Một tuần lễ ở Ensk trôi qua chẳng lấy gì làm thú vị lắm, thậm chí còn rất buồn nữa là khác. Nhưng tuần lễ đó đã để lại trong suốt đời tôi biết bao nhiêu ký ức kỳ diệu!
Hàng ngày tôi cùng Katya đi dạo, tôi đã chỉ cho cô xem những nơi mà xưa kia tôi hằng yêu thích và kể cho cô nghe về những ngày thơ ấu của tôi. Còn nhớ tôi đã đọc được ở một cuốn sách nào đó nói rằng những nhà khảo cổ học có thể khôi phục được lịch sử và phong tục tập quán của cả một dân tộc qua một tấm bia còn giữ lại được. Tôi cũng vậy – từ một ngóc ngách nào đó còn lại của thành phố Ensk cũ, tôi có thể hồi tưởng lại và kể cho Katya nghe về cuộc sống trước đây của chúng tôi.
Nhưng giờ đây chính bản thân tôi cũng phải đánh giá lại cái thành phố xinh đẹp này. Hồi còn nhỏ tôi không nhận thấy tất cả vẻ đẹp của những vườn trên đồi, của những con đường dốc, của hai bờ sông cao ngất bắt đầu tách ra từ chỗ “Lan can sắt” (hiện nay người ta vẫn dùng danh từ này để gọi chỗ hai con sông Peschinka và Tikhaya gặp nhau)…
Chỉ có một ngày tôi không gặp Katya. Hôm đó tôi đi đến nghĩa địa. Không hiểu tại sao tôi cảm thấy sau những năm qua ngôi mộ của mẹ tôi không còn vết tích gì nữa. Nhưng cuối cùng tôi cũng tìm thấy. Xung quanh mộ có những cành cây cắm thành hàng rào và trên cây chữ thập đã đổ nghiêng vẫn có thể đọc được hàng chữ “Cầu Chúa đừng quên linh hồn kẻ nô lệ của Người”. Bấy giờ là mùa đông, tất nhiên tất cả các ngôi mộ khác cũng bị tuyết phủ kín như nhau, nhưng dù sao cũng vẫn có thể thấy ngôi mộ này hoang vu, không người chăm sóc.
Tôi đâm buồn, thơ thẩn mãi trên con đường nhỏ và hồi tưởng lại về mẹ tôi. Giờ đây không biết mẹ tôi đã bao nhiêu tuổi? Bốn mươi. Mẹ tôi còn trẻ lắm. Lẽ ra giờ đây mẹ tôi cũng có thể sống hạnh phúc như dì Dasha, nghĩ đến đó lòng tôi đau thắt lại. Tôi nhớ lại đôi mắt mệt mỏi đờ đẫn của Người, nhớ lại hai bàn tay nứt nẻ vì đi giặt thuê, nhớ lại cái cảnh mẹ tôi mệt mỏi quá ngồi ăn cơm chiều mà không ăn được, mệt chẳng khác gì chết… Kể ra mẹ tôi rất thông minh! Chính cái tên khốn kiếp Gaer Kuly đã làm cho mẹ tôi mê hoặc và đã giết chết mẹ tôi!
Tôi quay lại chỗ phần mộ dường như để xin lỗi mẹ. Sau đó tôi đi tìm người canh nghĩa địa. Ông ta đang bổ củi ầm ầm ở trong cái nhà cạnh xiêu vẹo. Tôi nói với ông:
- Bác ơi, ở đây có ngôi mộ của bà Aksinya Grigorieva. Ngôi mộ ấy ở trên con đường nhỏ này, ngôi mộ thứ hai ở chỗ rẽ kia.
Ông ta làm ra vẻ như đã biết rõ ngôi mộ tôi nói là ngôi mộ nào.
- Bác có thể đắp lại giúp được không? Tôi xin trả tiền.
Người canh mộ đi đến con đường nhỏ xem rồi quay lại. Ông ta nói:
- Ngôi mộ này có người trông nom đấy. Hiện nay là mùa đông nên nhìn không thấy. Những ngôi mộ khác mới không có người trông nom cho nên nếu cây chữ thập không bị nhổ thì cũng hỏng cái nọ, cái kia. Còn ngôi mộ này thì có người chăm sóc.
