.” tức là Aleksandr Grigoriev.
Thứ hai là đến mười giờ tối tôi phải đi nằm và giả vờ ngủ. Thực ra thì chẳng ai chú ý gì cái việc tôi ngủ thật hay ngủ vờ. Đến ba giờ sáng thằng Petya phải đến chỗ cửa sổ huýt ba tiếng sáo. Đó là mật hiệu quy định mọi việc đều ổn, đường đi không trở ngại gì, có thể trốn đi được.
Cái trò ấy thật ra nguy hiểm hơn là trốn đi ban ngày, bởi vì ban ngày mọi việc mới thật yên ổn, đường đi mới thật dễ dàng và chẳng ai phát hiện ra là chúng tôi đi trốn cả. Đi ban đêm chúng tôi rất có thể bị đội tuần tra bắt giữ vì thành phố đang có lệnh giới nghiêm và ban đêm suốt dọc bờ sông người ta thả chó ra. Nhưng thằng Petya đã ra lệnh như vậy và tôi phải tuân theo. Cái đêm ấy đã đến. Đó là đêm cuối cùng tôi được ở trong ngôi nhà thân yêu của mình.
Dì Dasha ngồi cạnh bàn vá cho tôi chiếc áo sơ-mi. Tuy trại mồ côi cũng có phát quần áo, nhưng cứ mang thêm đi một cái để đề phòng. Trước mặt dì có một ngọn đèn dầu, bên trên che chiếc chao đèn màu xanh lam, đó là tặng phẩm của dì Dasha tặng trước khi mẹ tôi đi lấy chồng. Giờ đây ngay đến cả cái chao đèn này cũng lộ rõ cái vẻ bất an, hình như nó cũng cảm thấy khó chịu trong căn nhà trống trải của chúng tôi. Phía góc nhà tối om. Cái siêu nước treo trên bếp lò, thế nhưng cái bóng in lên tường lại không giống cái siêu mà lại giống như một cái mũ khổng lồ đặt ngược của ai đó. Một luồng không khí mát lạnh lọt qua kẽ hở dưới cửa sổ vào trong nhà thoảng mùi nước sông. Dì Dasha vừa khâu vừa nói chuyện. Dì thò tay lên bàn lấy một vật gì và cái vòng ánh sáng trên trần nhà bắt đầu lay động. Mười giờ đêm. Tôi giả vờ ngủ.
- Sanya! Mọi việc cháu phải nghe lời anh nhé, – dì Dasha nói với em gái tôi. – Cháu là con gái thì phải dựa vào anh. Từ xưa đến nay phụ nữ đều dựa vào sức mạnh của đàn ông. Anh cháu không bao giờ để cháu bị bắt nạt đâu.
Tôi rất đau lòng, song tôi cố gắng không nghĩ đến Sanya nữa. Tôi nghĩ đến khi chúng tôi tới Moskva! Chú thằng Petya ra đón chúng tôi ở ga. Trông chú rất giống ông Skovorodnikov nhưng trẻ hơn và vui tính hơn. Chiếc đầu tàu đỗ trên một đoạn đường rất xa. Một người đen thui thủi đang xúc than đổ vào lò, những chấm lửa phụt lên qua ống khói rồi tắt ngấm. Chúng tôi chạy vùn vụt lên phía trước, cây cối lấp loáng bên cạnh, những sợi dây điện thoại nhấp nhô. Giờ đây tôi và Petya lại đang xúc than đổ vào lò, nóng bừng bừng, khoái vô cùng, ngó ra ngoài thì gió thổi vù bên tai.
- Còn cháu, Sanya ạ, – dì Dasha bảo tôi và tôi nhìn thấy nước mắt dì chảy sau mắt kính và rơi xuống chiếc áo sơ-mi của tôi, – phải trông nom em đấy nhé. Các cháu sẽ ở các đội khác nhau nhưng dì sẽ đề nghị người ta cho cháu mỗi ngày đến thăm em một lần.
- Thôi được rồi, dì Dasha ạ.
- Trời, lạy Chúa tôi, nếu như chị Aksinya còn sống…
Dì vặn bấc đèn, xâu chỉ vào kim rồi thở dài và lại khâu.
Mười giờ ba mươi phút. Tôi vẫn chưa ngủ, tôi giả vờ đang ngủ. Tôi thấy những hàng cây đầy hoa trắng và dưới bóng cây, bên dưới những cành hoa ấy là những tấm thảm màu lam, màu xanh và màu da trời. Chúng tôi đã đến Turkestan. Những cây cam mọc ngay ngoài đường phố. Chúng tôi thò tay hái quả, lúc đầu rụt rè, sau cứ mạnh dạn dần. Không còn chỗ nào mà nhét được nữa. Thằng Petya lôi cái quần dự trữ ở trong ba-lô ra. Nó buộc túm hai ống quần lại rồi vứt cam vào ống quần. Một cụ già râu dài dẫn chúng tôi đến một ngôi nhà trắng nhỏ. Vũ khí treo đầy tường: nào dao găm, nào súng ngắn năm nòng, nào những thanh kiếm mạ bạc. “Tốt không?” Ông cụ hỏi chúng tôi rồi đề nghị mỗi đứa chúng tôi chọn một con dao găm, một khẩu súng ngắn và một thanh kiếm.
