Khi tôi bước vào, thầy Ivan Pavlych đang ngồi xổm nhóm lò. Một bức tranh quen thuộc quá – thầy Ivan Pavlych mặc bộ quân phục cũ đã xù lông đang ngồi nhóm lò. Thậm chí tôi còn cảm thấy hình như không có những năm qua, hình như tôi vẫn là một cậu học trò nhỏ và như ông ấy lại sắp “nổi trận lôi đình” như hồi học lớp chín, tôi đi về Ensk để tìm Katya vậy. Nhưng ông đã quay lại. “Ông ấy già đi nhiều quá”, – tôi nghĩ và trong nháy mắt mọi việc lại đâu trở về đấy.
- Cũng đến đấy à! – Thầy Korablyov bực bội nói. – Tại sao anh không rẽ vào nhà tôi chơi?
- Xin cám ơn thầy Ivan Pavlych!
- Anh chẳng đã viết thư là sẽ rẽ vào nhà tôi đó sao?
- Tôi sợ gây thêm phiền phức cho thầy.
Ông nhìn tôi, thậm chí còn nhắm một mắt lại để quan sát tôi cho thật tỉ mỉ. Đó là con mắt của người chủ – như đang nhìn công việc của mình. Có lẽ dầu sao cũng thú vị bởi vì ông đã chải ria một cách phấn khởi và mời tôi ngồi xuống.
- Hôm qua tôi chưa nhìn anh được kỹ, – ông nói, – không có thì giờ.
Ông bày bàn ăn, ông lấy ở tủ trong tường ra một chai rượu, cắt bánh mì, rồi lấy thịt bò ướp lạnh ngoài cửa sổ vào và cũng thái ra. Ông vẫn sống độc thân như cũ, nhưng trong căn phòng cũ trước kia rất ẩm thấp, nay đã đủ tiện nghi hơn và hình như không ẩm thấp như trước nữa. Điều làm cho tôi không phấn khởi là trong khi tôi còn đang nói chuyện thì ông đã uống hết chai rượu rồi mà chẳng ăn tí gì cả. Việc đó làm cho tôi hơi buồn…
Tôi nói hiện nay tôi chỉ có thể kể lại cho ông nghe những chuyện quan trọng nhất. Nhưng trải qua bao nhiêu năm trời, nay được gặp lại người thân, liệu anh có nhớ được cái gì là cái chủ yếu nhất hay không? Thầy Ivan Pavlych hỏi tôi về miền Bắc, về việc lái máy bay và rất không hài lòng về việc tôi trả lời vắn tắt quá.
- Thưa thầy Ivan Pavlych, tôi kể gì về chuyện này được? Chính vì tôi bay còn ít quá. À, có một lần tí nữa thì tôi chết cóng! Thầy có nhớ ông bác sĩ đã chữa cho tôi khi tôi trốn trường đi không? Hồi đó thầy cũng đến nhà thương thăm tôi ấy mà.
- Có nhớ.
- Ông ấy cũng đang sống ở Zapolyarye. Tôi tìm thấy ông ấy, và đây là ngôi nhà duy nhất tôi thường đến. Thưa thầy Ivan Pavlych, tôi cảm thấy hình như suốt đời tôi toàn sống dựa vào gia đình người khác. Hồi còn nhỏ, tôi sống trong gia đình Skovorodnikov, – thầy có nhớ không, tôi đã kể thầy nghe rồi. Sau đó đến gia đình Tatarinov. Và bây giờ thì gia đình bác sĩ.
- Chú em ạ, cũng đã đến lúc lập gia đình được rồi đấy, – thầy Korablyov nói rất nghiêm.
- Thưa thầy không ạ!
- Sao lại thế?
- Về vấn đề này tôi không gặp thuận lợi.
Thầy Korablyov im lặng. Ông rót rượu cho mình, chúng tôi nâng cốc, uống một hơi cạn. Ông lại rót rượu. Sau đó ông cởi áo quân phục ra – chuẩn bị một cuộc nói chuyện dài.
- Sanya, anh hãy nghe tôi, anh có nhớ anh đã nói gì với tôi khi anh đi khỏi Moskva không? Anh nói rằng: “Bây giờ dù có chết cũng phải chứng minh rằng tôi đúng”. Vậy thế nào? Đã chứng minh được chưa?