Tôi đưa cho ông ta ba rúp rồi đi ra.
Trên đường về nhà, tôi nghĩ đến Gaer Kuly, đến mẹ tôi. Không hiểu sao mẹ tôi lại có thể yêu một con người như thế? Bất giác tôi lại nghĩ đến bà Maria Vasilievna và tôi quả quyết rằng cả đời tôi sẽ không bao giờ hiểu được tâm lý phụ nữ…
Ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau, nhưng mãi cho đến khi trước hôm ra đi tôi mới có dịp hỏi Katya về mấy bà già trong gia đình Bubenchikov: có phải họ bị đuổi ra khỏi đạo không? Katya hết sức ngạc nhiên. Cô nói:
- Thật à? Mình cũng không biết. Nhưng rất có thể như thế, bởi vì các bà ấy đều là những người vô thần và theo chủ nghĩa hư vô. Cậu đã đọc “Cha và con” chưa?
- Đọc rồi.
- Thế cậu có nhớ trong đó có một anh hư vô chủ nghĩa Bazarov không?
- Nhớ.
- Đấy, các bà ấy cũng là những người hư vô chủ nghĩa như hắn đấy.
- Thôi được, thôi đủ rồi! Thế chuyện đó xảy ra vào hồi nào?
- Có gì đâu! Các bà ấy già cả rồi. Còn con dê thì cáu kỉnh. Họ uống sữa dê, họ cũng khuyên mình uống nhưng mình đã từ chối. Khi con dê đã cáu kỉnh thì sữa của nó cũng không tốt.
- Cậu chỉ lừa mình thôi, – tôi trầm ngâm một lát rồi nói.
- Không, mình nói thật đấy, – Katya vội chống chế.
Một con dê cáu kỉnh, ba người hư vô chủ nghĩa chăm sóc nó. Có trời biết chuyện oái oăm đó! Dù sao cũng là chuyện vớ vẩn.
Và thế là ngày cuối cùng chia tay đã đến! Từ sáu giờ sáng dì Dasha đã rán bánh ngọt. Tôi vừa tỉnh dậy đã ngửi thấy mùi nghệ tây thơm nức và mùi bột nhào vừa thơm vừa ngọt lự. Sau đó dì đi vào nhà ăn nơi tôi đang ngủ, trông dì rất buồn, mắt đeo kính, người dính đầy bột, tay cầm góc lá thư Petya gửi về.
- Phải gọi Sanya dậy thôi, – dì nghiêm nghị nói. – Có thư của Petya đây này.
Đúng là thư của Petya thật và cũng đúng như ông chánh án nói, thư ngắn nhưng rất “đâu vào đấy”. Trước hết nó giải thích tại sao lại không về nhà nghỉ đông, là bởi vì nó đi Leningrad tham quan. Thứ hai, nó rất ngạc nhiên về sự có mặt của tôi ở Ensk và do đó nó xin tỏ nỗi vui mừng thành thật. Thứ ba, nó mắng tôi một trận nên thân về tội đã không viết thư lại không đi tìm nó, tóm lại “tôi đã hành động như một kẻ vô tình”. Thứ tư, trong phong bì lại còn một bức thư nữa gửi cho Sanya làm cho cô ta cười ngượng nghịu và nói: “Thật là anh chàng ngốc, viết chung vào một thể không được hay sao”. Nhưng rõ ràng là nó không thể gộp hai thư vào làm một được bởi vì Sanya cầm lấy thư rồi chạy biến vào buồng mình đọc suốt ba tiếng đồng hồ, mãi cho đến khi tôi vào buồng, cô mới thôi. Tôi bảo Sanya phải xuống ngay bếp ngăn dì Dasha lại, vì dì đang định làm cho tôi cái bánh rán dài rộng hàng thước để mang đi ăn đường.