- Họ sẽ dạy các cháu học đọc, học viết, – tôi đang mơ màng thì nghe thấy tiếng dì Dasha nói, tôi nghĩ: Tại sao dì Dasha có thể ở đây được? – Chưa biết chừng rồi cháu sẽ làm nên nghiệp lớn. Lúc ấy cháu sẽ phải cám ơn dì.
Tôi không ngủ. Tôi chỉ giả vờ ngủ. Mười một giờ rưỡi, rồi mười hai giờ. Dì Dasha đứng dậy. Đây là lần cuối cùng, lần chót cùng tôi được nhìn nét mặt hiền từ của dì sáng ánh đèn chiếu từ dưới lên. Dì lấy tay che cái chao đèn rồi thổi tắt đèn và trong nhà tối sầm lại. Trong bóng tối dày đặc, dì làm dấu thánh cầu nguyện cho chúng tôi rồi nằm xuống. Đêm nay dì Dasha ngủ ở nhà chúng tôi.
Chỉ lúc nào không buồn ngủ thì mới giả vờ ngủ được. Tôi cố mở mắt ra. Mấy giờ rồi nhỉ? Còn lâu mới đến ba giờ. Từ dưới sông vẳng lên tiếng hát say lè nhè, sỏi đá dưới sông không ngừng xô lên bờ. Vẫn chưa hề nghe thấy ám hiệu gì cả, mà chỉ có tiếng tích tắc đều đều của cái đồng hồ quả lắc cùng tiếng thở dài và tiếng trằn trọc giở mình của dì Dasha.
Tôi ngồi dậy để khỏi ngủ đi mất, đầu gục xuống gối chân. Tôi giả vờ ngủ nhưng khi nghe thấy tiếng huýt sáo thì tôi không tài nào tỉnh dậy được nữa.
Về sau thằng Petya bảo tôi rằng nó đã phải huýt sáo đến khàn đặc cổ như giọng người hát rong thì tôi mới nghe thấy. Nhưng trong lúc tôi đi giày, mặc áo bành-tô và nhét những chiếc bánh vào túi, nó vẫn cứ huýt sáo liên hồi. Nó rất cáu kỉnh, tự nhiên bắt tôi phải dựng cổ áo bành-tô lên, thế là chúng tôi đi trốn.
Mọi việc trôi qua đều rất tuyệt, chẳng ai quấy rầy chúng tôi cả. Chúng tôi chẳng gặp chó mà cũng chẳng gặp người. Có điều là để đề phòng sự bất trắc xảy ra, chúng tôi đã phải đi vòng dọc theo tường thành xa thêm mất ba véc-xtơ[2]. Trên đường đi tôi hỏi dò thằng Petya xem nó có biết chắc rằng hiện nay tất cả các tuyến đường sắt đều cho đi tàu không mất tiền hay không. Nó trả lời là nó nắm rất vững, vạn nhất không được thì chúng tôi sẽ trốn ở dưới gầm ghế cho đến tận Moskva. Ngồi hai đêm là đã đến Moskva, tàu tốc hành bắt đầu chạy từ đây lúc năm giờ bốn mươi phút.
Chúng tôi đi vòng qua trạm gác, đến cách ga chừng nửa véc-xtơ thì nhảy qua hàng rào, nhưng chẳng có chuyến tàu nào vào lúc năm giờ bốn mươi phút cả. Những thanh ray đen ướt đẫm ánh lên ảm đạm. Ánh đèn vàng nhạt trên cột bẻ ghi cũng le lói buồn bã. Làm sao bây giờ? Chờ ở ga này cho đến sáng? Không được. Các đội tuần tra sẽ tóm cổ. Trở về nhà ư?
Giữa lúc đó một bác công nhân nối toa tàu râu ria xồm xoàm, khắp người đầy dầu mỡ, chui từ dưới gầm một đoàn tàu chở hàng ra đi trên những thanh tà vẹt về phía chúng tôi.
- Chào bác, – thằng Petya mạnh dạn hỏi, – đi về Moskva phía nào hả bác, bên phải hay bên trái?
Người công nhân nối toa xe nhìn nó từ đầu đến chân rồi quay sang nhìn tôi. Tôi sợ lạnh toát người, nghĩ bụng: “Thật xúi quẩy, bây giờ ông ấy sẽ đưa chúng mình đến sở chỉ huy mất”.
- Các ông nhóc ơi, từ đây đến Moskva năm trăm véc-xtơ.
- Bác ơi, bác chỉ cần cho biết đi về phía bên phải hay bên trái?
Người công nhân nối toa xe cười, nói:
- Bên trái.
- Xin cám ơn bác. Sanka, đi về phía bên trái!
❀ ❀ ❀
[1] Ở Nga, một tên có rất nhiều cách gọi tùy theo quan hệ và tình cảm người nói. Ví dụ: Pyotr – Petya – Petka – Petenka – Petrusha, vân vân. Hoặc như: Aleksandr – Sasha – Sanya – Shura – Sashenka – Shurochka – Shurik – Sanka – Aleksasha vân vân. – N.D.
[2] Mỗi véc-xtơ dài bằng 1,067 km. – N.D.