Đó là một câu hỏi thật bất ngờ nên tôi không trả lời được ngay. Tất nhiên tôi nhớ cuộc nói chuyện của chúng tôi. Tôi còn nhớ, thầy Korablyov hét lên: “Anh làm gì thế, Sanya! Trời ơi, anh làm gì thế!”. Ông đã vừa khóc vừa nói rằng mọi cái đều do lỗi lầm của tôi, bởi vì tôi đã khẳng định rằng trong thư thuyền trưởng nói về Nikolai Antonych, nhưng thực ra là nói về cái lão von Vyshimirsky nào đó.
Nếu ở địa vị thầy Korablyov thì tôi đã chẳng nhắc đến cuộc nói chuyện này làm gì! Nhưng xem chừng ông ấy lại rất muốn tôi nhớ lại được cuộc nói chuyện ấy. Ông nghiêm khắc nhìn tôi và hình như ông đã thầm hài lòng về điều gì đó.
- Tôi không biết có ai cần tôi phải chứng thực điều gì không, – tôi buồn rầu bác lại. – Tôi không thấy có người nào cần tôi làm như vậy.
- Sanya, như vậy là anh sai rồi, – thầy Korablyov nói. – Việc đó rất cần – cả anh, cả tôi và còn cả một người khác nữa. Huống hồ anh rõ ràng là đúng.
Tôi trợn tròn mắt nhìn ông. Cuộc nói chuyện của chúng tôi đã qua năm năm rồi. Giờ đây tôi biết về đội thám hiểm của thuyền trưởng Tatarinov nhiều hơn tất cả mọi người trên trái đất. Tôi đã tìm được quyển nhật ký của người hoa tiêu và đã đọc được quyển nhật ký ấy – đó là một công việc khó khăn trong đời tôi. Tôi lại may mắn được gặp cụ Nenets già, một người cuối cùng đã chính mắt nhìn thấy chiếc xe trượt tuyết của đội thám hiểm. Cái xác chết ở trên chiếc xe trượt tuyết này rất có thể chính là thuyền trưởng. Nhưng tôi đã không tìm được bằng chứng gì để chứng minh rằng trong vấn đề này tôi đã đúng.
Nhưng hiện nay khi tôi trở về Moskva rẽ vào thăm người thầy giáo cũ mà tôi cho rằng thầy đã quên câu chuyện này từ lâu, thì thầy lại nói với tôi: “Quả thật là anh đã đúng!”
- Thưa thầy Ivan Pavlych, – tôi bắt đầu nói giọng không được cương quyết lắm, – thầy cũng chẳng cần phải xác nhận những cái đó, nếu thầy không…
Tôi muốn nói: “Không còn những bằng chứng xác đáng”, nhưng ông đã ngăn lời tôi lại. Hình như có ai bấm chuông điện. Thầy Korablyov lo lắng cắn môi, nhìn bốn phía rồi nắm vai tôi nói:
- Thế này nhé, Sanya… Bây giờ tôi phải nói chuyện với một người. Anh hãy cứ ngồi ở đây nhé.
Ông dẫn tôi sang buồng bên cạnh. Căn buồng này trông giống như một cái tủ lớn nhét đầy sách. Ngoài cửa có treo một bức rèm màu xanh thủng lỗ chỗ.
- Lắng nghe nhé – việc đó có lợi cho anh ấy.
Tôi còn quên chưa nói, buổi tối nay, ngay từ đầu thầy Ivan Pavlych đã làm cho tôi cảm thấy là lạ. Mấy lần ông khe khẽ huýt sáo. Hai tay ôm đầu, ông đi đi lại lại. Cuối cùng ông nhai cả cuống quả lê ông dùng làm tăm xỉa răng. Giờ đây, ông đặt tôi ngồi vào “tủ” rồi vội vàng dọn những cái chai rượu vốt-ca trên mặt bàn, sau đó lấy cái gì ở trong ngăn bàn giấy ra ăn một tí rồi lại há mồm ra thở. Sau đó mới đi ra mở cửa.
Các bạn thử nghĩ xem, ông ấy đã đi cùng ai vào phòng treo mũ áo? Cùng cụ Nina Kapitonovna! Đó chính là cụ Nina Kapitonovna lưng còng, càng gầy hơn, có nhiều vết nhăn của người già chung quanh mắt hơn, vẫn còn mặc chiếc áo nhung không có tay cụ thường mặc.