Có lẽ ở trong ngôi nhà số Tám ngõ Laputin cũng xảy ra cái cảnh tượng như thế, bởi vì Katya cũng không thể ra khỏi nhà vào ngày hôm đó được. Cứ như Katya sắp đi Bắc cực không bằng, không những người ta nấu cho cô bao nhiêu thức ăn, mà người ta còn trang bị cho cô rất nhiều quần áo: nào quần áo cưới kiểu cũ chưa dùng đến của ba vị hư vô chủ nghĩa, nào đăng-ten Thổ Nhĩ Kỳ, nào áo khoác len vai bồng, nào áo váy có lót nặng trình trịch.
Tuyệt nhất là chuyện Sanya rẽ vào nhà Bubenchikov một tí, lúc về bị lỡ bữa cơm trưa. Cô về có vẻ lúng túng và nói rằng ở đó rất thú vị. Cả ba bà già cùng ra sức may, may được một chiếc áo váy rất đẹp. Katya mặc rất vừa, còn cô mặc trông chả ra cái gì cả. Nhưng cái mũ thì cô đội rất hợp cho nên nhất định cô sẽ phải may một chiếc như thế.
- Tóm lại là cái gì chúng em cũng đều đã thử cả, – Sanya nói và bật cười. – Thậm chí đến chóng cả mặt.
Ông chánh án đi làm về ngồi ăn với tôi bữa cơm cuối cùng. Ông mang về một chai rượu nho, chúng tôi uống hết sạch, sau đó ông nói chuyện. Đó là một bài nói chuyện rất hay, so với bài nói chuyện trước đây trong bữa tiệc tiễn Gaer Kuly tham gia tiểu đoàn cảm tử thì hay hơn nhiều, ông ví tôi và Petya như những con chim ưng và tỏ hy vọng rằng chúng tôi nên luôn luôn trở về tổ cũ. Ông cũng rất muốn khoe khoang một chút vì mình đã đào tạo được những đứa trẻ như vậy, nhưng không thể nói thế được bởi vì chính đất nước đã đào tạo chúng tôi nên người, không để cho chúng tôi bị sa đọa. Ông nói như vậy. Dì Dasha nghe nói đến đây cảm động quá đến rơi lệ, hình như dì muốn nhắc lại chuyện cũ rằng dì vui lòng gánh vác trách nhiệm giáo dục chúng tôi, chứ không muốn ỷ lại vào sự giúp đỡ của người khác… Tôi đứng lên đáp lời ông chánh án. Tôi không nhớ là tôi đã nói những gì, nhưng cũng rất hay. Đại thể là tôi nói hiện nay chúng tôi cũng chưa làm được cái gì đáng để khoe khoang.
Bữa cơm hôm đó kéo rất dài, tí nữa thì chúng tôi bị nhỡ tàu. Chúng tôi thuê xe ngựa đi ra ga. Lần đầu tiên trong đời, tôi được đi một chuyến sang trọng như vậy: được ngồi xe ngựa, dưới chân lại có cái làn. Nếu ngày hôm đó dì Dasha không nhét bánh rán vào làn ngay trước mặt tôi thì tôi dám nói rằng bản thân tôi cũng không biết cái làn này ở đâu ra.
Khi chúng tôi ra đến ga thì Katya đã đứng trên bậc toa tàu và các bà cụ nhà Bubenchikov tranh nhau dặn dò cô ta: nào là đừng có bị cảm ở dọc đường, nào là đừng có để đồ đạc bị mất cắp, nào là đến các ga đừng có xuống tàu đi lại lang thang, nào là về đến nhà thì phải đánh điện ngay, nào là cho họ gửi lời hỏi thăm và phải viết thư luôn…
Tôi không biết các bà này có là những người theo chủ nghĩa hư vô hay không. Theo tôi, họ chẳng qua chỉ là mấy bà lão mặc áo khoác da chật lại có dây buộc, ở tay có bao tay vừa to vừa buồn cười, thế thôi.
Chỗ ngồi của tôi lại ở một toa khác, vì thế chúng tôi chỉ có thể chào Katya và các bà cụ Bubenchikov từ đằng xa. Katya vẫy chúng tôi, còn các bà cụ thì chỉ gật đầu, có vẻ kiểu cách.
Đã rung chuông lần thứ hai! Tôi ôm hôn em Sanya và dì Dasha. Ông chánh án đề nghị tôi đến thăm Petya và tôi đã hứa là sẽ đến chỗ Petya ngay ngày đầu tiên sau khi tới nơi. Tôi có mời Sanya lên Moskva chơi, cô ta hứa là đến kỳ nghỉ mùa xuân sẽ lên – thì ra cô ta đã hẹn hò trước với Petya rồi.