Cụ nói gì đó nhưng tôi không nghe thấy, tôi chỉ chú ý xem thầy Ivan Pavlych ân cần mời khách như thế nào. Ông đang định rót nước trà mời cụ, nhưng cụ ngăn lại nói:
- Tôi không uống. Tôi vừa mới uống rồi. Nào, tình hình ra sao?
- Dạ, cũng không được khỏe lắm, cụ Nina Kapitonovna ạ, – thầy Korablyov nói. – Đau lưng lắm.
- Thật thế sao? Già rồi à! Lại nghĩ ngợi lắm chứ gì! Đau lưng cứ xoa ít Bombange là khỏi ngay thôi.
- Thế nào? Cụ bảo sao? Bombange?
- Phải, Bombange, đó là một loại dầu xoa. Thế ông có uống rượu vốt-ca không?
- Thật thà mà nói, tôi không uống, cụ Nina Kapitonovna ạ. Tôi hoàn toàn cai rượu rồi. Thỉnh thoảng làm một cốc con trước khi ăn trưa thôi. Nhưng bác sĩ cũng khuyên như thế cơ mà.
- Không đúng, ông vẫn còn uống. Hồi tôi còn trẻ tôi sống ở nông thôn. Bố tôi là một người Kozak. Nhiều khi ở ngoài về, chân đứng không vững mà còn nói: “Không sao, chính trước mỗi bữa ăn trưa uống một cốc rượu con mới chết”.
Thầy Korablyov cười. Cụ Nina Kapitonovna nhìn và cũng cười theo.
Sau đó cụ kể chuyện một bá tước phu nhân nào đó nghiện rượu, bà ta “sáng dậy vừa bảnh mắt ra đã uống một cốc rượu vốt-ca! Sau đó mới ra khỏi phòng. Bà ta chẳng quàng khăn, mặt bủng da chì. Đi dạo chán rồi quay về lại uống. Buổi sáng bà ta còn bình thường, đến bữa ăn trưa là bà ta đi không vững nữa. Còn buổi tối thì khách đầy nhà. Bà ta mặc rất đẹp, ngồi trước đàn dương cầm và hát. Bà ta là người tốt bụng. Ai có việc gì cũng đến tìm bà. Động một tí là đến nhà bà bá tước đi! Thật là một con người đẹp! Chỉ phải cái nghiện rượu!”
Hình như thầy Korablyov không thích ví dụ này lắm, vì thế nên ông cố lái câu chuyện sang đề tài khác. Ông hỏi Katya có khỏe không.
Cụ Nina Kapitonovna khẽ phủi tay.
- Tôi cãi nhau với nó suốt ngày. Nó tự ái khiếp lắm. Việc này chưa thành công đã làm sang việc khác. Vì thế mà lúc nào nó cũng vội vội vàng vàng, không bình thường.
- Không bình thường?
- Không bình thường. Và kiêu hãnh. Và cứ lầm lì suốt ngày, – cụ Nina Kapitonovna nói. – Tôi gặp những người lầm lì như thế đủ lắm rồi. Tôi rất không thích cái tính nó cứ lầm lì suốt ngày. Tôi thật không hiểu tại sao người ta lại không nói chuyện. Có gì buồn phiền, cứ nói ra. Nhưng nó – nó không nói.
- Thế cụ đã hỏi cô ấy chưa, cụ Nina Kapitonovna.
- Nó sẽ không nói. Chính tôi đây cũng là người như vậy. Không bao giờ tôi nói ra những chuyện ấy.
- Có một lần tôi gặp cô ấy, tôi cảm thấy chẳng có chuyện gì cả, – thầy Korablyov nói. – Cô ấy đi xem hát, chỉ có một mình, thật vậy, và chính vì thế mà tôi rất ngạc nhiên. Song cô ấy rất vui vẻ. Cô còn nói Trường đại học Địa chất đã trả lời sẽ cấp cho cô một phòng ở.
- Người ta đã nhận lời. Nhưng nó không dọn đến.
- Tại sao?
- Nó thương người ấy.
- Thương à? – Thầy Korablyov hỏi lại.
- Nó thương. Vì nó nhớ đến mẹ nó, mẹ nó cũng thương… Người ấy cũng vậy, không rời khỏi con bé được một bước, ông thấy đấy, hễ cứ về đến nhà là: “Katya đâu? Có gọi dây nói về không?”
Tôi hiểu ngay, “người ấy” là ai: Nikolai Antonych.
- Vì thế mà con bé không chịu dọn đi. Và hình như nó vẫn chờ một người nào đó.
Cụ Nina Kapitonovna chuyển sang ngồi trên chiếc ghế bành khác, càng gần hơn.
- Có một lần, tôi được xem thư của nó, – bà cụ thì thào và ngó nhìn xung quanh, cứ như sợ Katya có thể nom thấy cụ. – Hình như hồi con Katya về Ensk trong những ngày nghỉ, chúng nó thân nhau lắm thì phải. Anh ta có một đứa em gái. Cô này viết thư nói: “Mỗi lần anh ấy viết thư về đều yêu cầu mình báo cho anh ấy biết: “Katya ở đâu? Cô ấy thế nào? Anh có thể hy sinh tất cả, chỉ cần được nhìn thấy cô ấy”. Anh ấy không thể sống thiếu cậu được đâu, mình không hiểu cuộc cãi nhau vô cớ này của các cậu”.
- Xin lỗi, cụ Nina Kapitonovna, tôi không hiểu. Em gái ai?
- Còn của ai nữa. Chính là của cái thằng học trò của ông ấy.
Thầy Korablyov bất giác quay nhìn về phía tôi. Qua những lỗ thủng của bức rèm cửa, tôi nhìn ra vừa đúng bắt gặp cái nhìn của ông. Em gái tôi? Sanya?
- Có lẽ việc đó cũng thường xảy ra, nhưng trên thực tế là như thế này, – thầy Korablyov nói, – có lẽ không sống nổi thật. Rất đơn giản thôi.
- “Lần nào cũng yêu cầu, – cụ Nina Kapitonovna nhắc lại với điệu bộ. – Và không thể sống thiếu cậu được”. Thế đấy! Còn con bé thiếu nó mới thật là không sống nổi.
Thầy Korablyov lại nhìn về phía tôi.
Tôi cảm thấy hình như ông đang cười dưới bộ ria.
- Thì ra thế đấy. Thế cô ấy không lấy người khác được sao?
- Nó không có ý định như thế. Nó không chọn người như vậy. – Bà cụ nói là “chọn”. – Con bé không muốn lấy thằng Romashov. Tôi cũng không muốn nó lấy thằng ấy. Một ông cố đạo.
- Sao lại cố đạo?
- Nó là cố đạo. Nó là thằng da bò. Bất cứ nói cái gì nó cũng cứ phải thêm thắt vào. Tôi rất ghét cái loại người ấy. Lại còn lừa dối nữa.
- Đủ rồi đấy, cụ Nina Kapitonovna ạ. Cụ làm sao thế?
- Quân lừa đảo. Nó lấy của tôi bốn mươi rúp, nó làm như tôi phải biếu nó không bằng, nó chẳng trả tôi gì cả. Tất nhiên tôi không thèm nhắc. Cứ suốt ngày chạy ngược chạy xuôi. Lạy trời! Giá tôi không già…
Bà cụ cay đắng phủi tay.
Bây giờ các bạn thử tưởng tượng xem, sau khi nghe những câu chuyện ấy cảm giác của tôi như thế nào! Tôi nhìn bà cụ qua những lỗ thủng của bức rèm cửa. Cái lỗ thủng đó y như một cái ống kính, tất cả những gì xảy ra giữa tôi và Katya đều hiện lên trong ống kính này càng ngày càng rõ nét cứ như nằm đúng vào tiêu điểm vậy. Mọi cái của quá khứ cứ dần dần tiến gần lại và đều trở về nguyên dạng của nó. Tất cả những cái đó sao mà nhiều thế, sao mà nhiều cái tốt đẹp thế, đến nỗi tim tôi đập rất dữ và tôi hiểu rằng tôi đang xúc động. Chỉ có một điều tôi hoàn toàn không hiểu gì cả, đó là tôi không bao giờ “Lần nào cũng yêu cầu cô em gái” và không bao giờ tôi viết cho cô ấy câu “Nếu thiếu Katya thì tôi không sống nổi”.
- Sanya đã bịa ra câu này, nhất định là như vậy, – tôi tự giải thích cho mình. – Cô này vẫn đánh lừa Katya. Song, tất cả những điều đó lại là sự thật.
Cụ Nina Kapitonovna còn kể thêm được những gì đó, nhưng tôi không nghe thêm được gì nữa. Tôi quên bẵng đi mất, nên đã đi đi lại lại trong “cái tủ” của mình, cho đến khi nghe thấy tiếng ho nghiêm nghị của thầy Korablyov, tôi mới tỉnh người ra.