Hồi chuông thứ ba! Tôi lên tàu. Sanya viết mấy chữ gì đó trong không khí, tôi viết trả lời loằng ngoằng chữ “Được rồi!”. Dì Dasha bắt đầu khóc thút thít và cuối cùng tôi nhìn thấy Sanya rút khăn mùi xoa ở trong tay dì ra, cười, lau nước mắt cho dì… Tàu từ từ chuyển bánh. Ga Ensk thân yêu lùi dần về phía sau. Tàu chạy mỗi lúc một nhanh! Mấy cụ già theo chủ nghĩa hư vô lướt qua bên người tôi! Một phút sau, sân ga mất hút. Xin tạm biệt nhé, Ensk!
Khi đoàn tàu tiến ga thứ hai thì tôi đổi chỗ cho một ông già đáng kính. Ông ta đến chỗ ghế tầng dưới của tôi, còn tôi thì chuyển sang toa có Katya ngồi. Thứ nhất là ở đây sáng sủa hơn và thứ hai là ở đây có Katya.
Cô ở đây đã sắp xếp xong đâu đấy cả rồi: trên mặt chiếc bàn con có trải khăn bàn sạch sẽ, cửa sổ có rèm, cứ như cô ta sống ở cái toa này hàng trăm năm không bằng.
Cả hai chúng tôi đều vừa mới ăn xong, nhưng cũng muốn xem các cụ ấy nhét vào làn của chúng tôi những thứ gì.
Nói chung thì trong làn của Katya phong phú hơn làn của tôi nhiều. Trong đó có táo – thứ táo mùa đông tuyệt vời của vườn nhà! Chúng tôi mỗi đứa ăn một quả và mời ông bạn đồng hành, người nhỏ nhắn, râu không cạo, nước da tai tái và đeo kính xơi một quả. Anh ta cứ phỏng đoán mãi mối quan hệ giữa chúng tôi: anh em ư – không phải! Hay là vợ chồng – hơi sớm!
Đã hơn hai giờ, anh bạn không cạo râu ngủ ngáy suốt đêm, tay nắm chặt để dưới mũi. Tôi và Katya vẫn còn đứng nói chuyện ở ngoài hành lang. Chúng tôi lấy ngón tay viết lên mặt kính bị đóng băng – chữ đầu tiên là chữ đầu của họ, sau đó là những cái đầu.
- Y như trong cuốn “Anna Karenina” đã tả ấy.
Nhưng theo tôi thì ở đây chẳng có chút nào giống trong “Anna Karenina”, và nói chung thì cũng chẳng giống cái gì cả.
Katya đứng sát bên tôi và hình như cô đã trở thành một con người mới. Cô rẽ đầu ngôi giữa y như người lớn và dưới mái tóc đen đáng yêu ấy lộ ra hai cái tai “mới”. Khi cô cười thì những hàm răng cũng mới. Từ ngày tôi và cô quen biết nhau, chưa bao giờ thấy cô thoải mái và quay đầu kiêu hãnh như hôm nay, đúng là một cô gái đẹp thật sự. Cô đã trở thành một con người mới, một con người khác hẳn. Tôi cảm thấy tôi đang yêu cô say đắm, yêu hơn tất cả mọi thứ trên đời!
Bỗng những cột dây điện nhấp nhô bên ngoài cửa sổ hiện rõ và những cánh đồng đen kịt phủ đầy tuyết cũng dần dần hiện ra. Tôi không biết là tàu chạy theo tốc độ nào, có lẽ cũng không ngoài bốn mươi cây số một giờ, nhưng tôi cảm thấy chúng tôi đang lao rất nhanh như trong một truyện thần thoại nào đó, tất cả còn đang ở phía trước! Tôi không biết cái gì đang chờ tôi trong tương lai. Nhưng tôi biết chắc chắn một điều, mối tình của chúng tôi là vĩnh viễn. Katya sẽ mãi mãi là của tôi và tôi sẽ là của Katya suốt đời!