Tôi cứ ngồi trong “cái tủ” như vậy cho đến khi cụ Nina Kapitonovna ra về. Tôi không hiểu cụ đến để làm gì – có lẽ chỉ để cho khuây khỏa. Lúc chia tay, thầy Korablyov đã hôn tay cụ, còn cụ thì hôn lên trán ông – trước đây bao giờ họ cũng chia tay nhau như vậy.
Tôi đang mải suy nghĩ nên không nghe thấy ông đã quay về phòng treo áo lúc nào, bỗng nhiên tôi nhìn qua khe hai tấm rèm cửa thấy cái mũi và bộ ria của ông.
- Còn sống không?
- Còn sống, thầy Ivan Pavlych ạ.
- Anh muốn nói gì?
- Tôi muốn nói rằng, tôi là một thằng đại ngốc, không còn hy vọng gì nữa, – tôi trả lời, tay ôm đầu. – Tôi đã nói với cô ấy như thế nào! Ồ, tôi đã nói như thế nào với cô ấy! Tại sao tôi chẳng hiểu gì cả! Tại sao tôi chẳng nói gì với cô ấy, còn cô ấy thì vẫn cứ chờ! Cô ấy sẽ cảm thấy thế nào, thầy Ivan Pavlych! Giờ đây cô ấy sẽ nghĩ về tôi như thế nào!
- Chẳng sao cả, cô ấy sẽ nghĩ lại.
- Không, không bao giờ! Thầy có biết tôi đã nói gì với cô ấy không! “Mình sẽ mãi mãi quan tâm đến cậu về mọi mặt”.
Thầy Korablyov cười.
- Thưa thầy Ivan Pavlych!
- Anh chả đã viết, thiếu cô ấy anh không sống nổi đó sao.
- Không viết như vậy! – Tôi thất vọng bác lại. – Đó là em gái tôi bịa ra. Nhưng đó lại là sự thật! Thưa thầy Ivan Pavlych! Đó là sự thật hoàn toàn. Tôi không thể sống thiếu cô ấy, và giữa chúng tôi đã xảy ra cuộc cãi nhau vô cớ, vì tôi cho rằng đã từ lâu cô ấy không yêu tôi nữa. Nhưng bây giờ tôi phải làm gì? Phải làm gì?
- Sanya, thế này nhé, đến chín giờ tôi có một cuộc gặp mặt nữa ở một rạp hát, – thầy Korablyov nói. – Vậy anh sẽ…
- Thôi được, tôi sẽ đi ngay bây giờ. Tôi sẽ đi tìm Katya ngay bây giờ, có được không?
- Cô ấy sẽ đuổi anh ra ngay lập tức và cô ấy đuổi cũng hoàn toàn đúng.
- Thì cứ để cho cô ấy đuổi, thầy Ivan Pavlych ạ! – Tôi nói và bỗng ôm hôn ông. – Có ma quỷ biết, tôi không hiểu giờ đây tôi phải làm gì! Thầy nghĩ nên như thế nào?
- Bây giờ tôi cần thay quần áo, – thầy Korablyov nói và đi vào “cái tủ”, – còn về anh, tôi cho rằng anh phải mau mau tỉnh lại.
Tôi trông thấy ông cởi chiếc áo quân phục ra, dựng cổ áo sơ-mi lên rồi thắt cà-vạt.
- Thầy Ivan Pavlych! – Tôi bỗng gào lên. – Thầy chờ một lát! Tôi quên bẵng đi mất! Khi chúng tôi cãi nhau về vấn đề trong thư của thuyền trưởng nói về ai, thầy bảo rằng tôi nói đúng có phải không?
- Phải.
- Thưa thầy Ivan Pavlych!
Thầy Korablyov tóc chải mượt, đi từ “trong tủ” ra. Ông mặc bộ com-lê mới màu tro, trông điệu bộ rất trẻ trung, rất oai nghiêm.
- Bây giờ chúng ta cùng đi đến rạp hát, – ông nói nghiêm trang, – rồi anh sẽ hiểu tất cả. Anh sẽ có nhiệm vụ như thế này: ngồi chờ và im lặng. Chịu khó nghe. Có hiểu không?
- Tôi chẳng hiểu gì cả. Thôi đi đi.